ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CÂY ĐẶC SẢN NÔNG NGHIỆP (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG) - Pdf 25

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
CÂY ĐẶC SẢN NÔNG NGHIỆP
(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG)
Mã số môn học: TT2233
Số tín chỉ: 02
Lý thuyết: 24 tiết
Thực hành: 06 tiết
Phú Thọ, năm 2012
BÀI MỞ ĐẦU
Số tiết: 02 (Lý thuyết: 02 tiết; bài tập, thảo luận: 0 tiết)
A) MỤC TIÊU:
- Kiến thức: Sinh viên hiểu được giá trị của cây đặc sản nông nghiệp, biết một số cây nông
nghiệp đặc sản ở các vùng miền, phương hướng phát triển cây đặc sản nông nghiệp.
- Kỹ năng: Đánh giá được giá trị của cây nông nghiệp đặc sản, phân nhóm được các cây
nông nghiệp đặc sản.
- Thái độ: Có thái độ nghiêm túc, tích cực trong quá trình học tập.
B) NỘI DUNG:
1. Giá trị của cây đặc sản nông nghiệp
- Sử dụng làm lương thực, thực phẩm, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
- Về kinh tế: mang lại giá trị kinh tế cao tiêu thụ nội địa
- Nguồn vật liệu cho chọn tạo giống: những giống đặc sản là nguồn gen quý về chất lượng và
khả năng chống chịu sử dụng cho các chương trình chọn tạo giống cây trồng.
- Về xã hội: giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động
2. Phân nhóm cây đặc sản nông nghiệp
- Cây lương thực:
Nếp Nàng Hương (Hà Giang), Nếp Tú Lệ (Yên Bái), Nếp Cái hoa vàng (Vùng trung du và
miền núi phía Bắc), Tám thơm (Nam Định), Lúa tám thơm và IR 64 (Điện Biên), Lúa Nàng Nhen
(Bảy Núi- An Giang),…
- Cây ăn quả:

- Đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo kỹ thuật cho người dân bản địa về kỹ thuật trồng và chăm
sóc cây đặc sản.
- Phục tráng những giống cây trồng đặc sản đã bị thoái hóa.
- Xây dựng thương hiệu cho các giống cây nông nghiệp đặc sản.
- Thu thập và bảo tồn những giống cây nông nghiệp đặc sản (bảo tồn nội vi hoặc ngoại vi) để
tránh xói mòn nguồn gen quý.
C) TÀI LIỆU HỌC TẬP:
1. Hoàng Mai Thảo, Hoàng Thị Lệ Thu (2012), Cây đặc sản nông nghiệp, Đại học Hùng Vương.
D) CÂU HỎI ÔN TẬP:
1. Cây đặc sản nông nghiệp có giá trị như thế nào? Lấy ví dụ?
2. Phân nhóm cây đặc sản nông nghiệp?
3. Phương hướng phát triển cây đặc sản nông nghiệp?
4. Thực trạng phát triển cây nông nghiệp đặc sản nông nghiệp hiện nay ở các tỉnh miền núi phía
Bắc?
3
CHƯƠNG 1
Lúa nếp gà gáy Mỹ Lung
Số tiết: 4 tiết (Lý thuyết: 04 tiết, thảo luận: 0 tiết)
A) MỤC TIÊU:
- Kiến thức: Chương này cung cấp cho sinh viên các kiến thức cơ bản về lúa nếp Gà Gáy
Mỹ Lung, nguồn gốc, phân loại, đặc điểm sinh học, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc.
- Kỹ năng: Sau khi học bài này sinh viên biết cách phát triển loại cây đặc sản này trên vùng đất
địa phương.
- Thái độ: Sinh viên có thái độ học tập nghiêm túc, chủ động tìm kiếm tham khảo tài liệu
liên quan, tích cực trong các hoạt động thảo luận.
B) NỘI DUNG:
1.1. Nguồn gốc, phân loại
1.1.1. Nguồn gốc
Giống lúa nếp Gà Gáy Mỹ Lung có nguồn gốc từ xã Mỹ Lung, huyện Yên Lập, là giống lúa qúy
hiếm có từ rất lâu đời, cơm nếp Gà Gáy Mỹ Lung rất thơm, dẻo, mùi vị ngon đậm đà được coi là đặc sản

* Ngâm ủ, xử lý hạt giống:
Hạt giống trước khi gieo, đem phơi dưới nắng nhẹ từ 4- 6 giờ. Loại bỏ hạt lép lửng, ngâm hạt
giống trong nước lã sạch từ 20-24 giờ và cứ sau 10-12 giờ thay nước chua một lần. Sau đó vớt ra đãi
sạch nước chua, đem ủ đến khi nảy mầm thì gieo mạ.
* Làm đất, bón phân và gieo mạ: (áp dụng phương pháp gieo mạ xúc bùn mềm).
- Làm đất: Đất mạ phải được cày bừa thật kỹ và nhặt sạch cỏ dại, nếu gieo mạ trên ruộng lúa thì
phải ngâm ruộng cho ngẫu hết gốc rạ và thối hết các hạt thóc rụng của vụ trước để tránh lẫn tạp
giống.
- Bón phân: Bón 10kg phân chuồng hoai mục và 04,-0,5kg phân suppe lân hoặc NPK cho 10m
2
đất mạ ( phân chuồng bón lúc cày bừa vỡ, suppe lân hoặc NPK bón trước lượt bừa cuối cùng) sau đó
lên luống và trang phẳng mặt luống không để đọng nước.
- Gieo mạ: Gieo 1-1,5kg thóc giống trên 5-6m
2
đất mạ đủ để cấy cho 1 sào ruộng. Gieo mạ thưa,
chăm sóc tốt để mạ to gan đanh rảnh, đẻ nhánh khỏe.
Chú ý: Khi gieo mạ nên gieo vào buổi chiều từ 16-18 giờ, không nên gieo 2 giống gần nhau để
tránh lẫn giống. Tiến hành khử lẫn cho mạ trước khi cấy.
* Chăm sóc:
Thường xuyên giữ cho bùn mềm và phòng trừ sâu bệnh để mạ sinh trưởng, phát triển tốt. Cấy
khi mạ được trên 30 ngày tuổi.
1.5.2. Thời vụ gieo trồng:
- Gieo từ ngày lập hạ đến sau lập hạ 15 ngày, thu hoạch vào trung tuần tháng 10 dương lịch.
- Vụ mùa: từ 5-10/5, thu hoạch vào trung tuần tháng 10 dương lịch.
1.5.3. Làm đất, cấy lúa
- Làm đất: Đất cấy phải được cày bừa kỹ, diệt hết mầm sâu bệnh và cỏ dại.
- Cấy 25 – 30 khóm/m
2
, 1 dảnh/khóm, cấy theo băng, chiều rộng 1 băng từ 1,8 - 2m, khoảng
cách giữa 2 băng 0,5 – 0,6m, Hàng cách hàng: 25-30cm, Cây cách cây: 20cm tiện cho việc đi lại

Là khâu quan trọng có tính quyết định đối với chất lượng sản phẩm sản xuất ra, công việc khử lẫn
được tiến hành trong suốt quá trình từ gieo hạt đến thu hoạch.
Nguyên tắc khử: Là loại bỏ những cây lúa khác giống, cỏ dại.
Công việc này được thực hiện trong suốt cả quá trình từ lúc gieo mạ đến lúc thu hoạch.
- Biểu hiện của cây lẫn, bông lẫn, cần loại bỏ những cây:
+ Có chiều cao không bình thường (cao hơn hoặc thấp hơn) so với quần thể chung.
+ Có mầu sắc lá, thân không bình thường.
+ Có thời gian sinh trưởng không bình thường (sớm hơn hoặc muộn hơn so với quần thể 5-7
ngày).
+ Dạng không bình thường (khoe bông hoặc dấu bông khác với quần thể)
+ Mầu sắc và dạng hạt không bình thường so với quần thể.
+ Các cây cỏ dại.
- Định kỳ 1-2 tuần có 1 lần đi quan sát phát hiện cây không đúng giống, cỏ dại để loại bỏ, song
cần tập trung vào một số đợt sau:
+ Lần 1: Khi lúa đứng cái, rẽ theo lối nhỏ 6-7 hàng lúa, nhổ cả gốc đối với cây có chiều cao hơn,
có màu sắc lá khác, bản lá khác, màu sắc thân và bẹ lá khác, dạng khóm xèo hoặc chụm hơn, các
loại cỏ dại.
+ Lần 2: Trước và sau khi trỗ, loại bỏ những cây trỗ sớm hơn hoặc muộn hơn quần thể 5-7 ngày.
+ Lần 3: Khi lúa bắt đầu đỏ đuôi: Lần này rất quan trọng phát hiện ra các cây chín trước, chín sau
( do trỗ trước, trỗ sau còn sót lại chưa bị loại), cây cao – cây thấp hơn, mầu sắc và dạng hạt khác, thân
cứng hay thân mềm, đầu vỏ hạt có chấm đen, yêu cầu đợt này khử thật triệt để (nhổ hoặc cắt sát gốc) và
khử cả cỏ dại.
+ Lần 4: Trước khi thu hoạch: Khử lẫn cuối cùng những dạng khử lẫn lần 3 còn sót lại hoặc
những dạng mới phát sinh. Sau khử lẫn lần 4 xong, yêu cầu cán bộ kỹ thuật đi nghiệm thu đồng
ruộng, nếu đạt yêu cầu mới làm giống, không đạt chuyển sang làm thóc thịt.
6
1.5.7.Phòng trừ sâu bệnh
Quy hoạch vùng gieo cấy lúa nếp Gà Gáy tập trung thành khu để tiện chăm sóc và công tác bảo
vệ thực vật. Cấy các giống lúa khác xung quanh khu vực lúa nếp Gà Gáy vào thời vụ mùa trung
(xung quanh 20/6 dương lịch) để lúa có thời gian trỗ cùng với lúa nếp Gà Gáy, nhằm hạn chế sâu

- Sâu non tuổi nhỏ nhả tơ cuốn phần chóp lá lúa, tuổi lớn cuốn cả phần lá lúa tạo thành bao
lá, sâu non từ tuổi nhỏ đến tuổi lớn đều nằm trong bao lá ăn phần biểu bì mặt trên và diệp lục lá,
chừa lại biểu bì mặt dưới và gân lá tạo thành các bao lá trắng. Khi đẫy sức sâu chui xuống bẹ lá
hoặc trong khóm lúa hoá nhộng. Đời một sâu non có thể phá 7 - 9 lá lúa, vòng đới của sâu cuốn lá
nhỏ từ 28 -36 ngày.
- Mỗi năm có 6 -7 lứa. Trong đó có 3 lứa gây hại chính:
+ Lứa 2: Bướm rộ từ giữa đến cuối tháng 4, sâu non gây hại trà lúa xuân chính vụ và xuân
muộn từ cuối tháng 4 - đầu tháng 5.
+ Lứa 5: Bướm rộ từ giữa đến cuối tháng 7, sâu non hại lúa mùa sớm cuối tháng 7 - đầu tháng 8.
7
+ Lứa 6: Bướm rộ từ giữa đến cuối tháng 8, sâu non hại lúa mùa chính vụ và lúa mùa muộn
cuối tháng 8 - đầu tháng 9.
Những ruộng lúa xanh tốt, bản lá rộng, ruộng rậm rạp, ven làng, gần đường đi thường bị hại
nặng.
* Biện pháp phòng trừ:
- Bón phân đúng kỹ thuật: Không bón thừa đạm, không bón đạm muộn. Bắt, giết sâu non khi
làm có chăm sóc lúa.
Khi mật độ sâu cao trên 15 con/m
2
(giai đoạn lúa đẻ nhánh) hoặc trên 10 con/m
2
(giai đoạn lúa
làm đòng) thì sử dụng các loại thuốc hoá học đẻ phòng trừ như: Padan 95 SP, Regent 800WG, chú ý phải
phòng trừ sớm khi sâu còn nhỏ, lá mới bị cuốn.
1.5.7.3 Rầy nâu
* Đặc điểm:
- Rầy có hai dạng hình: Dạng hình cánh dài và dạng hình cánh ngắn. Rầy thường đẻ trứng
thành ổ trong bẹ lá lúa, mỗi ổ có 1 -2 hàng trứng xếp liền nhau, mỗi rầy cái trưởng thành có thể đẻ
400 - 600 quả trứng, rầy cánh ngắn đẻ nhiều hơn rễ gây thành dịch.
- Cả rầy non và rầy trưởng thành đều trích hút dịch lúa, rầy nâu có 5 tuổi, rầy tuổi nhỏ (1-2-

khô cháy. Giữa mô bệnh và mô khoẻ có viền nâu gợn sóng đậm nét.
- Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas ozirae gây nên, vi khuẩn sâm nhập vào cây qua các vết
thương cơ giới do mưa bão gây ra và lan truyền qua hạt giống.
- Bệnh phát sinh, phát triển trong điều kiện nhiệt độ cao 26 - 30
0
C, ẩm độ cao trên 90 %,
nhất là có giông bão, mưa lớn. Những ruộng bón thừa đạm, bón muộn thường bị bệnh nặng.
* Biện pháp phòng trừ:
- Chọn giống kháng bệnh, vệ sinh đồng ruộng, thu dọn hoặc cày vùi rơm, rạ có bệnh. Bón
phân đúng kỹ thuật, tập trung bón lót và thúc sớm, không bón đạm khi bệnh đang phát sinh trên
ruộng.
- Khi bệnh phát sinh mạnh. Dùng: Stanner 20 WP để phòng trừ.
1.5.8. Thu hoạch
- Vệ sinh sạch sẽ sân phơi, kho chứa, các dụng cụ thu hoạch ( thung, nong, nia, xe vận chuyển,
máy quạt…).
- Gặt lúa có độ chín >90%. Gặt vào những ngày nắng ráo, thu về ra hạt ngay, không để lúa hấp
hơn, ra hạt tránh gây dập, nát hạt.
- Ra hạt xong phơi ngay, tốt nhất là phơi nong, nia trên sân hoặc trên sân lát gạch, không phơi
trên nền xi măng, phơi mỏng đều vừ phải dưới nắng nhẹ, trời nắng to không nên phơi quá mỏng sẽ
làm cho hạt gạo bị nứt rạn, thóc sau này không nẩy mầm được, phươi khô từ từ không nên phơi ép
lấy ngay, phơi ít nhất 3-4 nắng. trường hợp gặp mưa không phơi ngay được thì phải tãi mỏng tỏng
nhà thoáng, thường xuyên đảo đều (cần thử tỷ lệ nảy mầm để quyết định làm giống hay không làm
giống).
Chỉ đóng hòm, chum, vại, bao…khi giống đã nguội, khi cào đảo giống tránh rạn nứt hạt gạo, vì
những hạt này dẽ bị sâu mọt phá hại trong kho và gây chua thối khi ngâm ủ giống.
Trong sân phơi không được gặt, phơi 2 giống cùng một lúa. Trước khi phơi phải dọn sạch sân
bãi.
1.5.9. Bảo quản
- Ở quy mô nhỏ hộ gia đình: Dùng chum, vại, hòm gỗ để cách mặt đất >20cm, phía dưới và phía
trên dụng cụ chứa nên dùng 1 lớp vôi bột hoặc tro bếp để chống ẩm và mọt

tây hectares. Khoai mỡ Dioscorea alata tăng trưởng trong thời gian 8 đến 10 tháng và sau đó nằm
trong chế độ tình trạng “ngủ đông mode hibernation” khoảng 3 đến 4 tháng.
- Khoai mỡ (Dioscorea alata) này đã được nhập tịch hóa khắp vùng nhiệt đới Nam Mỹ,
Châu Phi, Nam Úc Châu, Đông Nam Hoa kỳ.
- Trên thế giới, khoai mỡ được xem là một trong những loại cây lương thực quan trọng.
Khoai mỡ có thể dùng trong nhiều món ăn quen thuộc như luộc, chiên, hay nấu canh, hấp bánh và
mang lại khá nhiều lợi ích cho sức khỏe.
- Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, khoai mỡ là một nguồn dồi dào kali, giúp duy trì huyết áp
ổn định. Trên thế giới, cây khoai mỡ được trồng ở 3 vùng chính: Tây Phi, khu vực biển Thái Bình
Dương (kể cả Nhật Bản) và các nước trong vùng biển Caribê.
- Tại Việt Nam, khoai mỡ cũng được trồng làm cây lương thực ở khá nhiều nơi trong đó có
tỉnh Long An là một trong những nơi có diện tích khoai mỡ lớn và tập trung nhất. Khoai mỡ là loại
dây leo, thân mềm, có sức sống tốt.
2.1.2. Phân loại
- Tên khoa học: Dioscorea alata L.
- Tên đồng nghĩa: Dioscorea rubella Roxb.
- Phân loại khoa học
Giới (regnum) : Plantae
: Angiospermae
: Monocots
Bộ (ordo) : Dioscoreales
Họ (familia) : Dioscoreaceae
Chi (genus) : Dioscorea
Loài (species) : D. alata
11
Hình 1: Cây khoai mỡ
- Khoai mỡ (Dioscorea alata) ngoài tên khoai mỡ tím có nhiều tên khác nhau tùy theo vùng
phân phối bao gồm: Khoai mỡ lớn, rể huỳnh tinh Guyane, khoai mỡ mười tháng, khoai mỡ nước,
khoai mỡ trắng, khoai mỡ có cánh, hay tên gọi đơn giản “Khoai mỡ”.
- Trong những nền văn hoá khác và ngôn ngữ khác, được biết dưới tên uhi ở Hawaii, ratalu

dẻo, năng suất từ 18 –20 tấn/ha.
- Khoai trắng Mộng Linh: củ dài 30 – 40 cm củ trắng đến trắng ngà, phẩm chất dẻo, nở,
không phù hợp thị hiếu ngưới tiêu dùng. Thích hợp cho chế biến xuất khẩu. Năng suất từ 20 – 30
tấn/ha.
2.2.2. Thân
- Thân lóng dây khoai mỡ hình vuông với các góc được nén thành những cánh.
12
Hình 2: Củ khoai mỡ (Dioscorea alata)
- Khoai mỡ có thể hình thành một khối lượng dây leo dày đặc, những dây leo chằng chịt bao
phủ, có thể hại chết những thực vật bản địa chung quanh chúng kể cả những cây thân mộc.
- Dây khoai mỡ là nguồn thực phẩm trong những năm 1800. Ở một số nước, hiện nay trồng
khoai mỡ để sử dụng trong lĩnh vực y học.
2.2.3. Lá
- Lá mọc đối, 8cm dài và hẹp hình trái tim.
- Cuống lá dài.
2.2.4. Hoa
- Dây khoai mỡ ít khi thấy trổ hoa.
- Những hoa khoai mỡ rất nhỏ, sinh ra từ nách lá, có hình dáng đẹp và phát triển khác nhau
giữa các loài của Dioscorea.
2.3. Thành phần hóa học, hàm lượng dinh dưỡng và công dụng của củ khoai mỡ
2.3.1. Thành phần hóa học
- Các thành phần hóa học chính của củ:
+ Anthocyanines + Glycosides steroidiens + Cholesterol
+ Campesterol + I-sitosterol + Stigmasterol
+ Diosgenine + Sapogenine + Alcaloide
+ Tinh bột amidon
- Khoai mỡ còn chứa một số chất như:
+ Sterols + Acides trans-crotonique,
+ Ferulique + Acide palmitique (Ghani, 2003).
- Những vitamine thiên nhiên, những nguyên tố khoáng chất và những chất dinh dưỡng được

+ Khoai mỡ tím, giống như những mẫu khoai khác như khoai tây Pomme de terre và các loại
củ giàu tinh bột, nghèo chất đạm proteine.
+ Một lượng 125g khoai mỡ tím chỉ chứa 2g chất đạm proteine. Proteine là một chất dinh
dưỡng cần thiết giúp đở hình thành những tế bào và những mô trong cơ thể con người.
+ Thường con người tiêu thụ khoảng 50g đến 65g chất đạm mỗi ngày để bảo đảm tốt cho sức
khỏe.
- Hàm lượng chất béo:
+ Khoai mỡ tím thiên nhiên ít chất béo. Mỗi phần 125g khoai mỡ tím chứa 0,25g chất béo.
+ Những chất béo thực phẩm giàu năng lượng nhưng chúng không đưa đến một lợi ích dinh
dưỡng nào, bao gồm sự hổ trợ sự hấp thu một số chất dinh dưỡng và giúp đỡ sự tăng trưởng và phát
triển lành mạnh.
2.3.3. Công dụng của củ khoai mỡ
- Đặc tính trị liệu: Khoai mỡ Dioscorea alata có lợi ích cho sức khỏe. Do thành phần dược
chất có trong khoai mỡ nên rất hữu ích trong việc khắc phục các loại bệnh lý và những vấn đề khác
nhau.
- Sự hiện diện ở mực độ cao vitamine B6 trong khoai mỡ làm giảm chứng trầm cảm ở người
phụ nữ.
- Tốc độ của sự chuyển đổi carbohydrate glucides hiện diện trong khoai mỡ thành đường rất
chậm, do đó mà có thể giúp hạn chế sự gia tăng lượng đường máu trong cơ thể con người.
- Những yếu tố thành phần của khoai mỡ mang lại lợi ích cho hệ thống đường tiểu con
người, hệ thống hô hấp và thần kinh.
- Hàm lượng mangan trong Khoai mỡ cao làm gia tăng mức độ năng lượng trong cơ thể.
* Ngoài lợi ích tổng quát Khoai mỡ có những lợi ích cho sức khỏe như :
- Tăng cường chức năng miễm nhiễm.
- Bảo vệ chống lại những bệnh về tim.
- Làm chậm sự lão hóa.
- Sửa chữa nhiễm thể ADN và bảo vệ chúng.
- Giảm những rủi ro bệnh tim mạch.
- Chống lại sự gia tăng huyết áp (áp suất động mạch cao).
14

cholesterole trong huyết tương plasma và gan có thể thông qua chất béo trong phân và bài tiết
steroides tăng lên.
- Khoai mỡ ngăn chận sự thất thoát của DMO (densite minerale osseuse mật độ nguyên tố
khoáng trong xương) và cải thiện tình trạng calcium mà không cần phải kích thích sự phi đại
uteriine ở chuột ovariectomized. TNG khoai mỡ có thể lợi ích cho phụ nữ mãn kinh để ngăn ngửa
chứng mất xương, tình trạng calcium trong xương thoái hóa .
- Những nghiên cứu dược lý và sinh hóa, người ta chứng minh khoai mỡ có cả hai tác dụng
bảo vệ gan và bổ gan ở chuột acetaminophen. Kết quả cung cấp căn bản cho việc sử dụng khoai mỡ
trong y học truyền thống Trung Quốc do sự thiếu hụt của “âm” gan và thận “âm” hư.
* Khoai mỡ tím có một vài tác dụng phụ cần thiết chú ý trước khi dùng :
15
- Người thường xuyên dùng khoai mỡ tím Dioscorea alata có thể dẫn đến những vấn đề sức
khỏe khác nhau liên quan đến: tiêu chảy, đau đầu, nôn mửa và nhiều nữa.
- Khoai mỡ tím hoạt động như một yếu tố astrogene do đó cần phải tránh cho những người
có dị ứng nghiêm trọng với chúng.
- Khoai mỡ tím khuếch đại nguy cơ hình thành những cục máu (caillots) ở những người có
sự thiếu hụt chất đạm proteine S cấp tính.
- Thiếu proteine S là một rối loạn liên quan với sự tăng huyết khối tĩnh mạch.
- Với năng suất bình quần 10-15 tấn/ha, tối đa có thể đtạ 18-20 tấn, nông dân có thể thu lời
hàng chục triệu đồng trên 1 vụ với giá từ 1.400 đồng đến 1.600 đồng/kg. Củ khoai mỡ có giá trị dinh
dưỡng cao như: tinh bột 30%, đạm 7,9-9,3%, nước 55-70%. Nên làm thức ăn rất tốt cho con người
và để chăn nuôi.
- Diện tích trồng khoai mỡ nhưng năm gần đây có nhiều biến động phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như giá cả thị trường (đầu ra), việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng trên địa bàn và các yếu tố
thời tiết.
- Việc nghiên cứu về cây khoai mỡ trong những năm gần đây đã được các đơn vị chú ý như
Đại học Cần Thơ, trung tâm nghiên cứu Đồng Tháp Mười, trung tâm khuyến nông, song ở các góc
độ khác nhau như hiệu quả kinh tế của cây khoai mỡ, kỹ thuật lên liếp, bón phân…
2.5. Kỹ thuật trồng
2.5.1. Chuẩn bị đất trồng

- Kho bảo quản làm bằng lá có mái che, chọn nơi cao ráo, nền phải khô ráo bằng phẳng, mái
che không được dột nước và vách phải hạn chế gió mưa tạt ướt củ giống.
- Nền: trải 1 lớp vôi bột từ 5 - 7 cm.
- Vách: xung quanh vách phun thuốc sát trùng ngừa kiến, mối, rầy phá hại như: BASSA
lượng 20cc/16lít nước.
- Củ giống sau thu hoạch rửa sạch đất, loại bỏ rễ nhúng vào dung dịch sau:
- BASSA lượng 20cc/20 lít nước ngâm trong 15 phút hoặc SUPRACIDE lượng 15 cc/20 lít
nước ngâm trong 15 phút. Chất trong kho bảo quản từ 5 – 6 lớp cách nóc mái khoảng 1 mét. Phương
pháp này có thể tồn trữ giống từ 4 – 5 tháng.
b. Xử lý ươm giống
Chọn củ giống đồng đều đem ra cắt mặt. Xử lý tuyến trùng gây mục đầu khoai: Đun nước
nóng khảng 54 – 55
0
C ngâm củ giống vào khoảng 40 phút sẽ diệt tuyến trùng Pratylenchus sp. hiệu
quả trên 85 % giảm tối đa hiện tượng mục đầu khoai.
c. Cắt mặt
- Củ có trọng lượng 1 kg cắt từ 8 – 10 lát, mỗi mặt 4 x 5 cm.
- Tỉ lệ 1000 mặt khoai cần 100 kg giống.
- Cắt khoai từ cuống xuống chiều dài 3/4 là tốt vì đoạn khoai này giữ được đặt tính cây mẹ.
Có thể cắt theo khoanh vẫn được.
- Dao cắt phải bén cắt cho phẳng không trầy xước. Chấm mặt cắt vào tro bếp hoặc vôi bột đễ
ráo mặt 5 phút rồi đem đi ủ vào tro trấu
- Sau ủ 12 – 15 ngày là có thể đem trồng, mỗi mặt khoai có từ 2 – 4 mầm, chọn mầm mạnh
nhất đem đi trồng các mầm khác loại bỏ vì là mầm hữu tính.
2.5.3. Thời vụ
- Phụ thuộc nhiều vào mực nước lũ hàng năm ươm giống: vào tháng 8 âm lịch (tháng 9
dương lịch). Trồng vào tháng 10 âm lịch (tháng 11 dương lịch) vùng trong đê có thể xuống giống
sớm hơn để thu hoạch sớm bán có giá.
- Nếu ươm giống vào tháng 7 âm lịch (tháng 8 dương lịch) thì trồng vào tháng 9 âm lịch
(tháng 10 dương lịch).

Bón lót trước trồng 1 ngày: Toàn bộ phân lân, phân hữu cơ, 10kg DAP và 2 kg Bam 5 H.
+ 7 – 10 NST: phun ViPắc 88 hoặc Roots lượng 500 – 1 kg/1.000m
2
.
+ 20 – 25 NST: 20 kg ure + 10 kg DAP + 2 Bam 5 H.
+ 40 – 42 NST: 15 kg ure + 10 kg NPK (20 – 20 –15) + 2 kg Bam 5H.
+ 70 – 75 NST: 35 kg NPK (20 – 20 – 15) + 6 kg Kali.
2.5.5. Chăm sóc
- Cần tưới nước giữ ẩm và tưới nước sau khi bón phân để phân dễ tan.
- Mùa khô tưới ngày 2 lần sáng và chiều không tưới nước kéo dài chập tối ảnh hưởng nấm
bệnh phát triển, ngày tưới ngày nghỉ.
- Mùa mưa: 2 – 3 ngày tưới 1 lần.
- Rải phân theo luống hoạc theo hốc. Giai đoạn 75 NST; 85 NST; 90 NST phun phân bón lá
chứa hàm lượng Kali để khoai dễ tạo củ như: Hydrophots liều 30cc/ bình 8 lít, phân MKP (0 – 52 –
34) liều 30 gam/bình 8 lít.
- Trước khi thu hoạch 5 ngày nên tưới nước ẩm để đất mềm dễ thu hoạch, tưới nước bằng
dụng cụ thùng vòi sen hoặc vòi máy phun trên liếp.
2.5.6. Phòng trừ sâu bệnh hại
- Khoai mỡ được trồng bằng củ và có thể trồng theo kiểu độc canh. Tuy nhiên để hạn chế các
loại bệnh hại nên trồng khoai mỡ luân canh với một số cây trồng khác.
- Điều kiện môi trường tốt cho sinh trưởng của khoai mỡ là: mùa mưa kéo dài và lượng mưa
đạt tối thiểu là 1500 mm, nhiệt độ trung bình khoảng 30
0
C, đất tơi xốp và tầng canh tác dày.
18
- Các loại tuyến trùng gây hại khoai mỡ: Người ta đã tìm thấy nhiều giống tuyến trùng luôn
có mặt trong đất trồng khoai mỡ, trong số này các giống nội ký sinh (endoparassite) được đánh giá
là gây hại nhiều nhất. Có 3 giống được xem là gây hại nhiều cho khoai mỡ là: Scutellonem bradys,
Pratylenchus coffeae và Meloidogyne spp.
2.5.6.1. Scutellonema bradys

năng gây hại trên rất nhiều giống cây trồng khác.
- Dấu hiệu điển hình rất dễ dàng nhân ra đối với giống tuyến trùng này là những bướu trên bề
mặt của củ. Trong quá trình ký sinh, tuyến trùng này tiết ra những kích thích tố làm các tế bào tăng
trưởng không bình thường về mặt thể tích. Sau thời kỳ phình to về thể tích của từng tế bào là giai
đoạn hình thành các đại tế bào do sự sát nhập của nhiều tế bào lại với nhau làm cho ô nhiễm bệnh
phình to bất thường tạo ra những khối u đặc trưng như đã nói ở trên.
19
- Các biểu hiện bên trên (phần dây leo và lá) cũng có thể quan sát dễ dàng. Các cây bị nhiễm
thường có bộ lá vàng úa, rụng sớm, ngọn không phát triển.
2.5.6. Thu hoạch
- Khoai mỡ trồng bán hàng hoá thu hoạch sau 4 – 4,5 tháng.
- Khoai làm giống thu hoạch sau 5 – 6 tháng trồng.
- Chọn củ giống mã đẹp, không bị sâu bệnh, buộc túm treo nơi khô mát hoặc để dưới gậm
giường tới tháng 2-3 năm sau.
- Bảo quản củ để ăn trong vòng 3-5 tháng. Có thể lưu tại vườn hàng năm.
C) TÀI LIỆU HỌC TẬP:
1. Hoàng Mai Thảo, Hoàng Thị Lệ Thu (2012), Cây đặc sản nông nghiệp, Đại học Hùng Vương.
D) CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CỦA CHƯƠNG:
*) Câu hỏi ôn tập:
1. Phân tích hàm lượng dinh dưỡng có trong củ khoai mỡ?
2. Tuyến trùng hại khoai mỡ và cách phòng trừ?
3. Kỹ thuật canh tác, phát triển khoai mỡ ở địa phương?
4. Phân tích giá trị kinh tế của cây khoai mỡ?
20
CHƯƠNG 3
Cây Sơn
Tổng số tiết: 04 tiết (Lý thuyết: 04 tiết; bài tập, thảo luận: 0 tiết)
A) MỤC TIÊU:
- Kiến thức:
Sau khi học xong chương này sinh viên phải trình bày được:

đẹp.
Ở nước ta, chi Sơn (Toxicodendron) có 2 loài: Sơn (Toxicodendron succedanea) và Sơn
thái (T. rhetsoides(Craib) Tardien).
21
Loài Sơn (T. succedanea) khá đa dạng; căn cứ vào các đặc điểm về hình thái lá, người trồng
sơn thường chia làm 2 giống - (cultivar.):
- Sơn lá si: lá nhỏ, màu xanh lục. Cây cho nhựa ít, nhưng có chất lượng tốt. Nhựa chảy đều
và thời gian cho nhựa dài.
- Sơn lá trám: lá to, màu xanh nhạt. Cây cho nhựa nhiều hơn so với dạng sơn lá si.
3.2. Đặc điểm thực vật học
Sơn là cây bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 4 – 6 m; vỏ thân có 2 lớp; lớp ngoài dày hoặc mỏng tuỳ
thuộc vào từng giống cũng như điều kiện môi trường sống (trung bình khoảng 3-5mm); lớp trong
gồm rất nhiều ống dẫn nhựa.
Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, dài ( 8 –
27cm; thường gồm ( 7 – 9 lá chét, hình trái xoan
thuôn hay hình mác; kích thước 3 – 8 x 1,3 – 2,5cm; đầu
thuôn nhọn; gốc hình nêm, lệch; mép nguyên.
Cụm hoa dạng chuỳ, mọc ở kẽ lá, dài tới 20 –
24cm. Hoa lưỡng tính, màu trắng kem; đài hợp 5
răng; 5 cánh hoa dạng hình trứng hoặc hơi thuôn; nhị 5,
chỉ nhị mảnh; bầu gần hình cầu, nhẵn.
Quả hạch, hình cầu hoặc hình cầu dẹt, đường
kính 5 – 8mm; khi chín có màu vàng nhạt, nhẵn bóng.
Bộ rễ của sơn ăn nông, nên cây dễ bị đổ do gió
to hoặc bão. Sơn là cây sinh trưởng, phát triển nhanh. Cây
28 – 30 tháng tuổi, đã đạt chiều cao khoảng 2 m, bắt đầu
ra hoa, kết quả và cho thu hoạch nhựa. Mùa hoa
tháng 3 – 4, mùa quả tháng 8 – 9. Khi cây ra hoa,
mang quả thường ít nhựa. Hoa quả càng nhiều nhựa
càng ít.

toàn huyện.
Bên cạnh đó, đến năm 2006, toàn huyện đã thành lập được 3 Chi hội nghề sơn tại xã Thọ
Văn, Dị Nậu và Xuân Quang với tổng số 102 hội viên. Huyện cũng đã đẩy mạnh xúc tiến thương
mại, gửi sản phẩm tham gia các hội chợ nhằm quảng bá sản phẩm nhựa sơn trên thị trường trong và
ngoài nước.
* Diện tích trồng sơn và sản lượng nhựa sơn các năm gần đây:
Đưa số liệu dưới đây thành bảng
- Năm 2006: diện tích: 471 ha; sản lượng: 136.100 kg
- Năm 2007:diện tích: 501ha; sản lượng: 155.000 kg
- Năm 2008; diện tích: 576 ha; sản lượng: 184.000 kg
- Năm 2009: diện tích: 600ha; sản lượng: 195.000 kg
- Năm 2010: diện tích: 750ha; sản lượng: 200.000 kg
Hiện nay các huyện Cẩm kê, Hạ hoà, Thanh Sơn cũng đang xem xét đưa một số diện tích đất
đồi chưa canh tác vào trồng sơn, đây là một hướng mở trong nghề trồng sơn của tỉnh.
3.4. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh
Sơn là loài có biên độ sinh thái rộng, phân bố ở nhiều khu vực từ vùng Đông Á, Đông Nam
Á tới Nam Á. Trong tự nhiên, có thể gặp sơn mọc rải rác trong rừng thưa ở độ cao dưới 1.500m.
Cây ưa khí hậu nóng, ẩm:
+ Nhiệt độ: trung bình khoảng 20 – 30
0
C là thích hợp nhất cho sinh trưởng của cây. Song sơn
cũng có thể chịu được nhiệt độ nóng tới 38 – 39
0
C và nhiệt độ lạnh tới 4 – 5
0
C, cây sinh trưởng
chậm và rụng lá về mùa đông.
+ Ẩm độ: Tại các khu vực trồng sơn có truyền thống ở Phú Thọ, lượng mưa trung bình hàng
năm thường đạt khoảng 2.000mm. Sơn sinh trưởng tốt và cho nhiều nhựa vào các tháng có mưa, độ
ẩm không khí cao và nắng nhiều. Sơn chịu hạn, nhưng không chịu ngập úng.

hại vào các tháng 3 – 4. Có thể gieo trong vườn ươm hoặc gieo thẳng.
Hiện nay, trong sản xuất thường gieo thẳng hạt sơn theo hố. Hố gieo hạt cần cuốc sâu, kích
thước 40x40x40cm, làm sạch cỏ, bón lót 1 – 3 kg phân chuồng ải. Để hạt nẩy mầm nhanh và đều có
thể xử lý bằng cách ngâm trong acid sulfuric đậm đặc khoảng 1 giờ, vớt ra, rửa sạch rồi đem gieo.
Cũng có thể dùng khô dầu sở trộn với hạt và ngâm nước khoảng 1 đêm rồi vớt ra đem gieo.
Đồng bào một số khu vực tại Phú Thọ có tập quán trộn hạt sơn với trấu, bỏ vào cối giã cho
mỏng bớt vỏ và ngâm nước gạo một đêm trước khi gieo.
3.5.2. Trồng và chăm sóc
Tuỳ điều kiện đất đai mà chọn khoảng cách trồng dày hoặc thưa, thông thường từ 2x2m,
2,5x2,5m đến 2,5x3m (mật độ 1.300 – 2.500 cây/ha). Mỗi hố gieo 5 – 10 hạt, hạt nọ cách hạt kia
khoảng 5cm. Gieo xong bỏ một vốc tro ủ nước gạo và phủ một lớp đất mỏng lên trên.
24
Khi cây cao khoảng 20 cm bắt đầu tỉa thưa, nhổ bỏ những cây yếu ớt, còi cọc. Nên tỉa thưa
khoảng 2 – 3 lần (cách nhau khoảng 2 tháng), lần cuối cùng vào tháng 5 – 6 Âm lịch; ở mỗi hố chỉ
để lại một cây sinh trưởng tốt nhất (cây mập, lá xanh thẫm, ngọn chồi phớt hồng).
Những năm đầu việc làm cỏ, xới xáo, vun gốc, bón bổ sung và giữ ẩm cho đất là cần thiết,
giúp cho cây sinh trưởng khoẻ. Thời gian này có thể trồng xen các loại cây ngắn ngày như lạc, đỗ,
lúa nương, vừa tận dụng đất vừa hạn chế cỏ dại, chống xói mòn và tăng thu nhập.
Khi cây cao khoảng 1,5m cần bấm ngọn cho cành ngang phát triển. Mỗi cây chỉ nên để 2 – 3
cành khoẻ, mọc xiên. Đến thời kỳ cây cao khoảng 2m lại tiến hành bấm ngọn lần nữa để tạo
tán to, đều. Đồng thời chặt bỏ hết các cành con ở độ cao dưới 1,5m để việc cắt thu nhựa được
thuận lợi.
Để cây sinh trưởng khoẻ, xanh tốt, nhựa chảy nhiều, mạnh và bền, cây cần cắt bỏ hết hoa
quả (trừ những cây đã chọn để lấy hạt làm giống).
Ở sơn trưởng thành có thể gặp sâu quấn lá, bọ đỏ, bọ nhót, sâu cắn ngọn, sâu đục thân.
Biện pháp phòng trừ tốt nhất là theo rõi, kiểm tra định kỳ và tổ chức bắt hoặc phun thuốc ngay
khi sâu mới xuất hiện.
3.5.3. Khai thác, chế biến và bảo quản
Giai đoạn cây đạt 28 – 30 tháng tuổi, có thể khai thác nhựa. Cây cắt nhựa năm đầu tiên gọi là
“sơn non”, sơn cắt năm thứ hai gọi là “sơn thường” và sơn cắt năm thứ ba gọi là “sơn già”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status