i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ MINH ĐỨC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH THU NHẬN
PHLOROTANNIN TỪ MỘT SỐ LOÀI RONG NÂU
SARGASSUM VÙNG BIỂN NAM TRUNG BỘ, ĐẠT
TIÊU CHUẨN LÀM DƯỢC LIỆU LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THANH VÂN
PGS - TS. NGÔ ĐĂNG NGHĨA
Khánh Hòa - 2013
i LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn Lê Minh Đức
ii
1.1.4. Tình hình sử dụng, chế biến rong biển ở Việt Nam 6
1.2. Giới thiệu về đặc điểm sinh học và sự phân bố của rong nâu và rong mơ (Sargassum) 8
1.2.1. Đặc điểm và sự phân bố của rong nâu 8
1.2.2. Thành phần hóa học của rong nâu 10
1.2.3. Đặc điểm và sự phân bố của rong mơ (Sargassum ) [4] 12
1.3. Tổng quan về phlorotannin 14
1.3.1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực của đề tài 14
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
1.4. Giới thiệu về quá trình trích ly 18
1.4.1. Nguyên lý 18
1.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết 21
1.4.3. Tổng quan về dung môi chiết 21
1.4.4. Tìm hiểu một số loại dung môi chiết trong đề tài 23
1.5. Giới thiệu về một số phương pháp làm sạch và tinh chế phlorotannin 25
1.5.1. Làm sạch phlorotannin bằng phương pháp chiết lỏng-lỏng 25
1.5.2. Tinh chế phlorotannin bằng sắc kí cột sử dụng chất hấp phụ là silicagel 26
1.5.3. Kiểm tra độ tinh sạch của chế phẩm tinh bằng phương pháp sắc kí bản mỏng và
HPLC-MS và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) 27
1.6. Tổng quan về quá trình tách chiết 27
iv
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU30
2.1. Đối tượng nghiên cứu 30
2.2. Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1. Quy trình dự kiến để nghiên cứu tách chiết phlorotannin 31
2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu 32
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1. Xác định một số thành phần hóa học chủ yếu của rong nguyên liệu 37
3.2. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết phlorotannin từ rong nâu 37
3.2.1. Xác định ảnh hưởng của dung môi đến khả năng chiết phlorotannin và hoạt tính
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ dung môi ethanol: nước đến hàm lượng phlorotannin và
hoạt tính chống oxi hóa tổng số (tính theo mg AcB) và hoạt tính khử (tính theo mg Fe)
của chất chiết xiv
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của tỉ lệ nguyên liệu:dung môi đến hàm lượng phlorotannin và hoạt
tính chống oxi hóa tổng số (tính theo mg AcB) và hoạt tính khử (tính theo mg Fe) của chất
chiết xiv
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của nhiệt độ chiết đến hàm lượng phlorotannin và hoạt tính
chống oxi hóa tổng số (tính theo mg AcB) và hoạt tính khử (tính theo mg Fe) của chất
chiết xv
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hàm lượng phlorotannin và hoạt tính
chống oxi hóa tổng số (tính theo mg AcB) và hoạt tính khử (tính theo mg Fe) của chất
chiết xv
Bảng 3.7. Thành phần hóa học chính của cao ethanol từ rong nâu 48
Bảng 3.8. Hoạt tính phlorotannin, hoạt tính chống oxi hóa của các phân đoạn chiết
khác nhau 48
Bảng 3.9. Hệ dung môi rửa giải và khối lượng các phân đoạn 50
Bảng 3.10. Hệ dung môi rửa giải và khối lượng các phân đoạn khi làm sạch bằng sắc
kí cột lần 2 51
Bảng 3.11. Hoạt tính chống oxi hóa của phlorotannin và acid ascorbic, butylated
hydroxitoluene (BHT) tính theo mg chất 55
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Cấu trúc của phloroglucinol (i) và phlorotannins [tetrafucol A (ii),
tetraphlorethol B (iii), fucodiphlorethol A (iv), tetrafuhalol A (v), tetraisofuhalol (vi),
phlorofucofuroeckol (vii)] (modified after Ragan and Glombitza, 1986) 15
Hình 2.1. Rong mơ Sargassum mcclurei 30
Hình 2.2. Sơ đồ tổng quát các nội dung nghiên cứu 31
Hình 3.1. Ảnh hưởng của nồng độ dung môi ethanol đến hàm lượng phlorotannin của
chất chiết 41
DPPH : Diphenyl-1-picrylhydrazyl
HPLC-MS : Sắc kí lỏng hiệu năng cao ghép đầu dò khối phổ
NMR :
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
NL : Nguyên liệu
STT : Số thứ tự
1
MỞ ĐẦU
Rong biển được xếp vào nhóm tảo thuộc ngành thực vật bậc thấp, có nhiều
chủng loại và là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe, có thể dự trữ được trong nhiều năm.
Ngày nay, rong biển đã và đang trở nên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
Đã từ rất nhiều năm trước đây nhân dân vùng ven biển nước ta đã biết khai thác
rong biển làm thức ăn thay rau xanh hàng ngày hoặc nấu thành thạch để giải khát.
Thông dụng nhất là một số loài trong chi rong cải biển (Ulva), chi rong mơ
(Sargassum), chi rong câu (Gracilaria), chi rong mứt (Porphyra) và chi rong đông
(Hypnea). Tuy nhiên số lượng khai thác sử dụng không nhiều và chưa thực sự trở
thành hàng hoá. Nhưng từ những năm 1960 trở lại đây thì mức độ khai thác và sử dụng
rong biển đã tăng lên rất nhanh do kết quả của các công trình nghiên cứu xác định giá
trị kinh tế và công nghệ chế biến một số loài rong biển. Các loài rong thực phẩm đã
được phơi khô, rửa sạch bán trên thị trường. Một số loại rong nguyên liệu chiết suất
keo công nghiệp như agar, alginate đã được khai thác với số lượng lớn, hàng trăm tấn
khô mỗi năm. Những năm đầu 1990 sản lượng rong câu khô đạt trên dưới 2000 tấn
khô/năm. Rong dược liệu đã được các cơ quan chuyên ngành nghiên cứu sử dụng. Một
số loài được dùng làm thức ăn gia súc với mức khai thác đáng kể. Cho dù chưa có quy
hoạch xứng tầm, nhưng nguồn tài nguyên biển Việt Nam là điều mơ ước của nhiều nhà
đầu tư, trong đó có việc nuôi trồng rong biển sản xuất thực phẩm, thức uống, làm
nguyên liệu công nghiệp và nhiên liệu sinh học.
Rong mơ Sargassum là một giống tảo lớn (macroalgae) thuộc họ rong mơ
cấu trúc, xây dựng qui trình tách chiết và sàng lọc các hoạt tính sinh học của
phlorotannin từ rong nâu. Từ kết quả thu được là cơ sở để xây dựng công nghệ tích
hợp và nâng cao hiệu quả chế biến rong nâu tạo ra sản phẩm dược liệu.
Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề nói trên. Vì
vậy, đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình thu nhận phlorotannin từ một số loài rong
nâu Sargassum vùng biển Nam Trung bộ, đạt tiêu chuẩn làm dược liệu” là cần thiết, góp
phần mở rộng nguồn nguyên liệu về dược liệu, công nghệ sinh học và nông nghiệp.
Tính khoa học của đề tài
- Kết quả của đề tài là tập hợp có hệ thống các thông số chiết tách dịch chiết
phlorotannin từ một số loài rong mơ (Sargassum).
- Kết quả của đề tài cũng cung cấp hệ thống các giá trị khoa học mới về dịch chiết
của loài rong mơ (Sargassum) có hoạt tính kháng oxi hóa từ đó định hướng sử dụng
làm dược liệu.
Tính thực tiễn của đề tài
- Thành công của đề tài sẽ góp phần cung cấp dữ liệu mới về dược tính của rong
biển cho ngành y học, sinh học, công nghệ thực phẩm và nông nghiệp, góp phần đa
3
dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường dược liệu từ rong biển đồng thời khắc phục
tình trạng nhập khẩu dược liệu hiện nay, hạn chế sự lãng phí nguồn nguyên liệu rong
biển Việt Nam.
- Ngoài ra, thành công của đề tài cũng góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi
trường hiện nay của Việt Nam, cung cấp thêm các thông số khoa học bổ sung vào các
tài liệu phục vụ cho giảng dạy ngành Công nghệ Thực phẩm, ngành Công nghệ Sinh
học và là cơ sở cho các công trình nghiên cứu về dược tính rong biển tiếp theo.
Mục tiêu của đề tài
- Đưa ra được quy trình tinh chế phlorotannin từ chi rong mơ (Sargassum) Việt Nam.
- Thử một số hoạt tính (hoạt tính chống oxi hóa) của chế phẩm phlorotannin chiết
từ rong mơ Việt Nam, định hướng sử dụng chế phẩm làm dược liệu.
Nội dung nghiên cứu
học (fucoidan, laminaran, polyuromannan, alginate) và các chất chuyển hóa thứ cấp
như alkaloids, phlorotannin, acetogenins, và terpenes. Ước tính tổng trữ lượng rong
biển ven bờ tây vịnh Bắc Bộ đạt khoảng 65.000 tấn. Trữ lượng nguồn tài nguyên rong
biển ước tính đạt hàng trăm nghìn tấn/ năm. Riêng rong câu nâu trữ lượng khoảng
10.000 tấn khô/năm.
1.1.2. Sự phân bố và nguồn lợi rong biển
1.1.2.1. Sự phân bố
Rong biển thường phân bố ở các vùng nước mặn, nước lợ, cửa sông, vùng triều
sâu và vùng biển cạn,…Rong đỏ và rong nâu là 02 đối tượng được nghiên cứu với sản
lượng lớn và được ứng dụng nhiều trong các ngành công nghiệp và đời sống.
Các yếu tố sinh thái biển có ảnh hưởng đến đời sống rong biển như: địa bàn
sinh trưởng, nhiệt độ, ánh sáng, độ muối, độ pH, muối dinh dưỡng, khí hòa tan, mức
triều, sóng , gió, hải lưu. Các yếu tố này chính là các điều kiện xác định vùng phân bố
của các loài rong tảo biển khác nhau trong cùng một chi.
5
1.1.2.2. Nguồn lợi rong biển trên thế giới
Nguồn lợi rong biển trên thế giới là rất lớn, song sản lượng rong được khai thác
và sử dụng hàng năm không đều. Sản lượng rong biển trên thế giới phân bố theo khu
vực được thể hiện trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Sản lượng rong biển trên thế giới phân bố theo khu vực [6]
Tên khu vực Sản lượng rong biển để sản xuất các loại keo (tấn)
Alginate Agar Carrageenan và fucellaran
Châu Á 4570 18088
17900
Mỹ la tinh 12800 9990 5720
Châu Âu 34000 6350 8400
Bắc Mỹ 42000 7000
Các nơi khác 6000 1660 150
. Ðặc biệt trong rong có chứa một lượng khá
lớn nguyên tố strontium (Sr), cỡ 10
-3
g/g từ nước biển với lượng tích tụ cao hơn khoảng
100 lần hàm lượng trong nước biển. Người ta còn phát hiện chất natri alginate chiết từ
rong biển Sargassum có thể chữa được bệnh nhiễm phóng xạ vì chất này uống vào sẽ
hấp thu Sr phóng xạ đã bị nhiễm trong cơ thể rồi thải ra ngoài.
Ngoài ra còn có một loại đường khác là mannitol ở trong vách tế bào có tác
dụng trong chữa bệnh tiểu đường. Hàm lượng protein trong rong biển Sargassum
chiếm từ 5 – 15% tổng lượng khoáng chiếm từ 20 – 40% bao gồm các nguyên tố cần
thiết như iod có hàm lượng từ 0,08 đến 0,34% làm cho rong biển Sargassum có đặc
tính có thể chữa bệnh bướu cổ.
Rong Sargassum còn có các phospholipit dùng trong y dược và các hợp chất có
hoạt tính sinh học khác được nhân dân ven biển dùng để nấu canh hay kho với thịt cá
như một loại rau. Vào mùa nóng ngư dân nấu nước pha đường uống như một thứ
nước giải nhiệt. Trong Đông y, rong biển Sargassum khô là một loài dược thảo.
Chúng được ngâm vào nước nóng và uống như trà để chữa bệnh bướu cổ và cung cấp
các nguyên tố vi lượng khác.
Do có giá trị dinh dưỡng và phòng chữa bệnh cao nên ngày nay nhiều nước đã
và đang phát triển công nghiệp chế biến rong thành các sản phẩm thực phẩm, thuốc để
bán rộng rãi trong các cửa hàng thực phẩm và hiệu thuốc. Sự chú ý lớn được hướng tới
là chất lượng của các loài rong biển cũng như các sản phẩm cuối cùng và bán thành
phẩm dựa trên cơ sở của chúng. Chính điều này đang mở ra một triển vọng to lớn cho
một lĩnh vực chế biến hải sản mới là chế biến rong biển. Điều đang được quan tâm lớn
là cần thiết phải nghiên cứu các đặc tính sinh hóa và khả năng nhạy cảm của nguyên
liệu rong để xác định công nghệ chế biến và chế tạo ra các máy móc thiết bị chế biến
phù hợp.
1.1.4. Tình hình sử dụng, chế biến rong biển ở Việt Nam
1.1.4.1. Tình hình sử dụng và chế biến rong biển nói chung
Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi về biển nhưng sự đầu tư phát triển nuôi trồng,
Drink, BluBio; rong xoắn Spirulina Selen, BluBio; rong lục greengem; rong Beauty
Spirulina các chế phẩm dạng khác như thực phẩm chức năng ăn kiêng Spirulina thực
phẩm Diat Drink (Spirulina Diet Drink) ngoài ra còn có chất chiết từ tảo còn được
dùng trong một số sản phẩm như thuốc đắp, thuốc làm mặt nạ, kem hoặc dùng để tắm.
Riêng rong đỏ Asparagopsis có tính năng diệt khuẩn và nấm, giúp chống mụn và hiện
tượng gàu.
Ở nước ta, thực phẩm từ rong biển chưa thực sự được chú ý, là một vấn đề còn
đang bỏ ngỏ. Một số cơ sở chế biến nhỏ tại gia đình như: làm gỏi, nấu thạch, đông
sương, mứt, kẹo, chè rong biển, …món ăn đặc sản được chế biến từ rong biển như gỏi,
8
nộm, canh rong biển, rong biển xào tôm thịt, rong biển hầm sườn non, rong biển
chiên… Tuy nhiên các sản phẩm này chưa nhiều, chưa phổ biến, rất ít người dân biết
đến các loại thực phẩm đặc biệt này.
Một số ứng dụng trong phòng chữa bệnh của rong biển cần phải kể tới như:
- Làm sạch ruột, ngừa táo bón- Giảm huyết áp: Trong rong biển hàm chứa một
lượng chất khoáng rất phong phú. Thực tế, khoa học đã chứng minh rằng rong biển
hấp thu từ nước biển hơn 90 loại khoáng chất với hàm lượng muối thấp và canxi cao.
Chính vì lẽ đó mà rong biển là thực phẩm được ưu tiên hàng đầu đối với những người
bị cao huyết áp.
- Giảm cholesterol: Cuộc sống ngày nay ai cũng sợ các thực phẩm giàu
cholesterol, nguyên nhân gây nên bệnh béo phì. Vậy nên các thực phẩm với hàm lượng
calo thấp, nhưng vẫn đảm bảo ngon miệng như rong biển đang rất được coi trọng.
- Diệt khuẩn, làm sạch máu: Thành phần quan trọng nhất có trong rong biển là
fertile clement. Đây là chất có tác dụng điều tiết máu lưu thông, tiêu độc, loại bỏ các
cặn bã có trong cơ thể. Thêm vào đó, nó còn là chất không thể thiếu của tuyến giáp
trạng, nơi tiết ra hooc-môn sinh trưởng, giúp cơ thể phát triển.
Đặc biệt, gần đây, đã có một số công trình công bố về hoạt tính chống viêm
nhiễm, kháng vi sinh vật kiểm định, chống dị ứng, chống ung thư, kháng vi rút HIV và
điều hòa đường huyết của chất chiết phlorotannin từ rong biển, mở ra tiềm năng rất lớn
Đà Nẵng
Bình
Định
Khánh
Hòa
Ninh
Thuận
1 Sargassum mcclurei x x x x
2 Sargassum graminifolium (rong mơ tro lá nhánh) x
3
Sargassum phamhoangii (một loài rong mới
tìm thấy ở Việt Nam)
x
4 Sargassum siliquosum
5 Sargassum congkinhii x x
6 Sargassum crassifolium x
7 Sargassum patens var. vietnamese Dai x
8 Sargassum quinhonense Dai x
9 Sargassum polycystum x x
10 Sargassum kjellmanianum x x
11 Sargassum microcystum x
12 Turbinaria ornata (rong cùi bắp) x x
13 Padina australis (rong cánh quạt) x x
14 Padina tetrastromatica (rong quạt 4 lớp) x
Rong nâu phân bố tại vùng biển Quảng Nam - Đà Nẵng không nhiều so với
vùng biển Khánh Hòa và Ninh Thuận. Quảng Nam- Đà Nẵng tuy có nhiều triền đá
dốc, bãi đá cội, bãi san hô chết nhưng có chiều ngang rất hẹp (1 đến 10m) nên diện
tích phân bố rất nhỏ, trữ lượng không cao.
10
(tháng)
Quảng Nam – Đà Nẵng 190000 2 – 7 3-4-5
Bình Định 42750 2.5 3-4-5
Khánh Hòa 2000000 5.5 3-4-5
Ninh Thuận 1500000 7 3-4-5
1.2.2. Thành phần hóa học của rong nâu
1.2.2.1. Sắc tố
Sắc tố trong rong nâu là diệp lục tố (chlorophyl), diệp hoàng tố (xantophyl), sắc
tố màu nâu (fucoxanthin), sắc tố đỏ (caroten). Tùy theo tỉ lệ các loại sắc tố mà rong có
màu từ nâu – vàng nâu – nâu đậm – vàng lục. Nhìn chung sắc tố của rong nâu khá bền.
1.2.2.2. Gluxid
a. Monosaccharide
Monosaccharide quan trọng trong rong nâu là đường mannitol được Stenhouds
phát hiện năm 1884 và được Kylin (1913) chứng minh thêm.
Mannitol có công thức tổng quát: HOCH
2
-(CHOH)
4
-CH
2
OH
11
Mannitol tan được trong alcol, dễ tan trong nước, có vị ngọt, hàm lượng từ 14
đến 25% trọng lượng rong khô tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lý nơi sinh sống.
Trong quá trình bảo quản rong khô, có hiện tượng xuất hiện các đốm trắng trên
thân cây rong, đó là hỗn hợp muối và đường mannitol theo tỉ lệ: muối 60 - 80%, mannitol
20 - 40%. Rong bảo quản không tốt, độ ẩm cao làm cho mannitol bị phá hủy.
b. Polysaccharid
- Alginate: là một polysaccharide tập trung ở vách tế bào, là thành phần chủ
thể sử dụng làm thực phẩm. Protein của rong nâu thường ở dạng kết hợp với iod tạo
iod hữu cơ như: monoiodinzodizin, diiodinzodizin. Iod hữu cơ rất có giá trị trong y
học. Do vậy, rong nâu còn được dùng làm thuốc phòng chống và chữa bệnh bướu cổ
(Basedow). Hàm lượng protein trong rong nâu vùng biển Nha Trang dao động từ 8,05
– 21,11% so với trọng lượng rong khô [6]. Hàm lượng acid amin cũng đáng kể và có
giá trị cao trong protein của rong biển.
1.2.2.4. Chất khoáng
Hàm lượng các chất khoáng trong rong nâu thường lớn hơn nước biển. Chẳng
hạn: iod của rong nâu lớn hơn nước biển từ 80 - 90 lần, hàm lượng bari lớn hơn trong
nước biển 1800 lần. Một số loài rong nâu có khả năng hấp thụ một số chất phóng xạ,
do đó có thể dùng rong nâu để xác định độ nhiễm phóng xạ của một vùng địa lý nào
đó. Hàm lượng khoáng của các loài rong nâu Nha Trang dao động từ 15,51- 46,30%
phụ thuộc vào mùa vụ, thời kỳ sinh trưởng. Trong rong nâu có đầy đủ các nguyên tố
khoáng đa lượng và vi lượng như: Na, K, Ca, Fe, Mg, Mn, Cu,…
Trong rong nâu, iod là thành phần khoáng vi lượng được quan tâm nhất. Iod
trong rong nâu tồn tại chủ yếu ở dạng hợp chất hữu cơ, một phần ở dạng vô cơ. Các
hợp chất iod trong rong nâu có tính tan trong nước nên khi rong bị dập nát rất dễ bị
hao tổn iod. Hàm lượng iod trong một số loài rong nâu dao động từ 0,05 - 0,16% so
với rong khô tuyệt đối. Sự biến đổi hàm lượng iod khá rõ rệt, thường vào mùa đông,
rong nâu có hàm lượng iod cao hơn mùa hè.
1.2.2.5. Hỗn hợp phenolic
Theo Ragan và Glombitza [23], hợp chất phổ biến trong rong nâu thuộc nhóm
phlorotanninic là phlorotannin. Phlorotannin là chất chuyển hóa thứ cấp, xuất hiện chủ
yếu ở các mô, tại đó, nồng độ có thể tới 20% so với khối lượng tịnh của rong biển.
Schoenwaelder (2002) [25] chỉ ra một số chức năng của chúng như tăng tính liên kết
và độ chắc cho thành tế bào. phlorotanninorotannin hấp thụ bước sóng UV, chủ yếu là
UVC và một phần UVB, với cực đại tại 195nm và 265nm.
1.2.3. Đặc điểm và sự phân bố của rong mơ (Sargassum ) [4]
Rong mơ Sargassum là một giống tảo lớn (macroalgae) thuộc họ rong mỡ
Sargassaceae sống trôi nổi trong nước.
đáy cứng là đá tảng và san hô chết phân bố phổ biến; rong mơ là loài ưu thế nhất ở các
khu vực được thể hiện qua các thông số như trữ lượng chiếm 98% tổng trữ lượng của
bãi rong, độ bao phủ trung bình đạt 43,71%, mật độ cây trung bình 43,8±20,2 cây/m
2
và sinh lượng trung bình đạt 456.1±64,2 g khô/m
2
; các quần thể rong mơ có một kiểu
chu trình phát triển, chúng chỉ có một thời điểm cho sinh lượng và sinh sản cao nhất
trong năm; diện tích phân bố các thảm rong mơ được ước tính là 1167,33 ha, trữ lượng
7302,12 tấn khô/năm, tập trung ở 4 khu vực chính như sau: Vịnh Vân Phong, đầm Nha
14
Phu, vịnh Nha Trang và vịnh Cam Ranh; người dân ven biển chỉ khai thác khoảng
60% tổng trữ lượng rong mơ trong năm 2008; sự tương quan giữa chiều dài với trọng
lượng các thể của các loài rong mơ có giá trị trung bình là 0,7 và giữa chiều dài với
sinh lượng là 0,78. Rong mơ phân bố phổ biến từ 0 m hải đồ cho đến chiều sâu 15 m
nước; mùa vụ khai thác rong mơ được phân làm 3 thời điểm theo 3 vùng: vùng bãi
rong cạn, sâu và cạn ngầm; khi cắt rong mơ chừa thân chính 10 cm là tốt nhất để rong
mơ có khả năng tái phát triển và hình thành thêm thỏi sinh sản.
1.3. Tổng quan về phlorotannin
1.3.1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực của đề tài
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về phlorotannin từ thực vật trên đất liền đã
và đang được triển khai tại các Viện nghiên cứu, trường đại học cũng như các cơ sở
sản xuất như: Đại học Bách Khoa Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Viện Hóa học công
nghiệp…. Đối tượng nghiên cứu được quan tâm nhiều nhất là polyphenol từ lá trà.
Ngược lại với polyphenol từ thực vật trên cạn, các nghiên cứu về phlorotannin từ
thực vật biển nói chung và rong biển nói riêng rất ít, chỉ có một vài công bố của nhóm
nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang trong vài năm gần
đây đề cập đến hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của dung dịch chiết cồn và quy trình
Các gốc phloroglucinol này liên kết với nhau bằng nhiều cách khác nhau. Chính
vì vậy mà chúng tạo nên nhiều dạng cấu trúc khác nhau và đôi khi có trọng lượng phân
tử lên đến 650 KDa. Cho đến nay, trên thế giới có một số cấu trúc của các hợp chất
thuộc nhóm phlorotannin từ rong nâu đã được xác định và nhiều dịch chiết thô của
chúng đã được khảo sát hoạt tính sinh học. Tuy nhiên, rất ít công trình công bố một
cách đầy đủ các cấu trúc của tất cả các dẫn xuất của phloroglucinol trong dịch chiết
phlorotannin thô được chiết từ một loài rong cụ thể và hoạt tính của chúng và các công
trình này chỉ được công bố trong 10 năm trở lại đây.
Hình 1.1. Cấu trúc phân tử của phloroglucinol (i ) và phlorotannins [tetrafucol A
(ii), tetraphlorethol B (iii), fucodiphlorethol A (iv), tetrafuhalol A (v), tetraisofuhalol
(vi), phlorofucofuroeckol (vii)] (modified after Ragan and Glombitza, 1986) [27]
Phần lớn các nghiên cứu về cấu trúc của phlorotannin không đề cập đồng
thời đến hoạt tính của chúng hoặc là chỉ xác định cấu trúc của một vài hợp chất mà chúng
16
có hoạt tính. Sử dụng các phương pháp hóa học (chiết, acetyl hóa toàn phần, sắc kí gel, sắc
kí bản mỏng) và các phương pháp vật lý (Phổ NMR, HPLC, FAB-MS), Karl-Werner
Glombitza và cộng sự [19] đã xác định được cấu trúc của phlorotannin chiết từ loài rong
Carpophyllum angustifolium bao gồm các cấu trúc trihydroxiheptaphlorethol-A
octadecaacetate, trihydroxioctaphlorethol-A eicosaacetate và trihydroxioctaphlorethol-B
eicosaacetate. Sử dụng phương pháp nghiên cứu tương tự như trên, nhóm tác giả này tiếp
tục đưa ra 03 dạng cấu trúc khác nhau của phlorotannin chiết từ loài rong Cystophora
retroflexa. Dạng 1: difucol hexa-acetate, dạng 2: phlorethols (có 03 chất), dạng 3:
fucophlorethol (có 10 chất như: tetraphlorethol-E nona-acetate, pentaphlorethol-B
undeca-acetate, hexaphlorethol-A trideca-acetate, fucotriphlorethol-G dodeca-acetate,
fucotriphlorethol-H, ). Trong công trình của mình, Koki Nagayama và cộng sự [20]
đã đưa ra đồng thời cả hoạt tính và cấu trúc của một số hợp chất thuộc nhóm
phlorotannin được chiết từ loài rong Ecklonia kurome. Cấu trúc của chúng như sau:
eckol (trimer, 9%), phlorofucofuroeckol A (pentamer, 28%), dieckol (hexamer, 24%),