một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện sa pa, tỉnh lào cai - Pdf 25

i
LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp viết về đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” do tôi thực hiện
dƣới sự hƣớng dẫn của Thạc sỹ Nguyễn Quỳnh Hoa. Tôi xin cam đoan bài
nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm
tòi và thu thập số liệu một cách nghiêm túc. Những trích dẫn, số liệu đƣợc sử
dụng đã đƣợc trích dẫn trong mục tài liệu tham khảo.
Nếu có gì sai với lời cam đoan trên, tôi xin chịu mọi trách nhiệm.
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện Nguyễn Tiến Việt

ii
LỜI CẢM ƠN

Trƣớc tiên em xin chân thành cảm ơn ban giám đốc Học viện Chính sách và
Phát triển đã cho em một kỳ thực tập bổ ích. Trong trƣờng em đã đƣợc học
những lý thuyết cần thiết còn trong thời gian thực tập em lại đƣợc trải nghiệp
thực tế và có thời gian để so sánh giữa thực tiễn và lý thuyết. Toàn bộ quá trình
này là trải nghiệm vô cùng cần thiết cho cả công việc và cuộc sống của em sau
này.
Em cũng xin cảm ơn tập thể lãnh đạo phòng Tài chính - Kế hoạch, toàn thể
cán bộ công nhân viên chức tại phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Sa Pa đã giúp
đỡ và hƣớng dẫn em trong quá trình em đƣợc thực tập tại cơ quan.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sỹ Nguyễn Quỳnh
Hoa, ngƣời đã dành thời gian hƣớng dẫn em trong suốt quá trình thực tập. Nếu
không có sự hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô thì chắc chắn em sẽ không thể

1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị trƣờng 9
1.3.3. Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp tạo cơ sở cho việc thay đổi bộ mặt
nông thôn nói chung và Nông nghiệp nói riêng 10
1.3.4. Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp nhằm tạo ra một nền sản xuất
chuyên môn cao 10
1.4. XU HƢỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP 11
1.5. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP
11
1.5.1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 12
1.5.2. Nhóm nhân tố thuộc điều kiện kinh tế xã hội 13
1.5.3. Nhóm nhân tố về tổ chức kỹ thuật 15
iv
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP
HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI 16
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN CÓ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP HUYỆN SA PA 16
2.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Sa Pa, tỉnh Lào cai 16
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 23
2.1.2.3. Hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng của huyện 25
2.1.3. Giới thiệu về phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Sa Pa 26
2.1.4. Tình hình hoạt động của phòng tài chính - kế hoạch Sa Pa 35
2.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế của huyện Sa Pa trong giai đoạn 2010 -
2013 38
2.2. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO
CAI TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2013 40
2.2.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp 40
2.2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông nghiệp huyện Sa Pa 43
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP HUYỆN
SA PA, TỈNH LÀO CAI 58
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc 58

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia, nhất là những
quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam. Phát triển kinh tế phải đi liền với
sự bền vững, và chuyển dịch cơ cấu là một trong những sự thay đổi cần thiết để
hƣớng tới sự phát triển kinh tế một cách bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu Nông nghiệp nói riêng là
vấn đề đang đƣợc quan tâm hiện nay của nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt là đối
với những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam. Để thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững, việc xác định và hoàn thiện cơ
cấu nông nghiệp hợp lý, phù hợp với xu hƣớng phát triển của địa phƣơng là một
yêu cầu khách quan và nhiệm vụ chủ yếu trong quá trình phát triển.
Chính vì thế việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là vô cùng
cần thiết nhằm góp phần tìm ra giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp nhanh và hiệu quả hơn. Từ đó phần nào giúp định hƣớng cho việc phát
triển kinh tế của nƣớc ta một cách nhanh chóng và bền vững.
Xuất phát từ những thực tế đó em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số
giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh
Lào Cai”

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về cơ cấu ngành nông nghiệp, phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấu ngành
nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp ở huyện Sa Pa. Từ đó, rút
ra những mặt đã đạt đƣợc những hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết
trên cơ sở đó đƣa ra những quan điểm, phƣơng hƣớng, mục tiêu và các giải pháp
2
chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Sa Pa trong những
năm tiếp theo.

Cơ cấu kinh tế có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tăng trƣởng và phát triển kinh tế.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ cho phép tạo nên sự cân đối, hài hoà của nền kinh tế
để sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên, của cải vật chất và
lao động. Xem xét cơ cấu kinh tế là xem xét cấu trúc bên trong của quá trình tái
sản xuất và mở rộng của nền kinh tế thông qua các mối quan hệ kinh tế. Đó là
quan hệ tỷ lệ về lƣợng, chất cơ cấu kinh tế của một xã hội luôn chịu ảnh hƣởng
bởi quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lƣợng sản xuất của nền kinh tế. Mối
quan hệ kinh tế đó không phải mối quan hệ riêng lẻ, tách rời của các bộ phận
kinh tế mà là những quan hệ tổng thể của các bộ phận cấu thành nền kinh tế nhƣ:
Quan hệ giữa các ngành kinh tế (Nông nghiệp, Công nghiệp, Dịch vụ…), giữa
các vùng kinh tế, giữa các thành phần kinh tế… Những quan hệ này là những
quan hệ cả về mặt lƣợng lẫn mặt chất. Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng biểu hiện
trong những điều kiện về thời gian và không gian nhất định, trong những điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhất định, thích hợp với điều kiện của mỗi nƣớc,
mỗi vùng, mỗi địa phƣơng hoặc doanh nghiệp. Đồng thời, cơ cấu kinh tế không
tồn tại một cách cố định lâu dài mà luôn vận động và phải có những chuyển dịch
4
cần thiết, thích hợp với sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế - xã hội đề
gây nên những thiệt hại về kinh tế. Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế
không phải là mục tiêu mà chỉ là phƣơng tiện của việc tăng trƣởng và phát triển
kinh tế. Vì vậy, có nên biến đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay không,
chuyển dịch nhanh hay chậm không phải dựa vào mong muốn chủ quan, mà phải
dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế - xã hội nhƣ thế nào. Điều này cần thiết
cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nƣớc, cơ cấu của mỗi ngành kinh tế,
trong đó có cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.1.2. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tƣơng quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh
tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lƣợng
giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này đƣợc hình thành trong những
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hƣớng vào những

Cơ cấu trong nội bộ ngành kinh tế là tỉ trọng các ngành cấp II trong các
ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ mà chủ yếu là tỉ trọng trong tổng sản
lƣợng của ngành, nhƣ trong Công nghiệp thì tỉ trọng những ngành dệt may, da
giầy, cơ khí, đóng tàu v.v… trong ngành Nông nghiệp là ngành Nông nghiệp,
Lâm nghiệp và Dịch vụ. Mỗi ngành đều có đặc thù riêng tuy vậy cơ cấu trong
nội bộ ngành kinh tế là rất liên quan mật thiết với nhau, có tác động tƣơng hỗ với
nhau và thể hiện thế mạnh của từng vùng kinh tế trọng điểm.
Cũng nhƣ cơ cấu kinh tế nói chung, nội dung của cơ cấu kinh tế Nông nghiệp
bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, kỹ
6
thuật. Để phù hợp với giới hạn của một bài luận văn, tôi xin tập trung trình bày
về cơ cấu ngành Nông nghiệp.
Cơ cấu ngành diễn ra sớm nhất, nó gắn liền với sự phát triển của phân công
lao động, phân công lao động theo ngành là cơ sở để hình thành cơ cấu ngành, sự
phân công lao động phát triển ở trình độ cao, càng tỉ mỉ thì sự phân chia ngành
càng đa dạng càng sâu sắc. Cơ cấu ngành phản ánh sự phát triển của phân công
lao động xã hội và sự phát triển của lực lƣợng sản xuất. Xu hƣớng chuyển dịch
cơ cấu ngành chính là một nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nƣớc.
Cơ cấu ngành Nông nghiệp đƣợc chia thành các nhóm là: Nông nghiệp, Lâm
nghiệp, Thủy sản. Trong từng nhóm lại đƣợc phân chia nhỏ hơn, chẳng hạn trong
nội bộ ngành Nông nghiệp đƣợc chia ra thành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ
nông nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp biểu hiện sự thay đổi các mối
quan hệ tỷ lệ giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, và còn giữa cây
lƣơng thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả trong trồng trọt. Do vậy
cần phân biệt sự khác nhau trong nội bộ ngành Nông nghiệp và phải phân biệt
theo đặc trƣng kỹ thuật và kinh tế của chúng để tạo ra hệ thống phân công lao
động cho phù hợp giữa các tiểu thủ ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.2. Những đặc trƣng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình làm thay đổi cấu
trúc và mối liên hệ của một nền kinh tế theo một mục đích và phƣơng hƣớng
nhất định.
8
Quá trình này tất yếu phải xảy ra bởi sự phát triển và vận động không ngừng
của sự vật do đó, không có một cơ cấu kinh tế cụ thể nào là hoàn thiện và bất
biến. Cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói
riêng sẽ vận động và chuyển hóa từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới
nhƣng việc này đòi hỏi phải có thời gian và qua các bậc thang nhất định của sự
phát triển. Đầu tiên là sự chuyển đổi về số lƣợng, khi lƣợng đƣợc tích lũy đến độ
nhất định sẽ dẫn đến sự chuyển đổi về chất. Đó là quá trình chuyển hóa dần cơ
cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù hợp và có hiệu quả hơn. Tất nhiên
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố trong đó sự tác động của con ngƣời có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt cần
phải có những giải pháp chính sách và cơ chế quản lý thích hợp để định hƣớng
cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng. Tất cả mọi sự nóng vội hoặc bảo thủ sẽ dẫn
đến sự trì trệ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và gây
phƣơng hại đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung. Sự chuyển
dịch nền kinh tế nông nghiệp phải là một quá trình không thể khác đƣợc nhƣng
không phải là một quá trình tự phát do con ngƣời. Trên cơ sở nhận thức, nắm bắt
đƣợc các quy luật khách quan của cơ cấu kinh tế nông nghiệp con ngƣời sẽ tác
động theo những mục tiêu đã định nhằm chuyển dịch một cách có hiệu quả và
đúng hƣớng phục vụ cho con ngƣời. Nhƣng vấn đề quan trọng là phải bắt nguồn
từ đâu và với những biện pháp nào mà khi tác động vào nó sẽ gây phản ứng dây
chuyền tạo ra bƣớc phát triển nói lên tổng thể kinh tế nông nghiệp nói riêng và
nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.3. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp
1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp nhằm đáp ứng sự phát triển của nền
kinh tế thị trƣờng

cung cấp một phần lực lƣợng lao động cho các ngành kinh tế quốc dân và là thị
trƣờng tiêu thụ lớn nhất các sản phẩm của ngành Công nghiệp. Quá trình chuyển
dịch cơ cấu Nông nghiệp sẽ giải phóng đƣợc sức lao động sản xuất ở nông thôn
từ đó cung cấp lao động cho Công nghiệp và Dịch vụ.
1.3.3. Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp tạo cơ sở cho việc thay đổi bộ mặt
nông thôn nói chung và Nông nghiệp nói riêng
Để giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp thu đƣợc kết quả.
Trong thời gian qua Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành rất nhiều những chính sách
nhằm đầu tƣ cho Nông nghiệp để tạo điều kiện cho nhu cầu phát triển sản xuất
kinh doanh của các ngành trong Nông nghiệp.
Nhƣ vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp không chỉ
sản xuất trồng trọt chăn nuôi phát triển theo hƣớng sản xuất hang hóa trên cơ sở
khai thác lợi thế của địa phƣơng mà cơ sở hạ tầng của nông thôn cũng đƣợc tăng
cƣờng, đầu tƣ xây dựng. Vấn đề y tế giáo dục ở nông thôn cũng đƣợc cải thiện,
trình độ dân trí đƣợc nâng cao một bƣớc do đó việc chuyển dịch cơ cấu Nông
nghiệp đã và đang từng bƣớc góp phần tích cực tới quá trình công nghiệp hóa, đô
thị hóa, Nông nghiệp nông thôn và quá trình xây dựng nông thôn mới.
1.3.4. Chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp nhằm tạo ra một nền sản xuất
chuyên môn cao
Bởi trong quá trình chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp các địa phƣơng đã chú
ý khai thác các lợi thế so sánh của địa phƣơng mình để phát triển sản xuất hàng
hóa, cho nên ở mỗi vùng, mỗi địa phƣơng đã tạo ra các vùng sản xuất cây trồng,
vật nuôi đặc thù phù hợp với điều kiện đất đai khí hậu và điều kiện sản xuất ở
những nơi đó theo hƣớng tập trung, chuyên môn hóa và sản xuất hàng hóa làm
cho sản phẩm Nông nghiệp đa dạng và phong phú.
Kết quả của việc sản xuất tập trung, chuyên môn hóa trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu Nông nghiệp đã dẫn đến sự liên kết ngày càng chặt chẽ hơn nữa giữa
11
các ngành, các nghề sản xuất ở nông thôn do đó đã tạo ra một dây chuyền sản
xuất chặt chẽ không thể tách rời nhau. Ngành nghề này hỗ trợ tác động cho

kiện đất đai, điều kiện khí hậu và thời tiết của các vùng đó. Các nguồn tài
nguyên khác của vùng (nguồn nƣớc, rừng, khoáng sản…).
Các nhân tố tự nhiên trên tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành, vận
động và biến đổi của cơ cấu Nông nghiệp, sự tác động và ảnh hƣởng của các
điều kiện trên tới cơ cấu Nông nghiệp cũng không giống nhau. Trong các nội
dung của cơ cấu Nông nghiệp thì cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ chịu sự ảnh
hƣởng lớn nhất bởi các điều kiện tự nhiên, còn các cơ cấu khác thì ảnh hƣởng ít
hơn.
Các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý có ảnh hƣởng trực tiếp
tới sự phát triển của Nông nghiệp và qua Nông nghiệp ảnh hƣởng gián tiếp tới sự
phát triển của các ngành khác.
Các nguồn tài nguyên khác cũng ảnh hƣởng tới Nông nghiệp. Giữa các vùng
khác nhau với vị trí địa lý khác nhau có điều kiện khí hậu và điều kiện đất đai,
các nguồn tài nguyên khác và hệ sinh thái khác nhau dẫn đến sự khác nhau về số
lƣợng và quy mô các ngành kinh tế Nông nghiệp nhƣ: trồng trọt, chăn nuôi, lâm
nghiệp, ngƣ nghiệp là những ngành chịu ảnh hƣởng trực tiếp hơn cả. Chính từ sự
khác nhau đó làm cho số lƣợng và quy mô của các phân ngành và chuyên ngành
sâu của nông - lâm - ngƣ nghiệp giữa các vùng có sự khác nhau dẫn tới sự khác
nhau về cơ cấu ngành. Điều này đƣợc thể hiện rõ nét trong sự phân biệt về cơ
cấu ngành Nông nghiệp giữa các vùng trong cả nƣớc đặc biệt giữa đồng bằng và
miền núi. Hay ngay bản thân trong cùng một lãnh thổ thì cơ cấu ngành cũng
khác nhau do tính đa dạng và phong phú của điều kiện tự nhiên và sự phát triển
13
không đồng đều của các nguồn lực. Đây chính là cơ sở tự nhiên để hình thành
các vùng kinh tế nói chung và các vùng kinh tế nông nghiệp nói riêng. Trên cơ
sở phân vùng kinh tế, thì phân công lao động cũng diễn ra thông qua việc bố trí
các ngành sản xuất trên các vùng một cách thích hợp để khai thác hiệu quả các
tiềm năng và lợi thế của từng vùng, xây dựng lên một cơ cấu vùng kinh tế phù
hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đó.
1.5.2. Nhóm nhân tố thuộc điều kiện kinh tế xã hội

ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế.
1.5.2.3. Nhân tố cơ sở hạ tầng
Xây dựng và tăng cƣờng cơ sở hạ tầng là điều kiện cần thiết để phát triển
kinh tế Nông nghiệp, đảm bảo cho nền kinh tế hàng hóa phát triển nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Những vùng mà cơ sở hạ tầng phát
triển, đặc biệt là các công trình hạ tầng về kỹ thuật thì ở đó có điều kiện để phát
triển các ngành sản xuất chuyên môn hóa phù hợp với nhu cầu thị trƣờng và
nguồn lực của vùng. Cơ sở hạ tầng cũng là điều kiện để ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và ngƣợc lại cơ sở hạ tầng yếu
kém thì sự hình thành và phát triển của các ngành sản xuất và các vùng kinh tế
trên cơ sở chuyên môn hóa cũng nhƣ quá trình đƣa tiến bộ kỹ thuật công nghệ
vào sản xuất bị kìm hãm.
1.5.2.4. Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố quan trọng mang tính quyết định đã nêu ở trên thì các
nhân tố nhƣ kinh nghiệm, tập quán, phong tục, dân số… khác nhau giữa các
vùng cũng ảnh hƣởng tới sự hình thành và phát triển của các ngành trong nông
nghiệp và ảnh hƣởng tới cơ cấu Nông nghiệp. Những đặc trƣng này ảnh hƣởng
15
trực tiếp tới việc quy hoạch một cách tổng thể cho công tác chuyển dịch cơ cấu
Nông nghiệp.
1.5.3. Nhóm nhân tố về tổ chức kỹ thuật
Nhóm này gồm: các hình thức và tổ chức trong Nông nghiệp, sự phát triển
của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Cơ cấu Nông nghiệp là phạm trù khách quan nhƣng lại là sản phẩm hoạt
động của con ngƣời. Sự tồn tại vận động và biến đổi của cơ cấu Nông nghiệp
đƣợc giải quyết bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong Nông
nghiệp. Bởi vì vậy, đến cùng hoạt động của các chủ thể kinh tế trong Nông
nghiệp là cơ sở của sự hình thành và phát triển các ngành kinh tế, các vùng kinh
tế, các thành phần kinh tế. Các chủ thể kinh tế tồn tại và hoạt động thông qua các
hình thức tổ chức sản xuất với quy mô tƣơng ứng. Do đó các hình thức tổ chức

Nằm ở phía tây bắc của Tổ quốc Sa Pa là một khu nghỉ mát nổi tiếng của tỉnh
Lào Cai, Việt Nam. Một vùng đất khiêm nhƣờng, lặng lẽ nhƣng ẩn chứa bao
điều kỳ diệu của cảnh sắc thiên nhiên. Phong cảnh thiên nhiên của Sa Pa đƣợc
kết hợp với sức sáng tạo của con ngƣời cùng với địa hình của núi đồi, màu xanh
của rừng, nhƣ bức tranh có sự sắp xếp theo một bố cục hài hoà tạo nên một vùng
có nhiều cảnh sắc thơ mộng hấp dẫn.
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Sa Pa có diện tích tự nhiên 67.864 ha, chiếm 8,24% diện tích tự nhiên
của tỉnh, nằm trong tọa độ đại lý từ 22
0
07’04’’ đến 22
0
28’46’’ vĩ độ bắc và
103
0
43’28’’ đến 104
0
04’15’ độ kinh đông.
17
- Phía Bắc giáp huyện Bát Xát.
- Phía Nam giáp huyện Văn Bàn.
- Phía Đông giáp huyện Bảo Thắng.
- Phía Tây giáp huyện Than Uyên và Tam Đƣờng - tỉnh Lai Châu.
Trung tâm huyện cách thành phố Lào Cai 37 km về phía Tây Nam, nằm trên
trục quốc lộ 4D từ Lào Cai đi Lai Châu.
2.1.1.2. Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.2.1. Địa hình, đất đai
Sa Pa có độ cao trung bình từ 1.200m đến 1.800m, địa hình nghiêng và thoải
dần theo hƣớng Tây - Tây Nam đến Đông Bắc. Điểm cao nhất là đỉnh Phan Xi
Păng cao 3.143m và thấp nhất là suối Bo cao 400m so với mặt biển.

0
C, nhiệt độ trung bình từ
18 - 20
0
C vào tháng mùa hè, vào các tháng mùa đông 10 - 12
0
C. Nhiệt độ tối
cao tuyệt đối 33
0
C vào tháng 4, ở các vùng thấp. Nhiệt độ xuống thấp nhất từ
tháng 2 năm sau, thấp nhất vào tháng 1 là 0
0
C (cá biệt có những năm xuống tới
-3,2
0
C). Vào cuối năm 2013, nhiệt độ xuống thấp dƣới 0
0
kèm theo mƣa đã gây
ra mƣa tuyết với mật độ khá dày, lên tới 50cm, tạo ra khung cảnh Sa Pa đẹp và
khá huyển ảo. Hiện tƣơng tự nhiên kỳ thú này đã thu hút rất nhiều du khách hiếu
kỳ từ khắp mọi nơi trong và ngoài nƣớc tới Sa Pa.
19
* Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm của Sa Pa biến động trong
khoảng 1.400 - 1.460 giờ. Số ngày nắng không đều giữa các tháng, mùa hè số
giờ nắng nhiều, tháng 4 hàng năm từ 180 - 200 giờ, tháng 10 số giờ nắng ít nhất,
khoảng 30 - 40 giờ.
* Độ ẩm: Độ ẩm không khí tƣơng đối cao, bình quân hàng năm từ 85 - 90 %,
độ ẩm thấp nhất vào tháng 4 khoảng 65% - 70%. Do sƣơng mù nhiều, càng lên
cao càng dày đặc, đặc biệt trong những thung lũng kín và khuất gió khí hậu ẩm
ƣớt hơn các khu vực khác.

cây ăn quả phù hợp nhƣ mận, đào, lê.
Do đặc điểm của các khu vực khác nhau nên đã tạo ra các vùng sinh thái khác
nhau và có nhiệt độ khác nhau trong cùng thời điểm.
2.1.1.2.3. Tài nguyên nƣớc
Sa Pa có mạng lƣới sông suối khá dày, trung bình khoảng 0,7 - 1,0 km/km2.
Các suối hầu hết có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều. Tài nguyên nƣớc của Sa Pa
phong phú, là đầu nguồn của hệ thống sông suối Bo và suối Đum, hàng năm
đƣợc bổ sung lƣợng mƣa đáng kể, để lại một khối lƣợng nƣớc mặt và nƣớc ngầm
khá lớn.
- Nguồn nƣớc mặt: Đƣợc tiếp nhận trung bình hàng năm khoảng 1,63 tỷ m3,
lƣợng dòng chảy toàn phần là 1.873 mm, lớp dòng chảy mặt là 1.252 mm, dòng
chảy ngầm là 648 mm. Lƣợng trữ ẩm lãnh thổ 1.180 mm và lƣợng bốc hơi thực
tế 532 mm. Cùng với mạng lƣới ngòi, suối tự nhiên khá dày và hệ thống các

Trích đoạn PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM TỚI Nhóm giải pháp nhắm vào điều kiện tự nhiên Nhóm giải pháp về điều kiện kinh tế xã hội Nhóm giải pháp về tổ chức kỹ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status