i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VÕ QUỐC KHÁNH
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ Khánh Hoà, 2013
i LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài "Hoàn thiện quản lý thuế đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An" là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Mọi
sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin
trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả đề tài
Võ Quốc Khánh
trình nghiên cứu và hoàn thành tốt nhất luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh tôi
động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Mặc dù
bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi
mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồng chí và đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hoà, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Võ Quốc Khánh iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI
2.2.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật 47
2.2.6. Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách giai đoạn 2010-2012 48
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 51
2.3.1. Quản lý doanh nghiệp đăng ký thuế(cấp mã số thuế), kê khai thuế 51
2.3.2. Quản lý doanh thu và thuế giá trị gia tăng 53
2.3.3. Quản lý thuế thu nhập chịu thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp 55
2.3.4. Quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế 57
2.3.5. Công tác kiểm tra thuế 59
2.3.6. Các công tác khác 60
2.4. ĐÁNH GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC
THUẾ VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 62
2.4.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach alpha 62
2.4.2. Phân tích nhân tố 67
2.4.3. Phân tích hồi quy 70
2.4.4. Phân tích so sánh ý kiến đánh giá về các kía cạnh điều tra giữa hai nhóm đối
tượng là Công chức thuế và DNV&N 74
2.5. NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DNV&N Ở
CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 77
2.5.1. Về công tác quản lý doanh nghiệp đăng ký thuế (cấp mã số thuê), kê khai thuế 77
2.5.2. Về công tác quản lý doanh thu, thuế giá trị gia tăng 77
2.5.3. Về công tác quản lý thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp 78
2.5.4. Công tác quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế 79
2.5.5. Về công tác kiểm tra thuế 79
2.5.6. Về công tác tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế 80
2.5.7. Về công tác tổ chức bộ máy quản lý thu thuế 80
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 81
v
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐTNT: Đối tượng nộp thuế
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
GTGT: Giá trị gia tăng
HTX: Hợp tác xã
NSNN: Ngân sách Nhà nước
QLT: Quản lý thuế
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
TNCN: Thu nhập cá nhân
TK-TN: Tự khai - tự nộp
TTĐB: Tiêu thụ đặc biệt
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
UBND: Uỷ ban nhân dân vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.22: Kết quả phân tích nhân tố tác động 68
Bảng 2.23. Ma trận hệ số tương quan của các nhân tố 70
Bảng 2.24. Bảng hệ số xác định bội và các thông số tóm tắt mô hình 71
Bảng 2.25. Bảng phân tích ANOVA kiểm định sự phù hợp mô hình hồi quy 71
Bảng 2.26. Kết quả ước lượng hàm hồi quy đa biến 71
Bảng 2.27: Kết quả phân tích tương quan hạng giữa phần dư với các biến độc lập 74
Bảng 2.28: Trị trung bình các nhóm thống kê đối với bị tác động “Sự phù hợp của
công tác quản lý thuế” 75
Bảng 2.29: Trị trung bình các nhóm thống kê đối với các nhân tố tác động 76
ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Kết quả thu ngân sách của nước ta giai đoạn 2010 - 2012 14
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu loại hình DNV&N tại huyện Diễn Châu 40
Biểu đồ 2.2: Phân phối chuẩn của phần dư 73 DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thuế ở Việt Nam 11
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế huyện Diễn Châu 44
đang hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nhân tố quan trọng trong việc đóng góp
nguồn thu cho Ngân sách nhà nước ở địa phương. Tuy nhiên, công tác quản lý thuế tại
Chi cục nói chung, quản lý thuế đối với DNV&N nói riêng hiện tại vẫn còn có nhiều
vướng mắc, bất cập cả về quy trình quản lý, ứng dụng công nghệ tin học và bố trí
nguồn nhân lực. Trình độ quản lý thuế của một số công chức thuế chưa đáp ứng được
yêu cầu công cuộc cải cách hành chính, hiện đại hoá ngành thuế; tình trạng doanh
nghiệp kê khai đăng ký thuế ít hơn số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập; tình hình
nộp thuế chưa phản ảnh đúng quy mô hoạt động SXKD của doanh nghiệp vẫn còn tồn
tại.
Mặt khác, hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới đòi hỏi ngành Thuế ngoài
việc phải xây dựng hệ thống chính sách thuế tương thích, công tác quản lý thuế phải
được cải cách và hiện đại hoá theo các chuẩn mực quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận
lợi để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và khuyến khích doanh
nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi đồng nhất về thuế với
quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Đây là một vấn đề đòi hỏi không những
phải có sự nổ lực của Ngành thuế, sự quan tâm của Chính phủ mà còn cần sự góp sức
của giới học giả và những người quan tâm.
2
Để đạt được mục tiêu tăng thu cho Ngân sách, nâng cao năng lực quản lý thuế,
góp phần đẩy mạnh cải cách thủ hành chính trong lĩnh vực thuế tại địa phương. Đồng
thời, để đáp ứng được yêu cầu về công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế thì việc xây dựng
hoàn thiện chính sách thuế nói chung và quản lý thu thuế đối với DNV&N nói riêng là
một đòi hỏi cấp thiết. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi chọn đề tài "Hoàn thiện
quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An" làm luận văn thạc sĩ cuối khoá học.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế
đối với các DNV&N tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu. Trên cơ sở đó nhằm đề xuất
tạp chí, công trình và đề tài khoa học trong và ngoài nước.
- Số liệu sơ cấp: Được tiến hành thu thập trên cơ sở các doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh trên địa bàn và số lượng cán bộ công chức quản lý thu thuế thuộc
Chi Cục Thuế huyện Diễn Châu. Cụ thể chọn 125 mẫu trong tổng số 364 DNV&N
đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Diễn Châu và 30 cán bộ công
chức Thuế trong tổng số 59 cán bộ công chức của Chi cục Thuế huyện Diễn Châu để
tiến hành điều tra.
4.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Các phương pháp sử dụng nghiên cứu đề tài bao gồm: Phương pháp phân
tích tổng hợp, phân tích thống kê, phân tích so sánh, phương pháp chuyên gia, Việc
xử lý và tính toán các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trên máy tính với
sự hỗ trợ của phần mềm SPSS, Excel và phần mềm tin học của Tổng Cục Thuế.
5. Đóng góp dự kiến của đề tài
5.1. Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn về
quản lý thuế trong cơ chế thị trường đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
5.2. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu là một trong những đóng góp thực tiễn cho
ngành thuế tại Chi cục thuế huyện Diễn Châu nói riêng và ngành thuế Việt Nam nói
chung trong việc hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
6. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị luận văn được cấu trúc thành 3 chương
như sau:
- Chương 1: Tổng quan lý luận về thuế và quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừ
a và nh
- Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Chi cục Thuế huyện Diễn Châu.
4
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu.
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ
1.1.1. Khái niệm
Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: Thuế là một khoản đóng góp bắt
buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống
pháp luật. Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối
kháng và sự xuất hiện của nhà nước (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2011-
2013). Tuy nhiên lý luận về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống
nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra
mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ
bản chất chung nhất của phạm trù này.
Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để
đạt được quyền lực công cộng đó, cần phải có những đóng góp của những người công
dân của nhà nước, đó là thuế” (Lê Văn Ái, 2000).
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định
nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất
xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua
con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.” (Trần Bình Minh-
C.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước”; Ăng ghen cũng đã
viết “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà
nước, đó là thuế ” (Phan Hiển Minh, Nguyễn Ngọc Thanh & Châu Thành Nghĩa,
2001).
Theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập
nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá:
“Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” (Lê Văn Ái, 2000).
Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong
pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ các đặc trưng trên của thuế , ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế
như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích
công cộng. 7
1.1.2. Bản chất, chức năng của thuế
1.1.2.1. Bản chất của thuế
Thuế là một phạm trù kinh tế đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, thuế luôn
luôn gắn chặt với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Thuế là một công cụ tài
chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử
dụng cho mục đích công cộng.
Bản chất của thuế được thể hiện bởi hai đặc trưng cơ bản nhất (Phan Hiển
Minh, Nguyễn Ngọc Thanh & Châu Thành Nghĩa, 2001), đó là:
Tính cưỡng chế là đặc tính cơ bản nhất của thuế. Trong thời Phong Kiến ở
phương Tây (điển hình là ở Pháp), đã có lúc tính chất này bị phủ định. Nhưng rất tiếc,
mọi nỗ lực nhằm hướng tới một hệ thống thuế có tính chất “tự nguyện” đều nhanh
chóng bị đổ vỡ. Các nhà đảo chính trong khi thực hiện các cuộc lật đổ chính quyền cũ
đều lấy lòng nhân dân bằng cách hứa hẹn sẽ xây dựng một hệ thống thuế có tính chất
tự nguyện. Nhưng khi đã nắm được chính quyền thì họ lại phải tái khẳng định lại tính
cưỡng chế của thuế khoá (thông qua những định chế pháp luật).
Tại sao thuế lại có tính cưỡng chế? Câu trả lời rất đơn giản: Không ai muốn nộp
thuế dù cho họ có rất nhiều tiền đi chăng nữa. Trong khi đó bất cứ Nhà nước nào cũng
phải cần có ngân sách để tối thiểu là duy trì bộ máy hoạt động của bản thân nhà nước.
Tính “cưỡng chế”, do đó, trở thành điều kiện cần và đủ của bất kỳ hệ thống nào trên
thế giới. Không chỉ các nhà kinh tế học tư sản mà ngay cả K. Marx cũng phải thừa
nhận rằng: Thuế, đó là “Nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng nhà nước pháp quyền, thuế
những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn từ
tổng thể các mối quan hệ tài chính.
Mặc dù chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của
thuế, nhưng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy
thuế luôn thực hiện hai chức năng: (1) chức năng phân phối và phân phối lại và (2)
chức năng điều tiết kinh tế (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2011-2013):
- Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản, đặc
thù nhất. Thông qua chức năng này, các quỹ bằng tiền của nhà nước được hình thành.
Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất đảm bảo cho sự hoạt động và tồn tại của nhà
nước. Mặc dù nhà nước có nhiều phương pháp mở rộng hay thu hẹp quy mô ngân sách
nhưng việc sử dụng công cụ thuế tỏ ra là có ưu thế hơn cả. Chức năng phân phối và
phân phối lại của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức
tiền tệ vào NSNN. Phần lớn thuế là đánh trên hàng hóa và thu nhập. Người có thu
nhập cao và có tiền chi tiêu cho nhiều hàng hóa hơn là người nộp thuế nhiều hơn; nói
cách khác là những người giàu có là những người phải chịu nhiều thuế (tính về số
tuyệt đối) hơn. Số tiền này sau đó lại được nhà nước chi tiêu vào hàng hóa công cộng,
9
trợ cấp hưu trí, bệnh tật,… tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội. Đây chính là
chức năng phân phối và phân phối lại của thuế. Cũng theo các suy luận trên, trong một
chừng mực đáng kể, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra
đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế.
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng tăng. Điều này được
giải thích bởi sự mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính
sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế.
- Bàn đến chức năng điều tiết kinh tế của thuế có nghĩa là phải xem thuế như là
một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến qua
trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Chức năng này không tách rời khỏi chức năng
phân phối và phân phối lại của thuế mà cả hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ
tương rất chặt chẽ. Tại các nước tư bản công nghiệp phát triển và ngày nay, kể cả tại
tiết kinh tế) của thuế tồn tại mối quan hệ chặt chẽ. Chức năng phân phối và phân phối
lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng
điều tiết kinh tế. Nhưng chức năng điều tiết kinh tế của thuế cũng có tác động ngược
lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập. Nguồn tài chính mà Nhà nước
tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng
và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngược lại,
việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây
chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và
phân phối lại.
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn
nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng. Mâu thuẫn của chức năng phân
phối và phân phối lại là mâu thuẫn giữa sự cần thiết mở rộng nguồn thu về thuế của
Nhà nước và sự phản kháng hoặc không hài lòng tất cả mọi người khi nộp thuế. Mâu
thuẫn của chức năng điều tiết kinh tế biểu hiện ở chỗ: Nhu cầu thực tế của sự can thiệp
của Nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh đụng chạm phải lợi ích kinh tế của
từng nhà doanh nghiệp.
1.1.3. Hệ thống thuế, phân loại thuế và các yếu tố cấu thành một sắc thuế
1.1.3.1. Khái niệm hệ thống thuế
Suy cho cùng, cơ sở nộp thuế đều bắt nguồn từ thu nhập, song do yêu cầu của
quá trình tái sản xuất, thu nhập vận động qua một chu trình kinh tế và thay đổi hình
thái biểu hiện của nó.
Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập luân chuyển trong một vòng khép kín:
người lao động nhận được tiền công, dùng tiền công này để mua hàng hoá, dịch vụ của
11
các công ty, đến lượt các công ty lại dùng số tiền thu được để trả lãi cho vốn đầu tư,
tiền thuê đất đai, tiền công và những thành phần này chi tiêu dưới nhiều dạng để mua
hàng hoá, dịch vụ.
Chính sự biến đổi đa dạng này đã tạo ra khả năng đánh thuế của Chính phủ trên
các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo
quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên,
điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu
nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử
dụng đất nông nghiệp
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng
trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế.
- Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, theo cách phân loại này thuế được chia
thành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng,
thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Thuế
đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số
tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của Ngân sách
Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí.
Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy
tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một
cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế (Quốc Hội nước
CHXHCNVN, 2006).
1.1.3.3. Các yếu tố cơ bản cấu thành một sắc thuế
Khác với các hình thức động viên tài chính khác, thuế thực hiện chuyển giao
thu nhập dưới các hình thức biểu hiện cụ thể của mình bằng một sắc thuế. Mỗi sắc
13
thuế đều phải được quy định bằng một văn bản pháp luật và được gọi là một luật thuế.
Trong một luật thuế thông thường chứa đựng các yếu tố cơ bản sau đây:
- Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế (Đối tượng nộp thuế):
Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế chỉ rõ khoản thuế đó do chủ thể
nào phải nộp. Luật thuế gọi chủ thể đó là đối tượng nộp thuế (ĐTNT).
Đối tượng nộp thuế theo luật định là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm
phải nộp thuế cho Nhà nước theo luật pháp quy định. Đối tượng nộp thuế không nhất
thiểu không phải nộp thuế, miễn giảm thuế. Một cơ sở thuế sau khi tính và nộp một
loại thuế tương ứng có thể trở thành cơ sở của một loại thuế khác.
1.1.4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều
kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi
phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức
quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh tế - xã hội. Thuế được coi là công cụ điều
tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to
lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và góp phần
đảm bảo công bằng xã hội (Đăng Thuỷ, 2011).
1.1.4.1. Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước
Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, các khoản viện trợ
giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách quốc gia,
là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia.
Biểu đồ 1.1: Kết quả thu ngân sách của nước ta giai đoạn 2010 - 2012
ĐVT: Nghìn tỷ đồng ( Nguồn: Tổng cục thuế )
Lạm phát được kìm hãm và đẩy lùi, thị trường được mở rộng, kim ngạch xuất
khẩu tăng, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển. Quan hệ kinh tế đối ngoại
0
200,000