SKKN Giúp học sinh yếu kém học được Đại số 9 - Pdf 26

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số : (do thường trực HĐ ghi ): . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Tên sáng kiến : “Giúp học sinh yếu kém học được Đại số 9”.
Tác giả : Lê Quang Lộc – Giáo viên trường THCS Ba Mỹ - Huyện Ba Tri.
2. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến : Chất lượng chuyên môn giáo dục.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến :
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết :
Tỷ lệ học sinh yếu kém của các trường còn rất cao, trong đó bộ môn Toán luôn
có tỷ lệ học sinh yếu kém cao hơn các môn học khác. Việc học tập môn Toán cũng có
quyết định nhiều đến việc học tập của mọi sinh trong trường. Thực tế cho thấy học
sinh học giỏi Toán thì phần nhiều rất ham học các môn khác và học lực thường khá
giỏi ; Ngược lại học sinh yếu Toán thì thường tỏ ra lười biếng học tập các môn khác,
kết quả học tập thường ở dạng trung bình hoặc yếu kém và cũng có nhiều nguy cơ bỏ
học. Với học sinh yếu kém ta không thể trong thời gian ngắn mà yêu cầu các em học
tốt được bộ môn mà chỉ yêu cầu các em học được kiến thức của bộ môn là một điều
mà mọi giáo viên đều mong muốn. Vì vậy, việc có phương pháp đúng đắn để giúp các
em học sinh yếu kém có thể học được từ đó nâng cao chất lượng bộ môn Toán có
quyết định nhiều đến việc nâng cao chất lượng học tập của từng học sinh và chất
lượng giáo dục chung trong trường
Tuy nhiên, nhiều giáo viên dạy toán thường gặp nhiều khó khăn khi dạy đối
tượng học sinh yếu kém ; Phương pháp giảng dạy hạn chế, kết quả giảng dạy chưa
theo ý muốn, chưa đáp ứng được theo yêu cầu chung của bộ môn và của trường.
Mục đích của sáng kiến : Nhằm giúp cho giáo viên có phương pháp đúng để
giúp học sinh yếu kém môn Toán học được kiến thức của bộ môn.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến :
Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm là giáo viên có thể giúp học sinh yếu
kém học được bộ môn Toán thông qua các hoạt động rất bình thường, rất gần gũi đối
với học sinh.
3.2.1. Nhắc lại một số kiến thức đơn giản có liên quan để vận dụng vào bài

Các kiến thức trên tuy rất đơn giản nhưng nhắc lại thường giúp các em có thể
vận dụng được nhanh vào các bài tập cơ bản về căn bậc hai.
Khi dạy các nội dung khác thì cũng cho các em nhắc lại những nội dung có
liên quan tương tự.
3.2.2. Kiến thức truyền thụ cho học sinh yếu, giáo viên cần phân thành từng
dạng, mỗi dạng cần có các bước thực hiện cụ thể, rõ ràng để học sinh dễ nhớ, dễ
vận dụng.
Một trong những hoạt động cơ bản của học sinh trong học tập môn toán ở
trường THCS là hoạt động giải toán nhưng học sinh yếu toán đều gặp khó khăn trong
hoạt động nầy. Lý do là các em bị mất kiến thức cơ bản từ các lớp dưới nên tiếp thu
kiến thức rất chậm, khi vận dụng vào bài thì các em không biết bắt đầu từ đâu, sử
dụng kiến thức nào đã học, sử dụng như thế nào và thực hiện theo con đường nào.
Sách giáo khoa thường chỉ trình bài chung, hạn chế các bước thực hiện nên học
sinh trung bình hay yếu kém không thể tự học theo sách được.
Vì vậy khi dạy học sinh yếu kém, tôi nghiên cứu soạn kỷ lại từng bước thực
hiện của từng dạng toán cơ bản trong chương trình, giúp các em tiếp cận được từng
dạng toán và từng bước giải để các em có thể vận dụng dễ dàng hơn trong hoạt động
giải toán.
Một số ví dụ khi dạy Đại số 9 :
Ví dụ 1 : Khi dạy dạng bài tập về Hằng đẳng thức
2
A A=
có thể cho các em
thực hiện theo từng bước như sau :
Bước 1 : Viết biểu thức trong dấu căn thành dạng lũy thừa bậc hai.
Bước 2 : Bỏ dấu căn bậc hai và dấu lũy thừa bậc hai và thay bằng dấu giá trị
tuyệt đối.
Bước 3 : Xác định giá trị của biểu thức trong giá trị tuyệt đối là dương hay âm
để bỏ dấu giá trị tuyệt đối.
Bước 4 : Bỏ dấu giá trị tuyệt đối. Nếu giá trị biểu thức trong trị tuyệt đối

Bước 3 : Xác định số nghiệm của phương trình từ giá trị của

(hoặc
'

)
Bước 4 : Tính giá trị của các nghiệm bằng công thức nếu



0.
Tương tự như vậy có các bước giải phương trình bậc hai bằng công thức
nghiệm thu gọn.
Ví dụ 5 : Các bước vẽ đồ thị hàm số y = ax
2
(P) :
Bước 1 : Lập bảng giá trị của (P). Thông thường lấy 5 giá trị củ x và 5 giá trị
tương ứng của y.
Bước 2 : Biểu diễn các điểm có tọa độ (x ; y) tương ứng trên hệ trục tọa độ.
Bước 3 : Dùng dụng cụ vẽ hình để vẽ (P).
Ví dụ 6 : Phương pháp tìm tọa độ giao điểm của (P) : y = ax
2
và (d) : y = bx + c :
Bước 1 : Lập phương trình hoành độ giao điểm của (P) và (d) là phương trình
dạng ax
2
= bx + c.
Bước 2 : Giải phương trình để tìm giá trị của x.
Bước 3 : Thay giá trị của x vào phương trình của (P) hoặc (d) để tìm giá trị
tương ứng của y.

Khi thực hiện bài tập mới, giáo viên cần cho các em nhận xét : bài mới có
những gì tương tự với bài đã thực hiện ? Những yêu cầu nào mới trong bài ? Có thể
biến đổi thế nào để đưa bài mới về tương tự bài đã làm ? Có thể sử dụng kiến thức
nào, phương pháp nào để thực hiện yêu cầu mới đó ?
Kịp thời có câu hỏi gợi ý để dẫn dắt các em phát hiện đưa những yêu cầu mới
về cái tương tự mà mình đã đã học, đã làm được.
Tỉ lệ các yêu cầu tương tự trong bài tập mới để các em có thể tự làm bài được
từ 20 đến 30 rồi nâng dần đến 50 hay 70%. Những yêu cầu mới có thể thay đổi dần từ
ít đến nhiều, từ thấp đến nâng dần lên cao cho phù hợp với từng nội dung kiến thức
cần dạy cho học sinh.
Ví dụ : Khi giải phương trình bậc hai bằng công thức nghiệm đầu tiên nên chọn
các phương trình đơn giản, có

hoặc
'

là những số có dạng bình phương như 1,
4, 9, 16 … cho các em dễ tìm và dễ thay vào công thức để tìm nghiệm, sau đó thay
đổi dần những giá trị khó hơn không có dạng bình phương để các em làm quen dần
và không thấy khó khăn khi thực hiện.
3.2.5. Cho các em tự nhận xét, đánh giá kết quả bài làm của mình, của bạn
để khắc sâu kiến thức đã học.
Thông thường khi dạy học sinh yếu kém môn Toán, từng dạng bài tập tôi đều
cho học sinh trình bày lại bài làm của mình trên bảng. Sau khi trình bày xong, cho học
sinh tự nhận xét bài làm của mình từ cách trình bày, kiến thức sử dụng … xem đã
hoàn chỉnh hay chưa ; cho học sinh khác nhận xét bài làm của bạn chỗ nào đúng, chỗ
nào chưa đúng, cần bổ sung thế nào để bài làm được hoàn chỉnh. Nếu học sinh không
phát hiện được hết những chỗ sai giáo viên có thể nói : Bài nầy còn 1 hoặc 2 chỗ sai
hoặc chưa đúng, chưa hoàn chỉnh để học sinh cùng phát hiện ; khi phát hiện thì gợi ý
để các em nêu cách sửa lại chỗ chưa đúng cho đúng, sau đó chốt lại thật kỷ để các em

giúp các em vận dụng và nhớ kiến thức dễ hơn.
Khi giảng dạy giáo viên có thể dùng các hình ảnh so sánh như :
Số dương là số tiền ta đang có, số âm là tiền ta đã chi tiêu ; cộng cho số dương
là tiền ta có thêm, cộng cho số âm là ta đã chi tiêu đi.
Ví dụ : 2000 +(-1000) có thể xem như các em đang có 2000 đồng, em mua tập
hết 1000 đồng thì dư hay thiếu ? số tiền còn lại là bao nhiêu ?

các em dễ dàng biết
được số tiền còn lại là 1000 đồng.
Hoặc : Khi tính - 11 - 9 : em đã mua tập hết 11 đồng, em lại mua thêm sách 9
đồng nửa thì em đã mua tổng cộng bao nhiêu ?

kết quả - 20.
3.2.8. Tập cho các em biết tận dụng sự hỗ trợ của máy tính cầm tay để học
toán.
Học sinh yếu kém thường tính toán chậm, học bài lý thuyết thì lâu nhớ nhưng
thực hành trên máy tính thì đa số các em đều thực hiện rất nhanh. Vì vậy trong quá
trình giảng dạy tôi thường xuyên luyện tập cho các em biết giải phương trình và hệ
phương trình bằng máy tính. Tập cho các em có thói quen sử dụng máy tính trong một
số công việc như :
- Kiểm tra kết quả khi thực hiện các phép biến đổi đơn giản, các phép tính về
căn bậc hai.
- Kiểm tra kết quả giải phương trình và hệ phương trình theo yêu cầu.
- Vận dụng và giải được các phương trình và hệ phương trình khi giải toán
bằng cách lập phương trình và hệ phương trình.
Ngoài ra còn sử dụng vào các phần học khác có liên quan trong chương trình.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp :
Sáng kiến được nghiên cứu và áp dụng cho việc giảng dạy Đại số 9, đối tượng
là học sinh bậc THCS trong tất cả các trường. Tuy nhiên giải pháp của sáng kiến có
thể vận dụng cho việc giảng dạy học sinh trung bình, khá giỏi hay yếu kém toán các

chuyên môn
Nội dung
công việc
hỗ trợ
01 Huỳnh Văn Bừa 1963 THCS Ba Mỹ Giáo viên ĐHSP Dạy học theo
các giải pháp
trong sáng kiến
02 Hồ Văn Thịnh 1977 THCS Ba Mỹ Giáo viên ĐHSP
Dạy học theo
các giải pháp
trong sáng kiến
3.6. Những thông tin cần được bảo mật : không
3.7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến :
+ Về phía nhà trường :
- Cần quan tâm thường xuyên, chuẩn bị đủ cơ sở vật chất để phụ đạo học
sinh yếu kém.
- Phân công giáo viên có tâm huyết với nghề, có lòng thương yêu học sinh
làm công tác phụ đạo.
+ Về phia giáo viên :
- Phải đầu tư nhiều về chuyên môn, chịu khó xây dựng các bước giải các
dạng toán cho phù hợp, dễ hiểu, dễ vận dụng đối với học sinh
- Phải thường xuyên theo dõi sự tiến bộ của từng học sinh để có phương
pháp, nội dung giảng dạy cho phù hợp.
- Giáo viên phải thể hiện được lòng thương yêu học sinh, phải gần gũi với
các em, xác định từng em yếu kém là do nguyên nhân nào đồng thời nắm bắt được
những khó khăn các em gặp phải để hỗ trợ kịp thời, tạo cho các em thấy được mình
luôn luôn được thầy cô quan tâm giúp đở.
- Phải hết sức thông cảm với các em, không nên có những lời lẽ chê bai khi
các em làm chưa được vì như thế dễ làm cho các em thấy mặc cảm, chán nãn, không
còn ham thich học tập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status