BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ĐÀM HẢI VÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHAI
THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN TRONG KHU BẢO
TỒN BIỂN VỊNH NHA TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi,
số liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực. Các số liệu phỏng vấn thu mẫu thống kê về
năng suất, sản lượng kinh tế nghề cá, điều tra thực địa trên ngư trường là kết quả tham gia
của tôi thực hiện trong các chuyến điều tra và kết hợp trong các chuyến kiểm tra trên biển.
Các số liệu về tàu thuyền, nghề nghiệp khai thác, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh
vực hải sản, công tác quản lý Nhà nước về thuỷ sản sản tại địa phương được thu thập tại Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh
Hòa và phòng chuyên môn, các huyện và thành phố có quản lý khai thác thuỷ sản .
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong Luận văn này. Người cam đoan
Đàm Hải Vân
2
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1. Các nghiên cứu về KBTB trên thế giới và ở Việt Nam. 14
1.1.1. Các nghiên cứu về KBTB trên thế giới 14
1.1.2. Các khu bảo tồn biển và ven biển tại Việt Nam 15
1.2. Khái quát về khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang 18
1.2.1. Vị trí địa lý 19
1.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội 19
1.2.3. Hiện trạng môi trường và đa dạng sinh học trong KBTB 21
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Nội dung nghiên cứu 26
2.1.1. Thực trạng hoạt động khai thác thủy sản trong KBTB vịnh Nha Trang 26
2.1.2. Thực trạng công tác quản lý khai thác, bảo vệ nguồn lợi và đa dạng sinh học trong
KBTB vịnh Nha Trang. 26
2.1.3. Thực trạng công tác quản lý KBTB vịnh Nha Trang 26
2.1.4. Đề xuất giải pháp 26
2.2. Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 27
- 4 - DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ĐDSH Đa dạng sinh học
HST Hệ sinh thái
NLTS Nguồn lợi thủy sản
BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
BV&PTNLTS Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
NTTS Nuôi trồng thủy sản
KTTS Khai thác thủy sản
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ĐQL Đồng quản lý
ĐQLNC Đồng quản lý nghề cá
QLDVCĐ Quản lý dựa vào cộng đồng
QLNCDVCĐ Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
BTB Bảo tồn biển
KBTB Khu bảo tồn biển
VNT Vịnh Nha Trang
DTSQTG Dự trữ sinh quyển thế giới
UBND Ủy ban nhân dân
KT-XH Kinh tế - xã hội
NGO - NGOs Tổ chức phi chính phủ - Các tổ chức phi chính phủ
DANIDA Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch
DCE Chương trình hợp tác phát triển Đan Mạch – Việt Nam trong lĩnh
vực môi trường
LMPA Hợp phần sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu bảo
tồn biển (thuộc DCE) - Bộ NN&PTNT
- 6 - DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Phân bố rạn san hô trong Vịnh Nha Trang 9
Hình 1.2: Vịnh Nha Trang 19
Hình 1.3: Độ phủ cao của san hô sống Porites(cận cảnh) và Montipora spp., Đông Bắc
Hòn Tre [30] 22
Hình 1.4: Thảm cỏ biển đơn loài Halophila ovalis tại Đầm Tre 23
Hình 3. 1: Biến động số lượng tàu thuyền theo nghề 30
Hình 3. 2: Ngư trường đánh bắt nghề lưới kéo 32
Hình 3. 3: Tỷ lệ trung bình nhóm thương phẩm trong một mẻ lưới của nghề lưới kéo 33
Hình 3. 4: Ngư trường đánh bắt nghề lưới rê 35
Hình 3. 5: Tỷ lệ trung bình các nhóm thương phẩm trong đánh bắt nghề lưới rê 36
Hình 3. 6: Ngư trường đánh bắt nghề Mành 38
Hình 3. 7: Tỷ lệ nhóm thương phẩm chính của nghề Mành 39
Hình 3. 8: Pa nô tuyên truyền về KBTB vịnh Nha Trang ở Hòn Mun 45
Hình 3. 9: Giáo dục về bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học trong trường học
ở KBTB vịnh Nha Trang 46
Hình 3. 10: Hội trại bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH biển vịnh Nha Trang 47
Hình 3. 11: Thu gom rác ở Hòn Một và trồng rừng ngập mặn ở Đầm Bấy 47
Hình 3. 12: Canô tuần tra của đội tuần tra KBTB vịnh Nha Trang tại Hòn Mun 48
hoá Thông tin xếp hạng Di tích quốc gia, là danh lam thắng cảnh theo Quyết định số
14/2005/QĐ-BVHTT ngày 25/3/2005.
Vịnh Nha Trang có 9 hòn đảo lớn, nhỏ với 5 cụm dân cư đó sinh sống lâu đời tại
đây: Trí nguyên, Vũng Ngán, Hòn Một, Đầm Bấy, Bích Đầm với tổng dân số hiện nay
khoảng 5.168 người và 1.138 hộ. Trong đó, cụm dân cư Trí Nguyên có dân số đông
nhất với số dân 3.253 người và 730 hộ [3].
Thành phố Nha Trang có 3.128 tàu thuyền đánh bắt thủy sản, trong đó khai thác
trong Vịnh Nha Trang trên 2.000 chiếc, số còn lại đánh bắt các ngư trường ngoài tỉnh.
Các ngành nghề đánh bắt trong Vịnh Nha Trang gồm nghề lưới rê, nghề câu, nghề lưới
vây rút chì, mành trũ, lưới cước, lưới quét… Trong đó, loại tàu có công suất nhỏ hơn
20cv chiếm khoảng trên 35%. Lực lượng này thường xuyên khai thác và khai thác quá
mức ở vùng ven bờ, và đây là nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản vùng ven
bờ Vịnh Nha Trang [4 ].
Nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên Vịnh Nha Trang được hình thành và phát
triển từ những năm 1990 và tồn tại đến ngày nay. Theo số liệu thống kê của phòng Kinh
tế TP Nha Trang, hiện nay trên vịnh có 250 hộ nuôi gồm 261 bè với 6.850 lồng nuôi
NTTS. Trong đó, chủ yếu nuôi tôm hùm và nuôi cá (cá bớp, cá hồng, cá chim, cá bè).
Đa số nuôi tập trung tại Hòn Miếu, Vũng Ngán, Hòn Một, Đầm Bấy và Bích Đầm.
Ngoài ra, Vịnh Nha Trang có nhiều đơn vị, cá nhân tổ chức các dịch vụ du lịch
trên Vịnh như: Công ty Cổ phần Du lịch và Thương mại Vinpearl trên đảo Hòn Tre,
Công ty Cổ phần Du lịch Biển Hòn Tằm Nha Trang trên đảo Hòn Tằm, Công ty TNHH
du lịch Trí Nguyên- Nha Trang, Công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa,
Công ty Cổ phần Đại Hòa (khu du lịch ở Đầm Bấy) trên đảo Hòn Tre…và trên 15 Câu
- 8 - lạc bộ bơi, lặn …, trên 200 tàu thuyền du lịch cả canô làm dịch vụ đưa đón khách du
lịch đi tham quan trên các tuyến đảo và nhiều dịch vụ nhà hàng, khách sạn trên các đảo
và ven bờ bên trong và xung quanh Vịnh Nha Trang [3]. Các dịch vụ du lịch này rất
của môi trường nước. Tuy nhiên, hiện đang có những vấn đề ảnh hưởng đáng kể tới
chất lượng nước trong vịnh Nha Trang như hàm lượng các trầm tích, chất phù dưỡng và
các chất thải rắn. Các chất thải này phần lớn từ các con sông và các hoạt động phát triển
trên đất liền. Đây thực sự là vấn đề cần phải được quan tâm một cách toàn diện. Bên
cạnh đó, rạn san hô đang phải đối diện với nhiều mối đe dọa bởi việc sử dụng quá mức
các nguồn lợi trong vịnh, chẳng hạn như đánh bắt quá mức, thả neo lên rạn san hô, phát
triển du lịch và các mối đe dọa từ đất liền cũng như từ các vùng đảo trong vịnh.
Vịnh Nha Trang là nơi tập trung nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế cảng và
giao thông biển; nuôi trồng và đánh bắt thủy sản; du lịch và kinh tế đảo. Trong những
năm qua, những thế mạnh đặc thù của Vịnh, trong đó có du lịch, đã và đang được khai
thác có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Về chủ trương quy hoạch, vịnh Nha Trang chỉ dành riêng phục vụ cho du lịch biển
và các dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao trên biển. Tuy nhiên về cơ chế quản lý, quy chế
phối hợp chưa được phê duyệt.
Nhiều tàu thuyền khai thác thủy sản ở các địa phương lân cận vào vịnh Nha Trang
đánh bắt vẫn chưa được kiểm soát. Vùng vịnh Nha Trang là nơi có giá trị đa dạng sinh
học cao, số lượng loài san hô và độ che phủ cao nhất ở nước ta nhưng hiện nay chưa
được bảo vệ tốt thường xuyên bị các tàu thuyền đánh cá xâm hại đặc biệt là các mùa
cao điểm của lưới mành, trũ và giã cào, có ngày tập trung đến 3- 4 chiếc tại một khu
vực nhỏ.
- 10 - Hiện nay mặt nước trong vịnh Nha Trang, đặc biệt trong vùng nhạy cảm vẫn bị
người dân địa phương và người dân từ bên ngoài đến khai thác quá mức, áp lực đánh
bắt cá hiện nay lớn hơn rất nhiều so với mức sinh thái bền vững.
Trong vịnh và ven vịnh Nha Trang xuất hiện những hiện tượng đáng lo ngại ảnh
hưởng đến đa dạng sinh học, đó là: Khai thác, vận chuyển san hô để bán làm quà lưu
niệm, làm hòn non bộ vẫn còn diễn ra tại một số nơi; làm bẫy nhử tôm hùm con thả
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đã nêu, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong Khu bảo tồn biển
vịnh Nha Trang”.
Kết cấu của Luận văn gồm các phần sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý,
định hướng phát triển bền vững KBTB vịnh Nha Trang, góp phần bảo tồn đa dạng sinh
học, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản tại KBTB, phục vụ phát triển bền vững ở
địa phương.
khác nhau. Mục tiêu chung chủ yếu hiện nay là:
Bảo tồn đa dạng sinh học là một mục tiêu của các khu bảo tồn biển, nếu không xét
đến sự mở rộng đặc biệt về giải trí của chúng [20].
Bảo tồn đa dạng gen: Các khu bảo tồn biển và ven bờ có thể giúp duy trì các ngân
hàng gen theo một số cách. Chúng bảo vệ những loài bị nguy hiểm, bị đe dọa, loài
hiếm, loài có giá trị như những nguồn gen đã tuyệt chủng của địa phương. Bảo tồn gen
là quan trọng nhằm duy trì sự phù hợp của loài, với tất cả các quan hệ mật thiết về kinh
tế và xã hội. Bảo tồn đa dạng là quan trọng như nhau đối với việc duy trì các loài bản
xứ, giúp để duy trì tính toàn vẹn của các quần xã sinh vật [20].
Bảo vệ những loài có giá trị về mặt thương mại: Một trong những điều quan trọng
là duy trì năng suất cho ngành thủy sản- một ví dụ rõ ràng của một quá trình sinh thái
- 13 - trực tiếp hỗ trợ cho phúc lợi kinh tế của con người. Các hệ sinh thái có khả năng sản
xuất tự nhiên, như các rạn san hô và vùng của sông, cung cấp miễn phí những gì mà
nghề nuôi hải sản tốn kém nhưng hiếm khi có thể đáp ứng được sản lượng cá liên tục. Ở
nhiều nơi trên thế giới, hải sản cung cấp phần lớn protein động vật và sinh kế cho người
dân. Ở Châu Phi, nghề thủy sản thủ công cung cấp số lượng lớn cá cho người dân địa
phương, những thủy sản này được xem là bị khai thác một cách đầy đủ, với một số
đang bị khai thác bên ngoài mức bền vững mà không có giới hạn nào để nuôi sống dân
số ngày càng tăng. Vì nhu cầu ngày càng tăng với sự phát triển kinh tế và sự gia tăng
dân số, thủy sản không được quản lý một cách tiêu biểu cho sự bền vững; sự đóng góp
của chúng đối với thực phẩm quốc gia và thu nhập là đang giảm và có lẽ sẽ tiếp tục
giảm. Các KBTB có thể giúp làm bền vững những ngành thủy sản như thế. Việc bảo vệ
những nơi cư trú nguy cấp có thể cần thiết để duy trì nguồn lợi thủy sản hoặc ngăn chặn
“sự tuyệt chủng về mặt kinh tế” của các loài quan trọng về mặt thương mại. Nhiều loài
có giá trị về mặt thương mại hiện không còn bị đe dọa với sự tuyệt chủng sinh học
nhưng vì bị khai thác một cách nặng nề nên chúng có thể bị “đe dọa về mặt thương
bình trên 100.000 ha. Tuy nhiên, con số này rất mất cân đối bởi số lượng các KBTB
thật sự lớn là tương đối nhỏ, phần lớn là những khu bảo tồn tương đối nhỏ; trung vị là
1.584ha [20].
Dữ liệu về hiệu quả quản lý còn sơ sài. Sự khó khăn của việc có được những
thông tin đó cho thấy sự thiếu vắng chung của việc đánh giá hiệu quả quản lý. Mức độ
quản lý đã được phân loại theo các mức: Cao - KBTB đã đạt được các mục tiêu quản lý
đặt ra; Trung bình - khi KBTB đạt được một phần các mục tiêu quản lý; Thấp - không
đạt được các mục tiêu quản lý [20].
Xét về mức độ quản lý của 383 KBTB được đánh giá thì chỉ có 117 KBTB đạt
hiệu quả quản lý cao, nghĩa là nhìn chung đạt được các mục tiêu quản lý của chúng, 155
KBTB đạt mức trung bình, 111 KBTB không đạt được các mục tiêu và quản lý hiệu
quả thấp [20].
Những lý do mà các KBTB không đạt được các mục tiêu quản lý của chúng thay
đổi giữa các vùng biển. Tuy nhiên, có thể tóm tắt thành một số lý do như sau: Thứ nhất,
các KBTB thiếu nguồn kỹ thuật, nhân viên được huấn luyện và và tài chính để triển
khai và thực hiện các kế hoạch quản lý. Thứ hai, thiếu dữ liệu mà từ đó có thể đưa ra
các quyết định quản lý bao gồm các thông tin về các tác động của việc sử dụng nguồn
lợi và hiện trạng các nguồn lợi về sinh học. Thứ ba, hầu hết các KBTB đều thiếu sự hỗ
trợ của cộng đồng và những người sử dụng không sẵn lòng tuân thủ những qui chế quản
lý, thường là do những người này đã không tham gia một cách đầy đủ đáng kể vào việc
xây dựng những luật lệ này cũng như việc không thực hiện đầy đủ các quy chế của
KBTB. Thứ tư, các tác động từ các hoạt động ở vùng biển và đất bên ngoài ranh giới
các KBTB, bao gồm ô nhiễm, khai thác quá mức và sử dụng không bền vững nguồn lợi
- 15 - trong KBTB. Cuối cùng là sự thiếu trách nhiệm tổ chức, quản lý rõ ràng và không có sự
hợp tác giữa các cơ quan có trách nhiệm liên quan tới các KBTB. Việc đạt được sự
quản lý có hiệu quả các KBTB đang tồn tại và sự thiết lập các KBTB mới có sự ưu tiên
- 16 - Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang: Tháng 1 năm 2001, chính phủ Việt Nam (Bộ
Thủy sản) và các cơ quan tài trợ (WB / GEF, Danida) và IUCN đã thảo luận thực hiện
dự án trình diễn KBTB Hòn Mun ở vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa UBND tỉnh
Khánh Hòa đã phê duyệt quy định tạm thời về Ban quản lý KBTB Hòn Mun. Nằm
trong vùng có giá trị ĐDSH hệ sinh thái san hô cao nhất ở Việt Nam (350 loài san hô,
220 loài cá, 106 loài nhuyễn thể, 18 loài da gai và các loài vi tảo ) (Dự án KBTB Hòn
Mun, 2003), cách thành phố Nha Trang khoảng 10 km vùng bảo tồn được dự kiến
khoảng 122 km
2
bao gồm vùng biển bao quanh các đảo Hòn Mun, Hòn Một Hòn Nọc,
Hòn Tre, Hòn Miếu, Hòn Tằm, Hòn Cau, Hòn Vung có tổng diện tích đất là 38 km
2
.
Mục tiêu của dự án là giúp cộng đồng dân cư ở trên đảo cải thiện cuộc sống của họ và
cùng với các đối tác bảo vệ và quản lý có hiệu quả ĐDSH biển tại Hòn Mun để trở
thành mô hình quản lý KBTB tại Việt Nam. Mục tiêu này có thể thành công thông qua
việc thành lập một khu vực đa mục đích và phân vùng phù hợp. Điều này có thể giúp
bảo vệ các hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn và cỏ biển có tầm quan trọng quốc
gia và quốc tế.
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: Sau KBTB vịnh Nha Trang, tháng 10 năm 2003
KBTB Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam được chính phủ (Bộ Thủy sản) phối hợp với các
bên liên quan và chính phủ Đan Mạch phối hợp thực hiện thành lập. KBTB Cù Lao
Chàm được thành lập theo mô hình của KBTB vịnh Nha Trang. Dự án có nguồn vốn hỗ
trợ là một triệu đô la, thực hiện trong 3 năm, bắt đầu từ tháng 10/ 2003. KBTB Cù Lao
Chàm có diện tích lớn hơn 5000ha, gồm 8 hòn đảo, với 3.500 dân, sống bằng nghề khai
thác thủy sản là chủ yếu. Về đa dạng sinh học có khoảng 250 loài san hô, hơn 200 loài
hình san hô, 108 loài động vật đáy (thân mềm có 89 loài, da gai có 10 loài, giáp xác có
9 loài), 267 loài cá trong đó có 77 loài thuộc nhóm cá rạn san hô. Các rạn san hô ở khu
bảo tồn biển Cồn Cỏ thuộc loại cấu trúc rạn viền bờ khá điển hình theo kiểu nhóm rạn
hở. Rạn san hô ở đây phát triển tốt, thành phần loài phong phú và độ phủ cao [22].
Khu bảo tồn biển Núi Chúa: Thuộc địa phận tỉnh Ninh Thuận, KBTB Núi Chúa
thuộc một phần của vườn quốc gia Núi Chúa thành lập từ năm 2003 theo quyết định của
thủ tướng chính phủ. Tuy nhiên, phải đến năm 2009 KBTB Núi Chúa mới được thành
lập thông qua dự án “tăng cường năng lực cho bảo tồn biển và cải thiện sinh kế”. Vườn
quốc gia Núi Chúa nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ phần gần cuối của dãy
Trường Sơn chuyển tiếp tới vùng Đông Nam Bộ nên khu hệ động, thực vật ở đây có
mối liên hệ chặt chẽ với hệ động, thực vật của dãy Trường Sơn Nam và vùng Đông
Nam Bộ. Ở đây, đã xác định được 330 loài san hô trong đó có 307 loài san hô cứng tạo
thành vùng rạn nhiều màu sắc phong phú, độc đáo, thuộc 49 chi có độ che phủ trung
bình là 42,6%, trong đó có 14 loài mới và là nơi cư trú cho 92 loài thủy sản quý hiếm.
Theo thống kê của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (WWF), tại Vườn Quốc gia Núi Chúa hiện
- 18 - có năm trong số bảy loại rùa biển trên thế giới (gồm rùa xanh, vích, đồi mồi, rùa đầu to,
rùa da) [22].
Nhìn chung, các KBTB đang hoạt động ở nước ta đều có hệ sinh thái động, thực
vật phong phú với nhiều loài hải sản quý hiếm, đa dạng sinh học cao. Với việc thành
lập các KBTB thì sự đa dạng sinh học, các nguồn gen quý hiếm của các loài động, thực
vật tại đây sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt để đáp ứng các mục tiêu bảo tồn. Để bảo vệ đa
dạng sinh học nói chung và các hệ sinh thái biển nói riêng, cùng với cộng đồng quốc tế
trong chiến lược toàn cầu, ngày 26/5/2010 chính phủ đã ban hành quyết định số 742
QĐ TTG phê duyệt Quy hoạch hệ thống KBTB đến năm 2020 với mục tiêu cụ thể chia
làm hai giai đoạn. Giai đoạn 2010-2015: hoàn thiện hệ thống KBTB Việt Nam; xây
dựng quy hoạch chi tiết, thành lập đưa vào hoạt động thêm 11 KBTB, đồng thời rà soát,
triển nông thôn), UBND tỉnh Khánh Hòa và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN
phối hợp thực hiện. Khu bảo tồn biển nằm trong vịnh Nha Trang, trải dài từ 109
o
13’
đến 109
o
22’ kinh Đông và từ 12
o
12’ đến 12
o
18’ vĩ Bắc với diện tích trên 16.000 ha gồm
các đảo Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Rơm, Hòn Nọc, Hòn
Vung (Hòn Dung), Hòn Cau (Hòn Hố) và vùng nước xung quanh. Hòn Tre là đảo lớn
nhất có diện tích 3.250 ha, Hòn Nọc là đảo nhỏ nhất có diện tích khoảng 4 ha. Nhiệt độ
không khí trung bình năm là 26,4
o
C, thấp nhất vào tháng 1,2 (23,8
o
C) và cao nhất là
vào tháng 5,6 (33,2
o
C). Lượng mưa trung bình năm là 1.441 mm chủ yếu tập trung
trong tháng 9 đến 12. Tháng khô nhất là tháng 7,8. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ
tháng 11 đến tháng 2 năm sau, và gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 8 [3].
Vịnh Nha Trang nằm trong khu vực biển Việt Nam có hiện tượng nước trồi vào
mùa gió Tây Nam từ tháng 5 tới tháng 9 làm cho nguồn dinh dưỡng trong môi trường
nước tăng lên tạo nguồn thức ăn đa dạng cho các thủy sinh vật [6].
Hình 1.2: Vịnh Nha Trang
1.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Sau khi KBTB được thành lập, hoạt động du lịch biển tại KBTB Nha Trang đã và
đang tạo ra những tác động tích cực đến đời sống của một số nhóm cộng đồng dân cư,
nhất là nhóm cộng đồng sống bên trong vịnh. Các nhóm chuyên chở khách du lịch bằng
thuyền thúng đáy kính tại Hòn Một và Trí Nguyên là một ví dụ cụ thể. Thành viên
thuộc các nhóm này đã được tập huấn về cách thức hoạt động, kỹ năng cơ bản trong
giao tiếp Đặc biệt là với sự hỗ trợ về mặt pháp lý của chính quyền địa phương, cụ thể
là Ủy ban Nhân dân phường Vĩnh Nguyên, và của Ban quản lý khu BTB vịnh Nha
Trang về các trang thiết bị cần thiết để phục vụ khách du lịch. Các hoạt động này đã tạo
ra các cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho hộ gia đình vốn bị ảnh hưởng bởi việc hình
thành khu bảo tồn biển, đồng thời nó cũng hỗ trợ làm giảm áp lực khai thác và sự phụ
thuộc của con người vào tài nguyên biển giúp bảo vệ các tài nguyên này tốt hơn [23].
- 21 - Nhìn chung, trình độ học vấn của người lớn chỉ ở mức cơ bản, hầu hết chỉ ở cấp I.
Họ chỉ biết đọc và biết viết. Ở các khóm đảo đều có trường cấp I. Vì thế, tỷ lệ đi học ở
cấp học này khá cao. Càng lên cao, tỷ lệ số trẻ em nghỉ học càng nhiều, số học sinh ở
độ tuổi cấp 3 đi học ở các trường trung học phổ thông rất ít. Tỷ lệ này được thể hiện
qua các con số thống kê: có 64,5% chủ hộ có trình độ học vấn cấp I, 23,7% có trình độ
cấp II, 2,8% số chủ hộ học tới cấp III và chỉ có 0,8% có trình độ sau phổ thông, còn lại
5% chủ hộ không biết chữ [23].
1.2.3. Hiện trạng môi trường và đa dạng sinh học trong KBTB
Phát triển du lịch biển tại vịnh Nha Trang cũng đã tạo ra một số tác động tiêu cực,
đặc biệt vấn đề rác thải và chất thải/nước thải từ con người. Vấn đề nhận thức và hành
vi đối với rác thải của khách du lịch trong một chừng mực nào đó còn hạn chế đã tạo ra
ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường biển, nhất là rác thải là vỏ lon nước ngọt/nước giải
khát, bia và túi ny-lon mà phải mất thời gian rất lâu qua nhiều thế hệ mới bị phân hủy.
Vấn đề nữa là chất thải và nước thải từ con người chủ yếu là người dân sống trên các
đảo và một số ít từ khách du lịch. Vấn đề người dân tự xây nhà vệ sinh cá nhân và một
Hình 1.3: Độ phủ cao của san hô sống Porites(cận cảnh) và Montipora spp., Đông Bắc
Hòn Tre [30]
Sự đa dạng thủy sinh vật trong khu bảo tồn vịnh Nha Trang bao gồm đa dạng về
phiêu sinh thực vật với 316 loài rong tảo, trong đó có 48% số loài đặc trưng của vùng
biển nhiệt đới. Về đa dạng về phiêu sinh động vật, theo kết quả nghiên cứu của
Poliacova và cộng sự cho thấy ở vịnh Nha Trang có khoảng 100 loài phiêu sinh động
vật. Về khu hệ sinh vật đáy, đã xác định được 441 loài động vật không xương sống
(trong đó 83 loài mới được ghi nhận tại ven biển Việt Nam, 128 loài mới tại khu vực
vịnh), có 21 loài tôm, 17 loài cua, 70 loài hải tiêu. Động vật nhuyễn thể có 298 loài
chân bụng và 14 loài hai mảnh vỏ (Gogolev, 1994 [11]. Đã phát hiện được 62 loài cá