skkn một số biện pháp thúc đẩy việc sử dụng trang thiết bị trong giảng dạy thpt trần phú - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị trường THPT Trần Phú
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC SỬ DỤNG
TRANG THIẾT BỊ TRONG GIẢNG DẠY
Ở TRƯỜNG THPTTRẦN PHÚ
(Ghi đầy đủ tên gọi giải pháp SKKN)
Người thực hiện: Hà Xuân Văn
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2012-2013
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Hà Xuân Văn
2. Ngày tháng năm sinh: 17/8/1962
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Trường THPT Trần Phú
5. Điện thoại:0613.726006 (CQ)/ 0613726632 (NR); ĐTDĐ: 0988863905
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: P. Hiệu trưởng
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Trần Phú
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Thực ra việc sử dụng trang thiết bị trong dạy học không phải là vấn đề mới.
Từ lâu trong các trường phổ thông người ta đã sử dụng đồ dùng dạy học và thực
hiện các tiết thí nghiệm thực hành và đều khẳng định tầm quan trọng của vấn đề.
Nền giáo dục Việt Nam đã trãi qua nhiều lần cải cách giáo dục, nội dung
chương trình các môn học có những thay đổi nhưng có những điều bất biến, luôn
luôn xuyên suốt, trong đó có phương châm học phải đi đôi với hành, giáo dục phải
gắn liền với thực tiễn.
Thông qua báo chí, thông qua những người đã từng được đi tham quan nền
giáo dục ở các nước tiên tiến thì tất cả đều có chung một nhận định là: nội dung
chương trình dành cho học sinh phổ thông rất nhẹ nhàng, không có tính chất hàm
lâm; học sinh thu nhận kiến thức thông qua thực hành, thí nghiệm và các hoạt động
thực tiễn. Trong khi đó ở Việt Nam, nội dung chương trình nặng, thiên về lý
thuyết, yếu về thực tế. Phần lớn nguồn nhân lực của chúng ta do các trường Cao
đẳng, Đại học đào tạo ra đều có kỹ năng thực hành yếu, khả năng vận dụng kiến
thức đã học trong nhà trường vào thực tiễn chưa cao.
Trong suốt nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
đất nước ta không ngừng phát triển và giành được những thành tựu to lớn về kinh
tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật. Ngành giáo dục đã góp một phần quan trọng trong
những thành tựu đó. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, với
những nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đạt được
những kết quả rất có ý nghĩa. Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục và đào
tạo có bước phát triển nhanh; hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh từ mầm non
đến đại học và sau đại học. Cơ sở trường, lớp từng bước được chuẩn hóa, hiện đại
hóa. Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ. Tuy nhiên
3
BM03-TMSKKN
thực tế cho thấy chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng quy mô và nâng cao
chất lượng đào tạo, giữa dạy chữ, dạy người và dạy nghề; nội dung giáo dục còn
nặng về lý thuyết, có mặt xa rời thực tế. Chương trình giáo dục phổ thông còn quá

"phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, là điều kiện để phát triển nguồn lực con
người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền
vững…".
- Kết luận số 51/TW ngày 29/10/2012 của BCH Trung ương Đảng khoá XI
về đề án: "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
4
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế"
Thực hiện các Nghị quyết của TW Đảng, bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban
hành các văn bản liên quan đến thiết bị dạy học. Cụ thể:
- Quy chế thiết bị giáo dục trong trường mầm non, trường phổ thông ban
hành kèm theo Quyết định số 41/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 07/9/2000.
- Danh mục đồ dùng dạy học tối thiểu.
- Công văn số 10458/THPT ngày 18/9/2001 của bộ GD&ĐT về tăng cường
thí nghiệm thực hành
2. Lý do chủ quan:
Trường THPT Trần Phú được thành lập từ năm học 2006-2007, đóng chân
trên địa bàn xã Suối Tre - một xã vùng ven của Thị xã Long Khánh. Dân cư địa
phương chủ yếu là công nhân cao su và nông dân làm rẫy, mật độ dân cư khá thưa
thớt. Mặc dù nằm ngay trên Quốc lộ 1A nhưng vị trí của trường không thuận lợi
cho việc giao thông, trên tuyến đường này thường xuyên xảy ra các tai nạn giao
thông.
Trường xây dựng đến nay đã được bảy năm nên cơ sở vật chất, phòng ốc và
các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy - học đang có dấu hiệu xuống cấp. Hiện nay
trường có hai phòng học bộ môn, ba phòng chứa các trang thiết bị, tranh ảnh, mô
hình phục vụ cho việc dạy - học. Hàng năm trường còn được sở Giáo dục Đào tạo
cấp bổ sung các trang thiết bị, phương tiện dạy - học.
Đội ngũ giáo viên trẻ chiếm tỷ cao, tuy có ưu điểm nhiệt tình, năng động
nhưng lại hạn chế là thiếu kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức quản lý học sinh. Bên

phạm vi sử dụng các trang thiết bị như tranh, ảnh, bản đồ, các thiết bị trong phòng
thí nghiệm lý, hoá, sinh, công nghệ và việc thực hiện các tiết thí nghiệm - thực
hành.
B. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận
Theo tài liệu về bồi dưỡng giáo viên của nhà Xuất bản Giáo dục năm 2006
thì: Phương tiện dạy học hay còn gọi là thiết bị dạy học là tất cả những phương
tiện vật chất giúp cho giáo viên và học sinh tiến hành hợp lý có hiệu quả quá trình
dạy - học.
Theo tài liệu về bồi dưỡng cán bộ thanh tra và quản lý Giáo dục Việt Nam
do Cộng hoà Pháp tài trợ thì "Thúc đẩy là hoạt động nhằm kích thích, phát hiện và
phổ biến kinh nghiệm, đồng thời đề xuất những kiến nghị để phát huy thành quả
của giáo viên, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ, khắc phục những yếu kém, hạn
chế về năng lực nghiệp vụ và thực hiệc các nhiệm vụ của giáo viên, dần dần hoàn
thiện hoạt động sư phạm của mình, góp phần phát triển hệ thống giáo dục"
Từ lâu các nuớc tiên tiến trên thế giới đã xác định giáo dục là động lực cho
sự phát triển kinh tế- xã hội, là con đường quan trọng nhất để phát huy nguồn lực
con người. Ở nước ta Đại hội BCHTW Đảng khóa VIII đã khẳng định: "Giáo dục
và Đào tạo là quốc sách hàng đầu”; Chính vì vậy, luận điểm đi lên bằng giáo dục
đã được khẳng định và trở thành chân lý của thời đại chúng ta - thời đại mà trí tuệ
con người trở thành tài nguyên quý giá nhất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Xuất
phát từ đặc điểm của thời đại và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:
“Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
6
sự phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững”.
- Nghị quyết Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông: "Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải tăng cường tính thực tiễn,

1.1 Lập phiếu thăm dò
Ở những năm học trước, khi dự giờ của giáo viên tôi phát hiện có giáo viên
sử dụng đồ dùng dạy học, có giáo viên “dạy chay” mặc dù cùng khối lớp, cùng bài
dạy. Qua trao đổi tìm hiểu vì sao lại có tình trạng như vậy thì giáo viên nêu ra
7
những lý do khác nhau. Để nắm bắt được đầy đủ các thông tin phục vụ cho việc
nghiên cứu và tìm ra giải pháp hiệu quả, tôi đã lập phiếu thăm dò và gởi đến tất cả
các giáo viên, sau đó nhờ các tổ trưởng chuyên môn thu lại. Các mẫu phiếu như
sau:
PHIẾU THĂM DÒ SỐ 1
(Dành cho giáo viên)
Xin thầy (cô) đánh dấu X vào các ô "có", hoặc "không" tương ứng với các
nội dung trong bảng dưới đây:
Những trở ngại mà thầy (cô) gặp phải khi sử dụng phương tiện dạy học:
Nội dung Có Không
Sử dụng phương tiện dạy học không thành thạo
Mất thời gian phải tìm kiếm trong kho, phải mượn, trả phiền hà
Chất lượng phương tiện dạy học không đảm bảo
Thái độ của nhân viên thiết bị không tốt, thiếu hợp tác
Làm mất thời gian hơn so với tiết dạy không sử dụng phương
tiện dạy học
Không biết có trong kho có những thiết bị nào phục vụ cho bài
dạy của mình
Những ý kiến khác hoặc có thể giải thích rõ hơn (không bắt buộc): Mục đích của phiếu thăm dò số 1 là muốn tìm hiểu những trở ngại mà giáo

từ đầu năm trong cuộc họp chuyên môn.
Từ việc tổng kết, đánh giá việc sử dụng phương tiện dạy học, việc thực hiện
các tiết thực hành thí nghiệm của các bộ môn của năm học 2011-2012, trong cuộc
họp chuyên môn đầu năm của nhà trường nêu ra những mặt đã làm được, những
tồn tại cần phải khắc phục. Thảo luận về vai trò cũng như việc sử dụng phương
tiện dạy học. Lấy ý kiến của tập thể giáo viên trong việc thực hiện các tiết thực
hành – thí nghiệm cũng như việc sử dụng phương tiện dạy học trong năm học mới.
Đưa ra những quy định cụ thể để thực hiện.
9
1.2 Xây dựng kế hoạch và công khai việc thực hiện kế hoạch
Kết quả thu được từ phiếu thăm dò số 1 cho thấy 80% số giáo viên được
thăm dò cho rằng chất lượng thiết bị, phương tiện dạy học chất lượng không đảm
bảo; 90% đều cho rằng mất thời gian phải tìm kiếm trong kho, phải mượn, trả
phiền hà; 20% tự nhận sử dụng phương tiện dạy học không thành thạo, 28% không
biết trong kho có những thiết bị nào phục vụ cho bài dạy của mình hay không. Một
số ý kiến khác đề nghị nhân viên thiết bị cần phải học hỏi thêm để nâng cao nghiệp
vụ và sắp xếp trang thiết bị hợp lý hơn. Một số ý kiến đề nghị nhà trường cần bố trí
thời khoá biểu sao cho tiết thực hành - thí nghiệm của các lớp không bị trùng nhau.
Kết quả thu được từ phiếu thăm dò số 2 cho thấy 100% giáo viên được thăm
dò khẳng định vai trò của việc sử dụng trang thiết bị trong việc đổi mới phương
pháp dạy học, phát huy được tính tích cực của học sinh, chất lượng tiết dạy được
nâng lên và đều mong muốn được sử dụng phương tiện để dạy học.
Để tìm được sự đồng thuận cao trong tập thể giáo viên thì ngoài việc thực
hiện phiếu thăm dò cần nêu ý tưởng của mình, trao đổi với các tổ trưởng chuyên
môn, một số giáo viên có thâm niên giảng dạy để tranh thủ ý kiến của họ. Sau đó
tiến hành xây dựng kế hoạch. Hoàn chỉnh kế hoạch và tiến hành thực hiện.
2. Tổ chức thực hiện
2.1 Các tổ, nhóm chuyên môn dựa trên PPCT, kết hợp với danh mục dạy học
tối thiểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thống kê các tiết dạy có sử
dụng phương tiện dạy học trong năm

- Tình trạng: Ghi rõ đã sử dụng, chưa sử dụng, còn mới, đã xuống cấp, sử dụng
không hiệu quả
- Đề xuất: Sửa chữa, thanh lý, mua sắm thêm
Kết quả thu được như sau:
* Môn Toán: Các thiết bị phục vụ cho môn lượng giác lớp 10, mô hình đường
conic chưa sử dụng. Các khối đa diện, khối tròn xoay nam châm yếu khó kế dính
các phần với nhau; Thiết bị tạo mặt tròn xoay nguồn điện bị hỏng.
* Môn Vật lý:
- Mua thêm đồng hồ bấm giây phục vụ cho bài chuyển động thẳng biến đổi đều
- Mua mới bộ thí nghiệm quá trình đẳng nhiệt, bộ thí nghiệm quá trình đẳng tích
do hai bộ thí nghiệm này có chất lượng không đạt yêu cầu
- Bộ thí nghiệm tạo sóng trên mặt nước không sử dụng được, đề nghị mua bộ phận
rung, đèn
- Các Ampe kế, vôn kế, điện trở phục vụ cho bài thực hành khảo sát đoạn mạch
điện xoay chiều có R, L, C mắc nối tiếp (tiết 33, 34 lớp 12) đo không chính xác;
cần mua thêm đồng hồ hiện số đa năng và pin.
- Các đồng hồ đo thời gian hiện số, hộp công tắc, nam châm điện, cổng quang, khí
áp kế, pin điện hoá chất lượng kém. Bộ thiết bị cảm ứng điện từ không sử dụng
được.
- Các mô đun lắp ráp yếu ớt không sử dụng được.
11
* Môn hoá:
- Một số hoá chất cần bổ sung: Natri bromua, nhôm clorua, brom (dung dịch), Iot,
dd amoniac, kali dicromat, lysin, axit glutamic, nước cất, ancol etylic, cồn 90 độ,
axeton, quì tím
- Các thiết bị cần bổ sung: ống nghiệm, ống hút, kẹp ống nghiệm, găng tay cao su,
bình xịt tia nước
- Một số hoá chất không còn sử dụng được, đề nghị xử lý.
* Môn sinh:
- Máy đo huyết áp người dùng cho lớp 11

SỔ ĐĂNG KÝ
TIẾT THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM/ SỬ DỤNG ĐDDH
Tổ:
Tuần học:
TT Họ tên GV
Ngày
dạy
Lớp
dạy
Tiết
thứ
Tên thiết bị
Địa điểm
thực hiện
1
2

(Cột địa điểm giáo viên ghi rõ thực hiện trên phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn
hay tại lớp).
Bảng này được giáo viên đăng ký trước một tuần, tổ trưởng chuyên môn
xem xét, điều chỉnh nếu có sự trùng phòng thí nghiệm hoặc không đủ thiết bị, nhân
viên thiết bị căn cứ vào phiếu để chuẩn bị cho tuần sau.
Đối với các môn Hoá học và Sinh vật, nhân viên thiết bị là giáo viên bộ môn
Vật lý vì vậy việc chuẩn bị các thiết bị thực hành, dụng cụ thí nghiệm, hoá chất
gặp rất nhiều khó khăn. Những lần đầu tiên chuẩn bị cho việc thực hành thí
nghiệm, giáo viên bộ môn phải hướng dẫn cho nhân viên thật kỹ lưỡng, tận tình.
Các chai lọ, hoá chất, dụng cụ phải dán nhãn. Trong thời gian đầu phải lập bản
hướng dẫn chuẩn bị dụng cụ, thiết bị cụ thể để nhân viên phụ trách có thể dựa vào
đó chuẩn bị được.
2.6. Tổ chức tập huấn cho giáo viên, xây dựng nội quy sử dụng

Ưu điểm:
- Sổ nhật ký mượn, trả của nhân viên thiết bị cập nhật đầy đủ nội dung;
- Phòng chứa thiết bị ngăn nắp như lần sắp xếp đầu năm;
- Giáo viên thực hiện đầy đủ các bài thực hành, thí nghiệm, các thiết bị đã
đăng ký. Thực hiện đúng nội quy sử dụng phương tiện dạy học, nội quy phòng thí
nghiệm, thực hành;
- Tổ trưởng đã theo dõi và điều chỉnh các tiết thực hành, thí nghiệm hợp lý.
Có sổ ghi chép rõ ràng;
Hạn chế:
- Việc chuẩn bị của nhân viên thiết bị có những lúc còn thiếu một số dụng cụ
- Có một số bài chưa thực hiện được vì nguồn thiết bị chưa bổ sung kịp thời
(môn Văn thiếu một số tranh ảnh minh hoạ)
14
- Qua dự giờ còn một số thí nghiệm chưa chính xác hoặc chưa thàng công:
Giáo viên tổ chức thí nghiệm chưa đảm bảo an toàn (cô Hiếu tiết hoá 11a6), hoặc
chưa thành công (cô Lộc tiết hoá 10a2 - do giáo viên nhầm lẫn ốn nghiệm), tiết Vật
lý phần thí nghiệm thấu kính mỏng tia khúc xạ đi không chính xác do thấu kính có
chất lượng kém (thầy Hạnh lớp 12a1)
- Phòng bộ môn còn bụi bặm; các trang thiết bị, quy cách chưa đạt đúng các
quy định của Bộ giáo dục
2.9 Động viên ghi nhận những tiến bộ
Việc sử dụng đồ dùng dạy học đã đi vào nề nếp, trong quá trình sử dụng
nhiều giáo viên đã có những cách sử dụng linh hoạt, sáng tạo. Đặc biệt có những
thiết bị được kết hợp với các phần mềm máy tính đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong
việc phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho học sinh hiểu bài và có hứng thú
học tập. Để tăng cường hơn nữa việc sử dụng thiết bị dạy học trong những lần họp
cơ quan, hiệu trưởng nhà trường ghi nhận, biểu dương những cố gắng tích cực thực
hiện đầy đủ các tiết thực hành thí nghiệm cũng như việc sử dụng các đồ dùng dạy
học khác của các tổ của các cá nhân. Rút kinh nghiệm những tồn tại để làm tốt hơn
trong những bài sau.

kiến thức đã học
- Được khám phá những kiến
thức trong khoa học, cuộc sống
- Hiểu bài, nhớ lâu hơn
- Thoải mái được chơi
- Tiết học sau không phải ôn lại
bài cũ (về nhà không phải học
bài cũ)
- Được điểm cao
Vì:
- Không muốn "đụng tay đụng
chân"
- Giáo viên thả lỏng
- Phải viết bản thu hoạch
- Không cần thiết vì những điều
đó đã được SGK, thầy cô khẳng
định rồi
- Sợ ảnh hưởng đến sức khoẻ
- Không phục vụ cho việc kiểm
tra, thi cử.
Ý kiến khác:
PHIẾU THĂM DÒ SỐ 2
(Dùng cho học sinh)
16
Em hãy cho biết ý kiến của mình khi tiết học có sử dụng đồ dùng dạy học (ĐDDH)
như: tranh ảnh, bản đồ, mô hình
(Đánh dấu X vào ô vuông bên cạnh những nội dung mà em chọn)

- Tiết học sau không phải ôn lại
bài cũ (về nhà không phải học
bài cũ)
- Được điểm cao
60%
30%
100%
7,4%
18%
12%
- Không muốn "đụng tay đụng
chân"
- Giáo viên thả lỏng
- Phải viết bản thu hoạch
- Không cần thiết vì những điều
đó đã được SGK, thầy cô khẳng
định rồi
- Sợ ảnh hưởng đến sức khoẻ
- Không phục vụ cho việc kiểm
tra, thi cử.
2,8%
14%
0%
0%
0%
Phiếu số 2:
17
Thích thú Không thích
- Trực quan, không cần giải thích
nhiều

không còn lãng phí nữa, giáo viên đã làm tròn được trách nhiệm của mình (đối với
việc sử dụng ĐDDH), học sinh được hưởng những lợi ích do thiết bị dạy học mang
lại đúng với những gì các em đáng được hưởng.
Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, không thể tách biệt các
yếu tố này một cách "sòng phẳng" được. Năm học 2012-2013 đã có chuyển biến rõ
rệt về học lực cũng như hạnh kiểm, kết quả này đã có một phần đóng góp không
nhỏ từ việc cải tiến sử dụng trang thiết bị trong giảng dạy.
Sau đây là bảng liệu thống kê một số mặt:
1) Bảng thống kê các tiết dạy TN-TH/ tiết dạy có sử dụng phương tiện dạy học
Tổ
Năm học 2011-2012 Năm 2012-2013
Số lượt sử
dụng ĐDDH
Số tiết TH-
TN
Số lượt sử
dụng ĐDDH
Số tiết TH-
TN
Toán 8 29
Lý - C.Nghệ 150 270 295 314
Hoá -Sinh 98 215 190 259
Văn 40 132
Sử - Địa - GDCD 250 398
Tiếng Anh 63 155
2) Kết quả các mặt giáo dục
18
Các
mặt
GD

ngũ giáo viên, về cơ sở vật chất nhưng thiết bị dạy học và sử dụng thiết bị dạy học
thì giống nhau, vì vậy đề tài này có thể vận dụng hiệu quả cho các nhà trường
THPT .
Để phát huy tốt vai trò của thiết bị dạy học trong nhà trường cần phải:
* Đối với nhà trường:
- Chi bộ, Ban giám hiệu nhà trường phải xác đúng vai trò và tầm quan
trọng của thiết bị dạy học, từ đó có sự quan tâm, chỉ đạo, kiểm tra thường xuyên.
- Đánh giá đúng vai trò của đội ngũ giáo viên đặc biệt là tổ trưởng chuyên
môn. Giáo viên phải nhận thức được vai trò của thiết bị dạy học trong việc nâng
cao chất lượng dạy học, chủ động tự giác sử dụng, làm thêm đồ dùng dạy học; kết
19
hợp giữ thiết bị dạy học với công nghệ thông tin để phát huy tối đa tác dụng của
thiết bị dạy học.
- Phải xây dựng một kế hoạch khoa học, phù hợp với đặc điểm của nhà
trường. Đặc biệt phải bố trí lịch giảng dạy phù hợp sao cho giáo viên có thể sử
dụng không bị chồng chéo.
- Nhân viên thiết bị phải tự bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn để đáp ứng với
nhiệm vụ của mình. Nhà trường nên có chế độ bỗi dưỡng hợp lý cho người làm
công tác thiết bị.
* Đối với sở Giáo dục và Đào tạo, các phòng ban chức năng:
- Cần tổ chức các chuyên đề về việc sử dụng thiết bị dạy học hoặc tổ chức
hội thảo về việc quản lý, sử dụng thiết bị dạy học giữa các trường học để trao đổi,
học tập kinh nghiệm lẫn nhau;
- Hiện nay có một số hoá chất quá hạn hoặc bị biến chất không sử dụng
được, nhà trường lúng túng không biết phải xử lý số hoá chất này như thế nào để
khỏi ảnh hưởng đến môi trường, vì vậy đề nghị sở Giáo dục và các phòng ban
chuyên môn cho hướng giải quyết.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Hà Xuân Văn
20

Lĩnh vực:
- Quản lý giáo dục  - Phương pháp dạy học bộ môn: 
- Phương pháp giáo dục  - Lĩnh vực khác: 
- Quản lý chuyên môn: 
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong ngành 
1. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới 
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 
2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách: Tốt  Khá  Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt  Khá  Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt  Khá  Đạt 
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
22
BM04-NXĐGSKKN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status