BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
*** * * *
* * ****
NGUYỄN TUẤN HẢIĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
CUNG CẤP ĐIỆN TẠI ĐIỆN LỰC NINH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Th.S, NCS. Lê Chí Công
Nha Trang - 2012
iLỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung thực hiện của luận văn này là kết quả nghiên
cứa của bản thân, không sao chép kết quả nghiên cứu của người khác. Tôi xin chịu
trách nhiệm hoàn toàn nếu có bất kì sự gian dối nào.
Người cam đoan
Nguyễn Tuấn Hải
iiLỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp. Nhân
dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu, các phòng ban chức năng, quý thầy cô giáo đã giảng dạy, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong thời gian học tập,
1.2.2.1. Phân loại theo chủ thể thực hiện dịch vụ 6
1.2.2.2. Theo mục đích 6
1.2.2.3. Theo nội dung 6
1.2.2.4. Theo mức độ tiêu chuẩn hoá dịch vụ có khả năng tiêu chuẩn hoá cao 6
1.2.2.5. Dịch vụ theo yêu cầu 6
1.2.3. Dịch vụ cung cấp điện và đặc điểm của nó 7
1.2.3.1 Tổng quan về hệ thống điện 7
1.2.3.2. Đặc điểm chung của lưới điện phân phối 7
1.2.3.3. Ảnh hưởng của lưới phân phối đến khách hàng sử dụng điện 7
1.2.3.4. Dịch vụ cung cấp điện 7
1.2.3.5.Đặc điểm dịch vụ cung cấp điện 10
1.3. Chất lượng dịch vụ 11
1.3.1. Khái niệm 11
1.3.2. Chất lượng dịch vụ cung cấp điện 12
1.3.2.1. Khái niệm chất lượng dịch vụ cung cấp điện 12
1.3.2.2.Khái niệm chung về chất lượng điện năng 12
1.3.2.3 Vai trò của chất lượng điện năng 13
1.3.2.4.Chất lượng điện áp 14
1.3.2.5.Chất lượng tần số 15
iv1.3.2.6.Ảnh hưởng của chất lượng điện năng đến dịch vụ cung cấp điện 15
1.3.3. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ 17
1.3.2.1 Mô hình SERVQUAL 17
1.3.2.2. Giới thiệu mô hình IPA 21
1.3.2.3. Quy trình phát triển IPA 22
1.3.2.4. So sánh công cụ IPA và SERVQUAL 22
1.3.2.5. Đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả 23
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.4.1.3 Sử dụng mô hình IPA 47
3.4.2 Kết quả nghiên cứu từ đánh giá khách hàng sử dụng điện cho mục đích
khác 48
3.4.2.1 Tầm quan trọng và mức độ thực hiện 48
3.4.2.2 Kiểm định mức độ khác biệt 50
3.4.2.3 Sử dụng mô hình IPA 52
3.4.2.4 So sánh khách hàng cá nhân với khách hàng tổ chức 54
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH
VỤ CUNG CẤP ĐIỆN TẠI ĐIỆN LỰC NINH HÒA 58
4.1 Đặt vấn đề 58
4.2 Kết quả chính và một số hạn chế của nghiên cứu 58
4.2.1 Một số kết quả chính của nghiên cứu 58
4.2.2 Một số hạn chế 60
4.3. Đề xuất một số giải pháp 60
4.3.1. Giải pháp nâng cao mức độ hiểu biết về khách hàng 60
4.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng điện năng 61
4.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng 62
4.2.4. Giải pháp về phát triển nhân lực, nâng cao đời sống người lao động 63
4.2.5. Giải pháp về hoàn thiện và nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý của
doanh nghiệp 63
4.4 Một số kiến nghị 65
4.4.1 Đối với Nhà nước 65
4.4.2 Đối với ngành Điện 65
4.4.3 Đối với Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Sơ đồ Quy trình cấp điện 8
Hình 1.2 Sơ đồ Quy trình kinh doanh điện năng 9
Hình 1.3: Mô hình SERVQUAL trong đánh giá chất lượng dịch vụ 20
Hình 1.4 Mô hình IPA 24
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 25
Hình 3.1: Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa 35
Hình 3.2 Cơ cấu bộ máy quản lý của Điện lực Ninh Hòa 38
Hình 3.3: Sự khác nhau của tầm quan trọng và mức độ thực hiện của các thuộc
tính trong đánh giá chất lượng dịch vụ điện 47
Hình 3.4: Sự khác nhau của tầm quan trọng và mức độ thực hiện của các thuộc
tính trong đánh giá chất lượng dịch vụ điện 53
Hình 3.5: Sự khác nhau của tầm quan trọng và mức độ thực hiện của các thuộc
tính trong đánh giá chất lượng dịch vụ điện (khách hàng cá nhân) 53
Hình 3.6: Sự khác nhau của tầm quan trọng và mức độ thực hiện của các thuộc
tính trong đánh giá chất lượng dịch vụ điện (khách hàng tổ chức) 54
Hình 3.7: Sự khác nhau của tầm quan trọng và mức độ thực hiện của các thuộc
tính trong đánh giá chất lượng dịch vụ điện (so sách 02 nhóm đối tượng khách
hàng 56
viiiDANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt Diễn giải
BHLĐ Bảo hộ lao động
chính làm cho việc huy động vốn hết sức khó khăn; thiên tai nắng nóng và khô hạn
kéo dài nhất trong lịch sử 100 năm qua gây khó khăn lớn cho việc cung ứng điện;
một số nguồn nhiệt điện than ở miền Bắc bị sự cố và xử lý kéo dài nên không huy
động đúng kế hoạch; đường dây 500kV Bắc - Nam liên tục phải truyền tải ở mức
cao, vượt sản lượng nhiều so với kế hoạch đầu năm, ảnh hưởng đến cân đối tài chính
của Tập đoàn.
Tình hình mất cân đối giữa cung và cầu điện là một vấn đề lớn, giá điện hiện
nay vẫn chưa phản ánh đúng với thực tế giá thành, nền tảng về công nghệ và hạ tầng
kỹ thuật của ngành điện vẫn còn hạn chế. Vì thế, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp trong lĩnh vực điện lực, đa dạng hóa chủ sở hữu và đi đến một thị
trường điện cạnh tranh là xu hướng tất yếu mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết với các
tổ chức tài chính quốc tế.
Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa là đơn vị đầu tiên và duy nhất đến thời
điểm này trong lĩnh vực phân phối điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện cổ
phần hoá và niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong bối cảnh lạm phát
vẫn còn cao, phân phối điện vẫn mang tính độc quyền, ngành điện trong những năm
qua kinh doanh thua lỗ do giá bán dưới giá thành sản xuất, đã làm tăng thêm áp lực
lạm phát cho nền kinh tế và ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống của nhiều tầng lớp
nhân dân.
2
Bên cạnh đó, với đặc điểm là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, yêu cầu
ngày càng tăng của các đối tượng khách hàng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ
cung cấp điện là một đòi hỏi hết sức cấp thiết. Mặc dù trong thời gian qua, công ty đã
đưa vấn đề chăm sóc khách hàng lên hàng đầu nhưng vẫn có những trường hợp khiếu
nại qua các phương tiện truyền thông làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, để phục vụ ngày càng tốt hơn và không ngừng nâng
cao chất lượng dịch vụ, làm tăng sự hài lòng của khách hàng thì công ty Cổ phần Điện
lực Khánh Hòa nói chung cũng như Điện lực thị xã Ninh Hòa nói riêng cần phải đặt ra
và giải quyết nhiều vấn đề. Cụ thể, (1) đâu là những yếu tố cấu thành nên chất lượng
3. Đối tượng và phạm vi
Đối tượng nghiên cứu là lý thuyết về chất lượng dịch vụ và đánh giá chất lượng
dịch vụ điện.
Khách thể nghiên cứu là khách hàng sử dụng điện trên địa bàn Thị xã Ninh
Hòa, Tỉnh Khánh Hòa.
Phạm vi nghiên cứu là Điện lực Ninh Hòa trực thuộc Công ty cổ phần Điện lực
Khánh Hòa. Nghiên cứu này sẽ được thực hiện trong thời gian từ tháng 06 đến tháng
10 năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài này vận dụng các phương pháp nghiên
cứu như sau:
(1) Phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo luận nhóm (
được áp
dụng cho bước nghiên cứu sơ bộ
). Quá trình này cho phép khám phá, điều chỉnh và bổ
sung thang đo chất lượng dịch vụ cung cấp điện.
(2) Phương pháp nghiên cứu định lượng (
được áp dụng cho nghiên cứu chính
thức
). Theo đó, kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp khách hàng sử dụng dịch vụ cung cấp
điện ở Điện lực Ninh Hòa thông qua bảng câu hỏi chi tiết để thu thập dữ liệu. Mẫu
được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên với kích thước mẫu khoảng 400 đối với
khách hàng hộ gia đình và 150 đối với khách hàng sử dụng với mục đích khác (
sẽ
được giải thích rõ trong nội dung của đề tài
). Sau đó, các thang đo lường chất lượng
dịch vụ cung cấp điện được đánh giá thông qua phương pháp Importance -
Performance Analysis
(
IPA) để phân tích và so sánh tầm quan trọng và mức độ thực
5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
Trong chương này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu đến cơ sở lý luận và tổng
quan các lý thuyết có liên quan đến dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Hai câu hỏi chính
được đề cập trong chương này là: thế nào là chất lượng dịch vụ? và làm thế nào để
đánh giá chất lượng dịch vụ? Theo đó, phần đầu tiên của chương sẽ thảo luận những
quan điểm liên quan đến dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Phần thứ hai của chương sẽ
tập trung vào thảo luận các mô hình đo lường, đánh giá chất lượng dịch vụ. Dựa trên
các mô hình được đề cập trong các nghiên cứu trước và những phân tích đánh giá, tác
giả sẽ phát triển mô hình nghiên cứu của mình.
1.2. Những vấn đề chung về dịch vụ
1.2.1. Định nghĩa dịch vụ
Dịch vụ trong nền kinh tế thị trường được coi là mọi thứ có giá trị, khác với
hàng hóa vật chất mà một người hoặc một tổ chức cung cấp cho một người hoặc tổ
chức khác để đổi lấy một cái gì đó. Khái niệm này chỉ ra các tương tác của con người
hay tổ chức trong quá trình hình thành dịch vụ. Khái niệm này cũng thể hiện quan
điểm hướng tới khách hàng bởi vì giá trị của dịch vụ là do khách hàng quyết định.
Philip Kotler [5] cho rằng “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có
thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một
cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.
Trong khi đó, Zeithaml và Britner [31] cho rằng “Dịch vụ là những hành vi, quá trình,
cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, góp phần thỏa mãn
nhu cầu và mong đợi cho khách hàng”. Phát triển theo quan điểm này, Kotler &
Armstrong [4] đưa ra khái niệm “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh
hiểm, hàng không, công ty tư vấn pháp luật…
1.2.2.2. Theo mục đích
Có dịch vụ phi lợi nhuận và dịch vụ vì lợi nhuận.
1.2.2.3. Theo nội dung
Dịch vụ nhà hàng khách sạn, dịch vụ giao thông liên lạc, dịch vụ sức
khoẻ, phục vụ công cộng, thương mại, tài chính ngân hàng, tư vấn, giáo dục, khoa học…
1.2.2.4. Theo mức độ tiêu chuẩn hoá dịch vụ có khả năng tiêu chuẩn hoá cao
Khối lượng cung cấp dịch vụ lớn, chỉ tập trung vào một số khía cạnh phục vụ
nhất định, công việc lặp đi lặp lại, có khả năng cơ giới hoá hoặc tự động hoá, yêu cầu
đội ngũ nhân viên có tay nghề không cao, hạn chế tính tự do linh hoạt, sáng tạo của
nhân viên…
1.2.2.5. Dịch vụ theo yêu cầu
Khối lượng cung cấp dịch vụ nhỏ, quá trình dịch vụ khó định nghĩa trước, yêu
cầu nhân viên có tay nghề chuyên môn cao, có tính sáng tạo và tự chủ trong công việc.
7
1.2.3. Dịch vụ cung cấp điện và đặc điểm của nó
1.2.3.1 Tổng quan về hệ thống điện
Hệ thống điện bao gồm các nhà máy điện, trạm biến áp, các đường dây truyền
tải và phân phối điện… được nối liền với nhau thành hệ thống làm nhiệm vụ sản xuất,
truyền tải và phân phối điện năng.
Nhà máy điện có nhiệm vụ biến đổi năng lượng sơ cấp như than, dầu, khí đốt,
thủy năng… thành điện. Các nhà máy nối với nhau thành hệ thống nhờ các trạm biến
áp và đường dây.
Lưới điện bao gồm các trạm biến áp và đường dây tải điện tùy theo nhiệm vụ và
phạm vi mà người ta chia thành lưới khu vực, lưới địa phương hoặc lưới truyền tải,
phân phối và cung cấp. Các trạm biến áp có nhiệm vụ nối các đường dây với cấp điện
áp khác nhau trong hệ thống chung và trực tiếp cung cấp điện năng cho các hộ tiêu thụ.
1.2.3.2. Đặc điểm chung của lưới điện phân phối
Vì lý do kinh tế và môi trường, các nhà máy được xây dựng ở những nơi gần
cung cấp điện chất lượng, an toàn, ổn định
cho khách hàng
ghi chỉ số công tơ điện hàng tháng
lập hóa đơn tiền điện
tổ
chức thu tiền điện
giải quyết các khiếu nại của khách hàng.
Dịch vụ cung cấp điện cho khách hàng được thể hiện qua sơ đồ cấp điện và sơ
đồ kinh doanh điện năng sau:
1.2.3.5.Đặc điểm dịch vụ cung cấp điện
*.Tính vô hình
Sản phẩm điện năng là một sản phẩm đặc biệt mà khách hàng không thể nhìn
thấy hay thử nghiệm sản phẩm từ trước. Cho nên đối với khách hàng thì dịch vụ cung
cấp điện là trừu tượng khi mà họ chưa một lần tiêu dùng nó. Dịch vụ luôn đồng hành
với những sản phẩm vật chất nhưng dịch vụ cung cấp điện luôn tồn tại tính phi vật chất
của mình. Khách hàng thực sự rất khó đánh giá. Từ những nguyên nhân nêu trên, nên
rất khó cho các nhà quản lý tìm hiểu nhận thức của khách hàng về dịch vụ cung cấp
điện của họ cũng như việc khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ như thế nào.
* Tính không đồng nhất (tính khác biệt)
Dịch vụ cung cấp điện có tính không đồng nhất, đặc biệt đối với sản phẩm điện
năng có thể thay đổi liên tục về chất lượng, về sự ổn định liên tục. Việc đòi hỏi chất
lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng sẽ rất khó đảm bảo. Một dịch vụ được thực
hiện tại cùng một công ty, cùng một nhân viên phục vụ nhưng tại thời điểm khác nhau
thì có thể đem lại hiệu qủa rất khác nhau. Như vậy, dịch vụ cung cấp diện có tính
không đồng nhất cao, hay nói cách khác, việc chuẩn hóa dịch vụ rất khó thực hiện.
* Tính không thể tách rời
Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng thể hiện sự khác biệt của dịch vụ cung
cấp điện với hàng hóa vật chất. Đối với hàng hóa vật chất quá trình sản xuất và tiêu
dùng tách rời nhau. Người ta có thể sản xuất hàng hóa một nơi khác và ở một thời gian
khác với nơi bán và tiêu dùng. Còn đối với dịch vụ cung cấp điện thì không thể như
vậy. Điện năng được sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung-cầu cũng không thể
tách rời nhau.
* Tính không lưu giữ được
Do tính đồng thời như trên nên sản phẩm dịch vụ cung cấp điện không thể lưu
kho được. Chẳng hạn vào mùa mưa công suất điện dư thừa không thể để dành cho lúc
cao điểm nắng nóng công suất điện thiếu hụt, khách hàng không sử dụng điện được
trong ngày thì đã coi như mất dịch vụ, do đó mất một nguồn thu, v.v…
Cho nên, việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong kinh doanh là hết sức
Sản xuất và tiêu dùng thường xuyên g
ắn
về mặt không gian
8 Có thể vận chuyển được Không thể vận chuyển đư
ợc ngay cả khi
người sản xuất mong muốn
9 Có thể quan h
ệ gián tiếp với
khách hàng
Trong đại đa số các trư
ờng hợp quan hệ
trực tiếp với khách hàng
10 Có thể xuất khẩu được Thông thư
ờng dịch vụ khó xuất khẩu
được.
11 Khách hàng là một thành viên ch
ỉ
trong quá trình tiêu dùng
Khách hàng là một thành viên trong
quá
trình sản xuất và tiêu dùng
1.3. Chất lượng dịch vụ
1.3.1. Khái niệm
Chất lượng dịch vụ là một khái niệm trừu tượng, khó nắm bắt bởi các đặc tính
riêng có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch
vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ. Có nhiều
cách hiểu khác nhau về chất lượng dịch vụ. Theo đó, quan niệm siêu việt cho rằng
“Chất lượng dịch vụ là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của dịch vụ”. Quan niệm này
mang tính triết học, trừu tượng, chất lượng không thể xác định một cách chính xác nên
Chất lượng điện năng đó là một thuật ngữ được định nghĩa khác nhau với nhiều
tổ chức khác nhau. Viện Kỹ sư Điện và Điện tử (IEEE) định nghĩa chất lượng điện
năng “là các khái niệm về cung cấp năng lượng và đặt nền tảng cho các thiết bị điện tử
phù hợp với thiết bị đó”. Tất cả các thiết bị điện dễ bị hỏng hay sự cố khi làm việc với
chất lượng điện năng kém. Các thiết bị này có thể là động cơ điện, máy biến áp, máy
phát điện, máy tính, máy in, thiết bị truyền thông hoặc thiết bị điện gia dụng. Tất cả
các thiết bị và những người sử dụng đều bị ảnh hưởng từ vấn đề chất lượng điện năng,
tùy thuộc mức độ nghiêm trọng của vấn đề.
Một định nghĩa khác đơn giản và ngắn gọn về chất lượng điện năng “chất lượng
13
điện năng là một tập hợp của những giới hạn về điện cho phép một bộ phận của thiết
bị hoạt động với chức năng đã được định sẵn mà không hề gây ra sự mất mát nào về
hiệu suất cũng như tuổi thọ của thiết bị”. Định nghĩa này bao trùm hai điều yêu cầu từ
một thiết bị điện: hiệu suất và tuổi thọ. Mọi vấn đề liên quan đến hai thuộc tính trên
đều là mối quan tâm của chất lượng điện năng.
1.3.2.3 Vai trò của chất lượng điện năng
Ngày nay cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế quốc dân là nhu cầu đòi hỏi
về điện năng ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng. Đồng thời là sự phát triển
như vũ bão của khoa học kỹ thuật làm cho việc áp dụng các công nghệ tiên tiến trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, dẫn đến sự ra đời hàng loạt các máy móc thiết bị hiện đại,
đòi hỏi yêu cầu hết sức nghiêm ngặt về chất lượng điện năng, độ tin cậy và an toàn
cung cấp điện… Điều này đặt ra cho hệ thống cung cấp điện vừa phải đáp ứng được
lượng điện năng tiêu thụ, mặt khác phải đảm bảo được chất lượng điện năng yêu cầu.
Để làm được điều này đòi hỏi chúng ta phải làm tốt từ khâu thiết kế đến vận hành toàn
bộ hệ thống điện. Trong đó vấn đề chất lượng điện năng đóng vai trò quan trọng trong
các quá trình công nghệ sản xuất. Do việc tăng nhịp độ các quá trình sản xuất, nâng
cao năng suất lao động bằng cách hoàn thiện các quy trình công nghệ đang có và áp
dụng các quy trình mới ở các xí nghiệp công nghiệp, người ta dùng càng nhiều các bộ
quá trình quá độ khi chuyển mạch… và điều đó thách thức ngành điện cần phải nâng
cao hơn nữa chất lượng cung cấp điện.
-Nhiều thiết bị được kết nối với nhau trong hệ thống. Khi các quy trình được
tích hợp thì sự hỏng hóc của các thành phần khác có hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều.
Điểm chung cho mọi mối quan tâm hiện nay về chất lượng điện năng là tiếp tục
thúc đẩy tăng hiệu suất cho khách hàng. Các nhà sản xuất muốn nhanh hơn, sản xuất
nhiều hơn, máy móc hiệu quả hơn, nên điện lực luôn nỗ lực tăng chất lượng điện năng
bởi vì nó giúp khách hàng của họ có lợi hơn cũng như giúp hạn chế đầu tư lớn vào các
trạm biến áp … bằng cách sử dụng các thiết bị tải có hiệu quả hơn. Các thiết bị được
cài đặt để tăng năng suất thường là các thiết bị chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự gián
đoạn từ nguồn cung cấp. Và các thiết bị này đôi khi là nguồn gốc của vấn đề bổ sung
chất lượng điện năng. Khi toàn bộ quá trình được tự động, hoạt động hiệu quả của máy
móc và việc điều khiển chúng ngày càng phụ thuộc vào chất lượng điện năng. Hai chỉ
tiêu quan trọng của chất lượng điện năng là chất lượng điện áp và chất lượng tần số.
1.3.2.4.Chất lượng điện áp
Điện áp là một trong những chỉ tiêu quan trọng của chất lượng điện năng. Việc
duy trì một điện áp ở mức độ cho phép có ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Chất lượng điện áp được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về độ lệch điện áp, độ dao
15
động điện áp, độ không đối xứng và mức độ không sin của điện áp. Trong đó chỉ tiêu
về độ lệch điện áp là chỉ tiêu quan trọng nhất. Trong quá trình vận hành mạng điện,
phụ tải thay đổi liên tục trong suốt thời gian ngày và đêm nên tổn thất điện áp trong
mạng điện cũng thay đổi theo làm cho giá trị độ lệch điện áp ở hộ tiêu thụ và thiết bị
điện riêng rẽ cũng thay đổi. Việc giữ cho điện áp không đổi và bằng điện áp định mức
cho hộ tiêu thụ trong suốt thời gian làm việc thực tế là không thực hiện được. Để dảm
bảo được độ lệch điện áp ở hộ tiêu thụ nằm trong giới hạn cho phép cần phải tiến hành
điều chỉnh điện áp trong mạng điện xí nghiệp, mạng phân phối, mạng truyền tải, nhà
máy điện thông qua các tiêu chuẩn về độ lệch điện áp trong quá trình vận hành mạng.
1.3.2.5.Chất lượng tần số