Lời cảm ơn
Đe hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản
thân, em đã nhận được sự giúp đờ của Hội đồng khoa học Luật, các Thầy giáo, Cô giáo
trong tố bộ môn Luật Dân sự; cán bộ nhân viên Tòa án Nhân dân Tỉnh Nghệ An. Đặc biệt
là sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của Cô giáo - Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh.
Xin trân trọng cảm ơn Cô giáo - Thạc sỳ Nguyễn Thị Thanh - người trực tiếp hướng
dẫn khóa luận, xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học Luật, các Thầy giáo, Cô giáo
trong tố bộ môn Luật Dân sự, cán bộ nhân viên Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An đã tạo
điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai đề tài khóa luận.
Với năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, đề tài sẽ không tránh khỏi
thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được góp ý kiến của của Hội đồng khoa học Luật,
các Thầy giáo, Cô giáo cũng như những người quan tâm đến vấn đề này.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 201 ỉ Sinh viên
Hoàng Thị Thúy Hà
BLDS
TTLT
BLTTDS
TCTD
NHỮNG TỪ VIỂT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Bộ luật dân sự Thông tư liên tịch Bộ luật tố tụng dân sự Tổ chức tín
dụng
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn 1
NHỮNG TỪ VIỂT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 2
MỞ ĐẦU 1
KÉT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
I.Văn bản pháp luật 53
II.Giáo trình 53
những vướng mắc. Trong thực tế, tranh chấp về hợp đồng vay tài sản ngày càng gia
tăng. Trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày càng phát triến, yêu cầu hoàn thiện quy
định pháp luật về hợp đồng vay tài sản nhằm đảm bảo lợi ích cho các chủ thế được
đề ra một cách cấp thiết hơn.
Từ đó tác giả nhận thấy, việc nghiên cứu quy định của pháp luật dân sự về hợp
đồng vay tài sản, thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Toà án
nhân dân đế có một nhận thức toàn diện về vấn đề này là rất cần thiết. Thông qua
việc nghiên cứu đề tài, tác giả làm rõ các vấn đề lý luận về hợp đồng vay tài sản,
phân tích thực trạng trong công tác xét xử hợp đồng vay tài sản của Toà án nhân dân
tù' đó đề ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên với kiến thức
còn nhiều hạn chế và sự eo hẹp về thời gian nghiên cứu nên khóa luận này không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp bô ích đê khóa luận được hoàn thiện hơn.
2. Tình hình nghiên cứu.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội thì vấn đề về hợp đồng vay tài
2
sản ngày càng phức tạp và có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. BLDS năm 1995
cũng như BLDS năm 2005 đã đề cập đến họp đồng vay tài sản một cách có hệ
thống. Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cún một cách toàn diện và đầy
đủ về vấn đề này. Đó cũng là lý do mà tác giả chọn đề tài này. Đã có nhiều bài viết
liên quan như “ Chế định hợp đồng vay tài sản” của Trần Văn Biên, “ về cách tính
lãi suất trong các hợp đồng vay tài sản” của Trương Thanh Đức, “Hậu quả pháp lí
của hợp đồng vay tài sản bị vô hiệu một phần” của Thanh Tuệ, "Lãi suất của hợp
đồng vay tiên và ảnh hưởng của nó đên nên kinh tê hiện nay” của Dương Thu
Phương Đây là những vấn đề nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau của hợp
đồng vay tài sản, là cơ sở tham khảo để tác giả hoàn thành tốt đề
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Trong giới hạn nghiên cứu của khóa luận, tác giả tập trung nghiên cún tranh
chấp hợp đồng vay tài sản. Nội dung khóa luận là rõ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về giải quyết tranh chấp họp đồng vay tài sản theo quy định của luật dân sự Việt
nhân dân.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng vay tài sản.
NỘI DUNG
Chưo’ng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN cơ BẢN VÈ HỢP ĐỒNG VAY
TÀĨ SẢN
1.1. Khái niệm, đặc điếm họp đồng vay tài sản.
/. /. 1. Khái niệm.
Trong cuộc sống hàng ngày đế giải quyết những khó khăn tạm thời về kinh tế
cũng như đáp ứng nguồn vốn đế sản xuất kinh thì họp đồng vay tài sản là phương
tiện pháp lí đế thỏa mãn các nhu cầu đó. Nhà nước đã tạo điều kiện cho nhân dân
vay vốn của ngân hàng với mức lãi suất phù hợp, các hộ nông dân nghèo có thế phát
4
triến được sản xuất kinh doanh. Mặt khác, nhân dân vay, mượn tài sản của nhau đế
tiêu dùng cho những việc cần thiết trong gia đình hoặc để kinh doanh là việc làm
phổ biến và có ý nghĩa cần được Nhà nước khuyến khích.
Theo quy định tại Điều của BLDS năm 2005 thì “Hợp đồng vay tài sản là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khỉ đên hạn
trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đủng so lượng,
chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định ”.
Tài sản ở đây hiểu theo định nghĩa của BLDS năm 2005 là: “Vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản” (quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ).
Quy định như vậy là xuất phát tù' thực tế không phải bất cứ một hợp đồng vay
tài sản nào cũng phải trả lãi mà chỉ khi các bên có thỏa thuận về một mức lãi suất
nhất định hoặc pháp luật có quy định thì bên vay mới phải trả lãi suất.
1.1.2. Đặc điếm hợp đồng vay tài sản.
Họp đồng vay tài sản là một dạng thức trong hợp đồng dân sự nên nó vay tài
sản vừa có nhừng đặc điếm chung của hợp đồng dân sự vừa có những đặc điểm đặc
Hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn là hợp đồng không thỏa thuận về kỳ
hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay thực hiện hợp đồng bất kỳ thời điếm
nào. Trong hợp đồng vay không có kỳ hạn bao gồm: Hợp đồng không kỳ hạn không
có lãi và hợp đồng vay không kỳ hạn có lãi.
Họp đồng vay tài sản có kỳ hạn là hợp đồng có thỏa thuận về kỳ hạn. Trong
hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn bao gồm hai loại là hợp đồng vay có kỳ hạn không
có lãi và họp đồng vay có kỳ hạn có lãi.
1.2. Họp đồng vay tài sản trong pháp luật dân sụ- Việt Nam qua các thòi kỳ lịch
sử.
1.2.1. Quy định về hợp đồng vay tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam
thời kỳ phong kiến.
về mặt pháp luật, dưới thời Lê, các quy định về khế ước được nằm trong bộ
Quốc Triều Hình luật. Một trong nhừng khế ước tiêu biểu, phổ biến trong xã hội
6
phong kiến, đó là khế ước vay nợ. Qua nghiên cứu một số quy định trong Quốc
Triều hình luật thì thấy rõ nguyên tắc phải thực hiện đúng cam kết đã vay là phải trả
đủ. Ví dụ như quy định: bên vay là hai vợ chồng, thì hai người này phải trả bằng của
nổi. Neu của nối không đủ để trả hoặc không có của nổi để trả cho bên cho vay, thì
số nợ được chia làm hai phần bằng nhau, cụ thể: phần nợ của người chồng được trả
từ tài sản của người chồng, phần nợ của người vợ được trả từ tài sản của người vợ.
Pháp luật từ thế kỷ XV đã dự liệu tới khả năng vợ chồng bị khánh kiệt thì
phần nợ vẫn còn đó và cha mẹ, họ hàng không phải trả thay. Bên cho vay có quyền
đòi một phần nợ, nếu chồng chết thì đòi vợ và ngược lại nhưng không được đòi cha
mẹ, họ hàng, anh em. Qua đó ta thấy nguyên tắc ai vay, người đó phải trả và không
chuyển nợ sang cho người thân thích.
Đồng thời Bộ luật này cũng có nhừng chế tài đối với hành vi gian dối trong
thực hiện họp đồng vay: “nợ đã trả rồi mà còn cố ỷ không trả văn tự, hay nói là văn
tự đã đánh mat, mà không câp giây làm băng cho người trả nợ, thì xử phạt 50 roi,
biếm một tư. Đã giao giấy mà làm bang rồi mà lại đem văn tự đòi nợ lân thứ hai, thì
xử phạt 50 roi, biếm một tư và bôi thường gấp đôi sổ tiền nợ cho người đã trả nợ”
đã ghi nhận khế ước vay. Pháp luật đã quy định chi tiết các trường hợp của hợp
đồng vay tài sản: về hình thức, về chủ thế, về thời hạn cũng như chế tài áp dụng khi
một trong các bên không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Đó cũng là sự tiến bộ của
pháp luật Việt Nam.
1.2.2. Quy định về hợp đồng vay tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam
thời kỳ Pháp thuộc.
Thời Pháp thuộc, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, luật dân sự được ban hành
với tư cách là một ngành luật độc lập. Các bộ luật trong thời kỳ này gồm có Bộ Dân
Luật Giản yếu năm 1883, Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Hoàng Việt Trung
Kỳ hộ luật năm 1936 - còn được gọi là Bộ Dân luật Trung Kỳ. Nhìn chung, các bộ
luật này chịu ảnh hưởng trục tiếp của Bộ dân luật Pháp 1804, nhưng có nhiều quy
định được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán
của Việt Nam.
8
Theo quy định của pháp luật thời Pháp thuộc họp đồng vay tài sản được ghi
nhận trong bộ luật, tuy chưa đầy đủ. Ví dụ như tại Bộ Dân luật giản yếu 1883 có
quy định về lãi suất trong hợp đồng cho vay. Theo đó, trong hợp đồng vay, chủ cho
vay chi được ăn lời mỗi năm mười hai phần trăm, tương đương cho vay một trăm
đồng bạc, mỗi năm ăn lời mười hai đồng.
Trong Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, tại Quyển thứ hai, Thiên thứ hai, chương TX
- Nói về khế ước lập hội có Điều 1204 quy định: “Phàm những hội đế dành tiền và
những hội cho vay lẫn nhau, như chơi họ, hội hiếu hỉ, hội tư văn, là tuân theo dân
luật, tục lệ, cùng khế ước của người đương sự lập ra”. Hay “Thế lệ luật này nếu
không trái gì với luật, lệ hay tục riêng về việc thương mại, thời cũng đem thi hành
đối với các hội buôn. Đối với các hội đế dành tiền và nhừng hội cho vay lẫn nhau
như chơi họ cũng vậv” (Điều 1435 Bộ Hoàng việt Trung kỳ hộ luật 1936-1939).
Các quy định về hụi, họ, biêu phường cũng được quy định từ rất sớm. Bộ luật
dân sự Bắc kỳ đã quy định như sau: “phàm những hội đế dành tiền và những hội cho
vay lẫn nhau như chơi họ, hội hiếu hỉ, hội tư văn là tuân theo dân luật tục lệ, cùng
khế ước của người đượng sự được lập ra” (Điều 1204) Bộ Luật Việt Trung kỳ hộ
Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, pháp luật dân sự phát triển
mạnh mẽ, nhiều đạo luật quan trọng ra đời đã tạo nên khung pháp lý cho các hoạt
động giao dịch dân sự nói chung và họp đồng phát triển. Ví dụ như việc ban hành
Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991.
Theo Pháp lệnh họp đồng dân sự 1991, về nguyên tắc, hợp đồng dân sự được
giao kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không trái với pháp luật và đạo đức
xã hội. Pháp lệnh không quy định cụ thể về hợp đồng vay tài sản mà chỉ quy định
chung những vấn đề của họp đồng dân sự như: điều kiện có hiệu lực; giao kết, sửa
đổi, bổ sung, thực hiện họp đồng dân sự ở thời kỳ này còn có sự phân tách họp
đồng dân sự và hợp đồng kinh tế dựa trên căn cứ là mục đích giao kết hợp đồng và
chủ thế giao kết hợp đồng có đăng ký kinh doanh hay không. Họp đồng kinh tế
được điều chỉnh bởi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989.
Đen năm 1995, BLDS được ban hành và có hiệu lực kể tù' ngày 01/07/1996
10
đồng thời chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991 là một bước tiến
quan trọng trong lĩnh vực lập pháp của nước ta. BLDS có tầm quan trọng “sau hiến
pháp” điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp, làm nền tảng và định hướng
cho việc phát triến các quan hệ dân sự, kinh tế. Quy định về hợp đồng vay tài sản đã
được quy định trong phần quy định về hợp đồng BLDS năm 1995 từ Điều 467 đến
Điều 475.
Ke từ sau khi có BLDS, về cơ bản chúng ta áp dụng các quy định trong đó đế điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự phát sinh sau khi BLDS ra đời. Tuy nhiên thực
tiễn giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án còn nhiếu phức tạp, nhiều điều khoản
còn chưa phù hợp thực tế cuộc sống của nhân dân. Đe khắc phục vấn đề này Nhà
nước đã ban hành một số văn bản quan trọng như: Nghị quyết số 58/1998/NQ-
ƯBTVQH ngày 20/08/1998 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về
nhà ở được xác lập trước ngày 01/07/1991; Nghị quyết số 01/2003 ngày 10/04/2003
của Hội đồng thẩm phán TANNDTC về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc
giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số
02/2004/NQ/HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng
giới.
Hầu hết BLDS của các nước trên thế giới đều có quy định về hợp đồng vay tài
sản vì đây là loại hợp đồng phố biến và thường xuyên được sử dụng.
Trong pháp luật dân sự Pháp, cho vay là một vấn đề thực tại: Hợp đồng được
giao kết bằng cách chuyến giao tài sản từ người cho vay sang người vay. Cho đến
khi chuyến giao tài sản, các thỏa thuận đạt được giữa hai bên về việc cho vay chỉ
mang tính chất của một lời hứa cho vay. Neu đã hứa mà lại không phát vay, người
hứa cho vay chỉ có thể buộc bồi thường thiệt hại. Luật Việt Nam không coi hợp
đồng vay tài sản là hợp đồng thực
Pháp luật của Pháp quy định về lãi suất cho vay: Lãi vay phải được thỏa thuận
bằng văn bản, dù hợp đồng vay là hợp đồng thực tại và có thể được chứng minh
bằng mọi phương tiện. Không có văn bản, thỏa thuận về lãi vay vô hiệu và hợp đồng
12
vay được thực hiện với lãi suất do pháp luật ấn định, trừ trường hợp người vay tự
nguyện trả lãi theo thỏa thuận mà không có kiện cáo. Điều này khác với quy định
của BLDS của Việt Nam về hình thức hợp đồng vay tài sản.
Pháp luật quy định: người vay mà không có trả lãi, thì người cho vay có quyền
đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và yêu cầu hoàn trả ngay lập tức cả nợ gốc
và tiền lãi trên nợ gốc tính đến thời điếm đình chỉ. Song, nếu nợ gốc được hoàn trả
theo ý chí của một bên, thì bên này phải thông báo cho bên kia biết trước trong một
thời gian họp lý (BLDS Điều 474 khoản 2). Neu họp đồng vay không có kỳ hạn và
không có lãi, thì các bên có thể thỏa thuận về việc một bên có thể đơn phương đình
chỉ thực hiện hợp đồng mà không cân thông báo trước (BLDS Điều 474 khoản 1 ).
Ngoài ra trong luật của Pháp, điều khoản quy đối tù' tiền thành tài sản khác
trong hợp đồng vay chỉ được thừa nhận là có giá trị, nếu vật quy đổi có mối quan hệ
trực tiếp với hoạt động nghề nghiệp hoặc hoạt động đầu tư của người vay hoặc của
người cho vay hoặc với mục đích sử dụng tài sản vay. Ví dụ, tiền phát vay cho
người kinh doanh ngành ăn uống được thỏa thuận quy đổi theo giá của những chai
nước khoáng. Có nghĩa rằng các bên trong hợp đồng vay có kỳ hạn mà không có lãi
chỉ có thế thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ quá hạn với nội dung như trên. Nói
DÂN
2.1. Thực trạng các quy định của BLDS năm 2005 về họp đồng vay
tài sản.
BLDS năm 2005 ghi nhận hợp đồng vay tài sản tù’ Điều 471 đến Điều
479. Theo đó, BLDS năm 2005 đã quy định khá đầy đủ các vấn đề của hợp
đồng vay tài sản từ giao kết hợp đồng vay tài sản, lãi suất trong hợp đồng vay
cũng như hiệu lực hợp đồng Xem xét cụ thể các điều luật, chúng ta có thế thấy
rõ: BLDS năm 2005 quy định khá hoàn thiện. Tuy nhiên, vẫn còn một số vướng
mắc.
2.1.1. Quy định pháp luật về giao kết hợp đồng vay tài sản.
Giao kết hợp đồng vay tài sản là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo
14
nguyên tắc và trình tự thủ tục nhất định qua đó các bên xác lập với nhau các
quyền và nghĩa vụ về việc vay tài sản.
Nguyên tắc giao kết họp đồng vay tài sản là tự do giao kết hợp đồng
nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Theo nguyên tắc này, mọi các
nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kết bất kì
một loại hợp đồng vay tài sản nào, nếu họ muốn và không ai có quyền ngăn cản.
Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thế có quyền giao kết những hợp đồng vay
tài sản đã dược pháp luật quy định. Tuy nhiên, sự tự do ý chí đó phải nằm trong
khuôn khố nhất định. Bên cạnh việc chú ý đền quyền lợi của mình, các chủ thế
phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích
của toàn xã hội. Như vậy tự do của mỗi chủ thể phải không trái pháp luật, đạo
đức xã hội. Nằm trong mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi một
chủ thể vừa có quyền “tự do
giao kết hợp đồng” vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội. Lợi ích
của cộng đồng và đạo dức xã hội được coi là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi một
chủ chủ thế trong việc giao kết hợp đồng dân sự nói chung cũng như đới với mọi
hành vi chung của họ. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã
hội không cho phép các cá nhân được tự do ý chí tuyệt đối để biến các họp đồng vay
có thời gian đế bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên đầ ấn đinh thời hạn
trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó. Neu sau thời hạn nói trên,
bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giao kết họp đồng thì lời chấp nhận
đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Nếu việc trả lời được chuyển qua đường bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu bưu
điện được coi là thời điếm trả lời. Căn cứ vào thời điếm đó đe bên đã đề nghị xác
định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định. Người được đề nghị
có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị cũng có thể chỉ chấp nhận một phần
trong nội dung đó hoặc cũng có thể chấp nhận việc giao kết họp đồng nhưng không
đồng ý nội dung mà giao kết đưa
16
2.1.2. Nội dung hợp đồng vay tài sản.
Nội dung của họp đồng là tống họp các điều khoản mà các chủ thể tham gia
giao kết họp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa
vụ dân sự cụ thể của các bên trong họp đồng.
Nội dung của họp đồng vay tài sản quy định về đối tượng; kỳ hạn; lãi suất và
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia họp đồng vay.
2.1.2.1. Đổi tượng của hợp đồng vay.
Thông thường, đối tượng của hợp đồng vay tài sản là một khoản tiền. Tuy
nhiên, trong thực tế, đối tượng của họp đồng vay tài sản có thế là vàng, kim quý
hoặc đá quý hoặc một số lượng tài sản khác. Đối tượng của hợp đồng vay tài sản
được chuyển tù' bên cho vay sang bên vay làm sở hũu. Bên vay có quyền định đoạt
đối với tài sản vay. Khi hết hạn của họp đồng vay tài sản, bên vay có nghĩa vụ trả
cho bên kia một tài sản khác cùng loại với tài sản đã vay hoặc số tiền đã vay.
2.1.2.2. Vê kỳ hạn của hợp đông vay tài sản.
Họp đồng vay tài sản có thể có hoặc không có kỳ hạn (xác định, không xác
định).
Neu hợp đồng vay tài sản không thỏa thuận về kỳ hạn thì hợp đồng vay tài sản
được coi là không có kỳ hạn. Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện
hợp đồng bất kỳ thời điếm nào. Tuy nhiên, đế tạo điều kiện cho bên vay chuấn bị
nước quy định đôi với ìoại cho vay tương ứng". Thực tế cho thấy khi áp dụng quy
định này trong nhiều năm có nhiều bất cập và không còn phù họp nừa, thay vào đó
là quy định tại Điều 476 BLDS năm 2005:
“7. Lãi suât vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của
lãi suât cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bô đôi với loại cho vay tương ứng.
2. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác
đỉnhõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì ảp dụng lãi suất cơ bản do Ngân
hàng Nhà nước công bo tương ứng với thời hạn vay tại thời điếm trả nợ.”
Quy định mới này đã dễ hiếu, thực tế và hiệu quả hơn, tránh được tình trạng
cho vay nặng lãi trong các hợp đồng vay. Và sau gần bốn năm thực hiện quy định
18
về lãi suất này, tù' ngày 01/01/2006 - ngày BLDS năm 2005 có hiệu lực thi hành,
chúng ta đã thu được những kết quả đáng mừng. Việc sửa đối như vậy một mặt là
đế phù hợp với thực tế hiện nay Ngân hàng Nhà nước không còn công bố mức lãi
suất tiết kiệm có kỳ hạn mà chỉ công bố mức lãi suất cơ bản, mặt khác cũng là đế
quy định cụ thế hơn về mức tính lãi suất vay. Ví dụ: lãi suất cơ bản do Ngân hàng
Nhà nước công bố là 1% tháng, thì mức lãi suất do các bên thỏa thuận không được
vượt quá 1,5% tháng).
* Lãi suất chậm trả trong họp đồng vay không có lãi
Khoản 4 điều 474 BLDS năm 2005 quy định: “ trường hợp vay không có lãi
mà khi đên hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đây đủ thì bên vay phải trả lãi
đoi với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bô
tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điếm trả nợ, nếu có thỏa thuận”.
Quy định này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi đối với bên cho vay tài sản.
Theo quy định này thì điều kiện để tính lãi là: Vay không có lãi mà có thỏa thuận về
việc tính lãi đối với số tiền chậm trả và den hạn trả mà bên vay không trả hoặc trả
không đầy đủ.
Đối tượng tính lãi là khoản nợ chậm trả. Lãi suất để tính lãi là lãi suất cơ bản
do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ. Thời hạn để tính lãi là khoảng
thời gian từ thời điểm trả nợ đến thời điểm giải quyết việc trả nợ. Neu vụ việc do
Ngày 01/9/2009, M khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết đế H trả số tiền còn nợ
và tiền lãi.
Vụ án dân sự này khác vụ án ở ví dụ 1 ở chỗ: Đen hạn trả nợ, người vay không
trả đầy đủ. Do đó, số tiền chậm trả chính là số tiền mà H còn nợ M là 40 triệu đồng
(số tiền này là đối tượng đế tính lãi).
Việc xác định thời điểm trả nợ, thời hạn mà H phải trả, lãi suất phải trả, số tiền
mà lãi mà H phải trả và tống số tiền mà H phải trả cho M theo cách xác định trình
bày ở ví dụ 1.
Trong thực tế, khi thực hiện quy định tại khoản 4 Điều 474 BLDS năm 2005
đã có trường hợp vay không có lãi, bên vay và bên cho vay không thỏa thuận việc
20
tính lãi đối với số tiền chậm trả, nhưng khi giải quyết, Tòa án vẫn buộc bên vay phải
chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Nguyên nhân của thiếu sót này là do người có thẩm
quyền giải quyết đã “bỏ quên” cụm từ “ nếu có thỏa thuận” ghi ở cuối cùng trong
khoản 4 Điều 474 BLDS.
* Lãi suất trong họp đồng vay có thỏa thuận lãi
Khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005 có quy định:
“ trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả
không đây đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gôc và ỉãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ
bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời đỉêm trả
nợ”.
Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của bên vay tài sản trong trường hợp
mức lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố
tại thời điểm trả nợ. Vì trong thực tế vẫn có nhiều trường hợp người cho vay tài sản
chỉ lấy lãi bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm hoặc lãi suất cho vay cao hơn lãi suất
tiền gửi tiết kiệm không thời hạn, nhưng lại thấp hơn lãi suất quy định trong BLDS
tại thời điểm trả nợ.
Theo quy định tai khoản 5 điều 474 BLDS năm 2005 ta thấy rằng: Trường hợp
vay có lãi mà khi đến hạn trả, bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, thì bên vay
phải hai khoản tiền lãi: Một là: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất do các bên vay và cho
Bản thân các quy định về lãi suất cơ bản, suy cho cùng, cũng là kết quả tham
khảo từ lãi suất thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam, nhưng thực chất lại thường
mang tính chủ quan của cơ quan quản lý (Thống đôc Ngân hàng Nhà nước), không
theo kịp lãi suất thực tế diễn ra trên thị trường, và đôi khi tỏ ra lạc hậu rất xa so với
thực tế.
Vì BLDS là một bộ luật lớn, có vai trò quan trọng trong việc ốn định các quan
hệ dân sự trong xã hội, bảo đảm sự an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, nên cần
phải có những điều khoản được quy định thật chặt chẽ, đảm bảo tính ổn định và giá
trị lâu bền của bộ luật.
Việc chọn lãi suất theo công bố của liên ngân hàng có nhiều ưu điểm, như:
22
được công bố rộng rãi, công khai, được công chúng biết đến tương đối phổ biến, cơ
bản phản ánh được mức lãi suất thực chất của thị trường vốn. Tuy nhiên, mức lãi
suất này cũng có những nhược điểm có thể sẽ làm vô hiệu hóa ý định ban đầu của
nhà làm luật trong việc kiểm soát mức lãi suất. Chẳng hạn: tính chất không chính
thức và không mang tính đại diện của thông tin lãi suất được công bố trên thị trường
liên ngân hàng: loại lãi suất này không do Nhà nước công bố chính thức mà chỉ là
kết quả tham khảo do liên minh một số ngân hàng hoặc tố chức tín dụng đề xuất,
nên nó không phải là sự thể hiện ý chung của mọi ngân hàng; Tính không chuẩn xác
hay không thích ứng với mọi loại lãi suất thương mại: lãi suất liên ngân hàng chi để
tham khảo cho các ngân hàng thương mại trong cam kết nội bộ giữa các ngân hàng
chứ không phải là lãi suất cho vay thông dụng; Tính không ốn định hay tính linh
hoạt quá mức trước diễn biến của thị trường: lãi suất liên ngân hàng rất linh hoạt và
không ổn định, nhiều khi có sự thay đổi lớn về mức lãi suất trong một thời gian rất
ngắn (có khi từng ngày, thậm chí từng buối trong ngày), với độ giãn biên lớn, tạo ra
sự chênh lệch rất cao về mức lãi suất được công bố giữa các kỳ gần nhất, trong một
chu kỳ lãi suất rất ngắn.
Thứ hai là, mặc dù có sự khác nhau cơ bản giữa cho vay dân sự và cho vay
thương mại, nhưng lại dùng một quy định pháp luật đế điều chỉnh chung là không
hợp lý. Trong khi, mục tiêu của Luật Dân sự quy định lãi suất là đế "chống cho vay