1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số : (do thường trực HĐ ghi ):
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Tên sáng kiến : “Giúp học sinh yếu kém học được Đại số 9”.
2. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến : Chất lượng chuyên môn giáo dục.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến :
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết :
Tỷ lệ học sinh yếu kém của các trường còn rất cao, trong đó bộ môn Toán
luôn có tỷ lệ học sinh yếu kém cao hơn các môn học khác. Việc học tập môn Toán
cũng có quyết định nhiều đến việc học tập của mọi sinh trong trường. Thực tế cho
thấy học sinh học giỏi Toán thì phần nhiều rất ham học các môn khác và học lực
thường khá giỏi ; Ngược lại học sinh yếu Toán thì thường tỏ ra lười biếng học tập
các môn khác, kết quả học tập thường ở dạng trung bình hoặc yếu kém và cũng có
nhiều nguy cơ bỏ học. Với học sinh yếu kém ta không thể trong thời gian ngắn mà
yêu cầu các em học tốt được bộ môn mà chỉ yêu cầu các em học được kiến thức
của bộ môn là một điều mà mọi giáo viên đều mong muốn. Vì vậy, việc có phương
pháp đúng đắn để giúp các em học sinh yếu kém có thể học được từ đó nâng cao
chất lượng bộ môn Toán có quyết định nhiều đến việc nâng cao chất lượng học tập
của từng học sinh và chất lượng giáo dục chung trong trường
Tuy nhiên, nhiều giáo viên dạy toán thường gặp nhiều khó khăn khi dạy đối
tượng học sinh yếu kém ; Phương pháp giảng dạy hạn chế, kết quả giảng dạy chưa
theo ý muốn, chưa đáp ứng được theo yêu cầu chung của bộ môn và của trường.
Mục đích của sáng kiến : Nhằm giúp cho giáo viên có phương pháp đúng
để giúp học sinh yếu kém môn Toán học được kiến thức của bộ môn.
.7 ; 18 = 3
2
.2
; 45 = 3
2
.5 ; 50 = 5
2
.2 … Hoặc cho các số : 2. 8 ; 2.18 ; 2.32 ; 12. 3 ; 20. 5 … là
bình phương của những số nào.
Các kiến thức trên tuy rất đơn giản nhưng nhắc lại thường giúp các em có
thể vận dụng được nhanh vào các bài tập cơ bản về căn bậc hai.
Khi dạy các nội dung khác thì cũng cho các em nhắc lại những nội dung có
liên quan tương tự.
3.2.2. Kiến thức truyền thụ cho học sinh yếu, giáo viên cần phân thành
từng dạng, mỗi dạng cần có các bước thực hiện cụ thể, rõ ràng để học sinh dễ
nhớ, dễ vận dụng.
Một trong những hoạt động cơ bản của học sinh trong học tập môn toán ở
trường THCS là hoạt động giải toán nhưng học sinh yếu toán đều gặp khó khăn
trong hoạt động nầy. Lý do là các em bị mất kiến thức cơ bản từ các lớp dưới nên
tiếp thu kiến thức rất chậm, khi vận dụng vào bài thì các em không biết bắt đầu từ
3
đâu, sử dụng kiến thức nào đã học, sử dụng như thế nào và thực hiện theo con
đường nào.
Sách giáo khoa thường chỉ trình bài chung, hạn chế các bước thực hiện nên
học sinh trung bình hay yếu kém không thể tự học theo sách được.
Vì vậy khi dạy học sinh yếu kém, tôi nghiên cứu soạn kỷ lại từng bước thực
hiện của từng dạng toán cơ bản trong chương trình, giúp các em tiếp cận được từng
dạng toán và từng bước giải để các em có thể vận dụng dễ dàng hơn trong hoạt
động giải toán.
Ví dụ 4 : Các bước giải phương trình bậc hai bằng công thức nghiệm :
Bước 1 : Xác định các hệ số a, b, c của phương trình.
Bước 2 : Lập
= b
2
– 4ac ( hoặc
'
=
'
b
2
– ac)
Bước 3 : Xác định số nghiệm của phương trình từ giá trị của
(hoặc
'
)
Bước 4 : Tính giá trị của các nghiệm bằng công thức nếu
0.
Tương tự như vậy có các bước giải phương trình bậc hai bằng công thức
nghiệm thu gọn.
Ví dụ 5 : Các bước vẽ đồ thị hàm số y = ax
3.2.3. Luyện tập thường xuyên để các em biết cách trình bày từng dạng bài
tập toán.
Thực tế cho thấy phần nhiều học sinh học yếu toán khi học trên lớp các
kiến thức của bài các em có thể tiếp thu được, thầy hỏi thì có thể trả lời được ngay
bằng miệng nhưng khi trình bày lời giải của một bài toán thì không làm được gì cả.
Điều nầy dẫn đến tình trạng các em rất lười khâu tự học, tự làm bài tập ở nhà và
bài tập, bài kiểm tra viết của các em thường bị điểm thấp. Để khắc phục tình trạng
trên, trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng trình
bày từng dạng toán cho từng học sinh bằng cách mỗi dạng bài tập tôi đều có cách
trình bày riêng hoàn chỉnh làm mẫu để hướng dẫn các em, giúp các em có cơ sở và
biết cách trình bài tương tự khi học. Một khi biết cách trình bày từng dạng toán thì
các em không ngại học và bài làm có điểm số cao hơn.
3.2.4. Cần có hệ thống bài tập tương tự và thay đổi dần, nâng dần các yêu
cầu của bài tập lên để tập cho các em vận dụng kiến thức.
Đối với học sinh yếu kém, trong mỗi dạng bài tập ngoài việc có một bài
giải thật kỷ, đầy đủ các bước để làm mẫu thì sau khi thực hiện một bài tập mẫu,
giáo viên cần đưa ra một số bài tập dạng tương tự để các em tự làm theo mẫu sau
đó có một số thay đổi về yêu cầu để tập cho các em suy nghĩ và vận dụng một phần
đã có trong bài cũ vào bài tập mới. Điều nầy giúp cho các em thấy rằng bản thân
mình có thể làm được một số yêu cầu của bài, cũng cố cho các em lòng tự tin vào
khả năng của mình từ đó các em tích cực suy nghĩ để giải quyết những yêu cầu
mới còn lại trong bài.
Khi thực hiện bài tập mới, giáo viên cần cho các em nhận xét : bài mới có
những gì tương tự với bài đã thực hiện ? Những yêu cầu nào mới trong bài ? Có
thể biến đổi thế nào để đưa bài mới về tương tự bài đã làm ? Có thể sử dụng kiến
thức nào, phương pháp nào để thực hiện yêu cầu mới đó ?
Kịp thời có câu hỏi gợi ý để dẫn dắt các em phát hiện đưa những yêu cầu
mới về cái tương tự mà mình đã đã học, đã làm được.
Tỉ lệ các yêu cầu tương tự trong bài tập mới để các em có thể tự làm bài
được từ 20 đến 30 rồi nâng dần đến 50 hay 70%. Những yêu cầu mới có thể thay
thấy việc học tập toán không phải là điều quá khó đối với bản thân của mình, mình
có thể làm tốt hơn, học giỏi hơn rất nhiều nếu có cố gắng. Không nên có những lời
chê bai đối với các em vì như thế dễ làm cho các em nãn chí và không cố gắng
trong học tập.
3.2.6. Giúp các em tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập
bằng những lời khen, lời động viên đúng lúc.
7
Khi dạy đối tượng học sinh yếu kém, giáo viên cần quan tâm nhiều đến
việc tổ chức cho các em hoạt động. Tâm lý của các em trong độ tuổi học sinh
thường rất hiếu động nhưng do mặc cảm là mình học yếu và do không tiếp thu
được kiến thức nên thường rất thụ động. Giáo viên cần có những câu hỏi nhỏ,
những yêu cầu đơn giản mà khả năng các em có thể trả lời được để dẫn dắt các em
vào các câu hỏi, các yêu cầu lớn hơn. Thông thường khi dạy, tôi thường chia các
em thành từng đội, từng nhóm và tổ chức các hình thức thi đua trong từng hoạt
động để tập cho các em mạnh dạn trong việc nêu lên ý kiến của mình trước tập thể,
rèn cho các em tính tự tin và chủ động trong học tập.
Khi làm một dạng bài tập nào đó, tôi thường cho từng em nêu cách làm, kết
quả làm bài của mình, nếu đúng thì có lời khen để động viên, nếu sai thì tôi đặt câu
hỏi dẫn dắt để các em tự nhận thấy cái sai của mình, tại sao mình sai, mình có thể
làm đúng được hay không, làm bằng cách nào … Từ đó cho các em tự sữa chữa để
được bài làm đúng.
3.2.7. Dùng những những việc làm, những hình ảnh thực tế để lồng ghép
vào bài học, giúp các em có thể tính toán nhanh và dễ nhớ kiến thức toán học.
Khi cho các em thực hiện các phép tính về toán học, các bài toán, giáo viên
có thể thay đổi nội dung đề bài lồng ghép với các việc làm thực tế mà các em
thường làm hàng ngày để các em dễ hiểu nội dung bài, dễ suy nghĩ và dễ dàng làm
được bài, từ đó giúp các em vận dụng và nhớ kiến thức dễ hơn.
Khi giảng dạy giáo viên có thể dùng các hình ảnh so sánh như :
Số dương là số tiền ta đang có, số âm là tiền ta đã chi tiêu ; cộng cho số
kiến có thể vận dụng cho việc giảng dạy học sinh trung bình, khá giỏi hay yếu kém
toán các khối học khác. 3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp :
Qua một thời gian thực hiện theo các kinh nghiệm trên, chất lượng học sinh
học tập bộ môn toán của tôi phụ trách có nâng lên rõ rệt. Phần đông các em học
sinh yếu đều tiếp thu được kiến thức, vận dụng lý thuyết giải được các dạng toán
cơ bản trong chương trình, không còn e ngại khi học toán mà phần nào ham thích
học toán.
Học sinh yếu không còn nhút nhác như trước mà đã mạnh dạn phát biểu,
biết nêu những thắc mắc của mình khi chưa hiểu, từ đó chất lượng học tập của các
em ngày càng được nâng lên, các em tỏ ra tự tin khi làm bài tập. Nhiều học sinh
yếu kém toán đã có học lực trung bình, khá và trong các kỳ thi tuyển sinh vào lớp
10 của huyện tỉ lệ đạt của các em rất cao.
Một số kết quả cụ thể trong các năm học liền kề : 9
Khảo sát đầu năm Cuối học kỳ I Cuối năm
Năm học
Yếu Kém Yếu Kém Yếu Kém
2010 - 2011 28,1% 9,5% 15,7% 1,4% 8,1 0%
2011 - 2012 25,7% 10,2% 11,8% 3,4% 6.3% 0%
2012 - 2013 21,5% 12,3% 10,7% 1,5% 4,7% 0%
- Sáng kiến cũng đã triển khai cho một số đồng nghiệp trong trường sử dụng,
được đồng nghiệp đánh giá cao ; được Ban giám hiệu trường đánh giá là đã triển
THCS Ba Mỹ
Giáo viên ĐHSP
Dạy học theo
các giải pháp
trong sáng kiến 3.6. Những thông tin cần được bảo mật : không
3.7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến :
+ Về phía nhà trường :
- Cần quan tâm thường xuyên, chuẩn bị đủ cơ sở vật chất để phụ đạo học
sinh yếu kém.
- Phân công giáo viên có tâm huyết với nghề, có lòng thương yêu học
sinh làm công tác phụ đạo.
+ Về phia giáo viên :
- Phải đầu tư nhiều về chuyên môn, chịu khó xây dựng các bước giải các
dạng toán cho phù hợp, dễ hiểu, dễ vận dụng đối với học sinh
10
- Phải thường xuyên theo dõi sự tiến bộ của từng học sinh để có phương
pháp, nội dung giảng dạy cho phù hợp.
- Giáo viên phải thể hiện được lòng thương yêu học sinh, phải gần gũi với
các em, xác định từng em yếu kém là do nguyên nhân nào đồng thời nắm bắt được
những khó khăn các em gặp phải để hỗ trợ kịp thời, tạo cho các em thấy được
mình luôn luôn được thầy cô quan tâm giúp đở.
- Phải hết sức thông cảm với các em, không nên có những lời lẽ chê bai
khi các em làm chưa được vì như thế dễ làm cho các em thấy mặc cảm, chán nãn,