BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN HỒNG TRUNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI
VỚI DỊCH VỤ HẢI QUAN MỘT CỬA ASEAN TẠI CHI CỤC
HẢI QUAN CỬA KHẨU QUỐC TẾ LAO BẢO
TỈNH QUẢNG TRỊ LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2014
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS . LÊ KIM LONG
KHÁNH HÒA – 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với
dịch vụ Hải quan một cửa ASEAN tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo
– Tỉnh Quảng Trị”. là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực. Kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn
nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
trước đây.
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Trung
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1. Tổng quan về cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu 5
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ và dịch vụ hải quan 5
1.1.1.1. Khái niệm và bản chất của dịch vụ 5
1.1.1.2. Khái niệm về dịch vụ hải quan hải quan một cửa 7
1.1.1.3. Quy trình thủ tục hải quan trong hệ thống một cửa ASEAN 9
1.1.2. Khái niệm về chất lượng dịch vụ 17
1.1.3. Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng 18
1.1.3.1. Khái niệm 18
1.1.3.2. Phân loại 19
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 49
3.1.2 Chức năng nhiệm vụ 50
3.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy 52
3.1.4 Kết quả hoạt động của Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo 54
3.2. Làm sạch và xử lý dữ liệu 56
3.3. Mô tả mẫu nghiên cứu. 57
3.4. Đánh giá sơ bộ thang đo 58
3.4.1. Đánh giá thang độ bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha 59
3.4.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích EFA 69
3.4.2.1 Kết quả EFA cho các biến độc lập 70
3.4.2.2 Kết quả EFA cho thang đo mức độ hài lòng 73
3.4.3 Kiểm định mô hình bằng phân tích hồi quy 75
3.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ hải quan
1 cửa ASEAN cửa khẩu quốc tế Lao Bảo 81
3.5.1. So sánh kết quả nghiên cứu với những kết quả nghiên cứu trước đây 81
3.5.2. Thống kê mô tả thang đo “Tin cậy” 83
3.5.3. Thống kê mô tả thang đo “ Phí và lệ phí” 84
3.5.4. Thống kê mô tả thang đo “ Đáp ứng” 84
3.5.5. Thống kê mô tả thang đo “ Năng lực phục vụ” 85
3.5.6. Thống kê mô tả thang đo “ Cơ sở vật chất” 86
3.5.7. Thống kê mô tả thang đo “ Sự hài lòng” 87
v
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO SỰ HÀI
LÒNG CỦA DOANH NGHIệP 89
4.1 Các kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu 89
4.2.Một số giải pháp và kiến nghị 89
TC : Tin cậy
DN : Doanh nghiệp
TTHC : Thủ tục hành chính
CLDV : Chất lượng dịch vụ
CBCC : Cán bộ công chức.
CKQT : Cửa khẩu quốc tế.
XNK : Xuất nhập khẩu.
NSNN : Ngân sách nhà nước
NK : Nhập khẩu vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 1: Mối quan hệ giữa mô hình gốc (1985) và mô hình hiệu chỉnh (1988) 25
Bảng 3.1: Kết quả thu ngân sách từ hoạt động XNK của Chi cục Hải quan CKQT Lao
Bảo – Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2012 55
Bảng 3.2: Bảng phân bố mẫu theo loại hình doanh nghiệp 57
Bảng 3.3: Bảng phân bố mẫu độ thời gian hoạt động 58
Bảng 3.4: Bảng phân bố mẫu theo loại hình xuất khẩu 58
Bảng 3.5: Hệ số Alpha – thang đo Tin cậy 60
Bảng 3.6: Hệ số Alpha – thang đo Đáp ứng 61
Bảng 3.7: Hệ số Alpha – thang đo đáp ứng lần 2 62
Bảng 3.8: Hệ số Alpha – thang đo Sự cảm thông 63
Bảng 3.9: Hệ số Alpha – thang đo Năng lực phục vụ 64
Bảng 3.10: Hệ số Alpha – thang đo Cơ sở vật chất 65
Hình 3.1. Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo 50
Hình 3.2. Cán bộ công chức Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo 522
Hình 3.3. Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 74
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiến tới chuẩn bị cho việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Việt
Nam phải thực hiện mốt số các cam kết, trong đó có cam kết về nâng cao chất lượng
dịch vụ Hải quan, đặc biệt là nâng cao chất lượng dịch Hải quan một cửa ASEAN là
yếu tố hàng đầu quyết định việc nâng cao và đáp ứng các tiêu chuẩn của khu vực mậu
dịch tự do ASEAN. Ngành Hải quan là ngành trực tiếp được Nhà nước ta giao trọng
trách thực hiện công tác quản lý Nhà nước về Pháp luật Hải quan. Trong những năm
qua, Hải quan Việt Nam đã tích cực thực hiện các cam kết Quốc tế, tham mưu cho
Chính phủ đưa ra các chủ trương, chính sách để nội luật hóa các yêu cầu của khu vực
ASEAN theo hướng tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta phát triển
và thuận lợi cho thương mại quốc tế.
hài lòng đối với dịch vụ hải quan. Hiện có đề tài “ Nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý
thuế xuất nhập khẩu của Cục Hải quan Nghệ An” của Nguyễn Ngọc Sang (2014). Hơn
nữa, vẫn chưa có nghiên cứu nào về “Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối
với dịch vụ Hải quan một cửa ASEAN tại Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo – tỉnh
Quảng Trị”
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ Hải quan một cửa
ASEAN tại Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo – tỉnh Quảng Trị trong thời gian vừa
qua để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ Hải quan một cửa
ASEAN tại Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo – tỉnh Quảng Trị, nhằm nâng cao uy tín
của Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo – tỉnh Quảng Trị khi giải quyết các thủ tục Hải
quan cho Doanh nghiệp.
Đo lường chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn để đưa ra ý kiến đánh giá của
Doanh nghiệp đối với dịch vụ Hải quan một cửa ASEAN từ đó đề xuất những giải
pháp và kiến nghị góp phần nâng cao và cải thiện chất lượng dịch vụ Hải quan một cửa
ASEAN nhằm phục vụ Doanh nghiệp trong lĩnh vực hải quan được tốt nhất.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Với mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn thực hiện các mục tiêu cụ thể sau đây:
- Xác định các thành phần cấu tạo nên chất lượng dịch vụ Hải quan một cửa.
- Xây dựng thang đo các thành phần chất lượng dịch vụ Hải quan một cửa.
- Đưa ra mô hình nghiên cứu đo lường mức độ hài lòng của Doanh nghiệp đối
với chất lượng dịch vụ Hải quan một cửa.
- Kiểm định giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thành phần chất
lượng dịch vụ tác động đến sự thỏa mãn của Doanh nghiệp khi đến giao dịch các thủ
tục Hải quan một cửa ASEAN tại Chi cục Hải quan CKQT Lao Bảo – tỉnh Quảng Trị.
3
điều tra số liệu thực tế bằng việc phỏng vấn trực tiếp.
Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả - mô tả mẫu điều tra; hệ số
Cronbach Alpha – Kiểm định sự phù hợp của thang đo; phân tích nhân tố khám phá
EFA – bóc tách các nhân tố; phân tích tương quan và hồi quy – kiểm định sự tác động
của các nhân tố trong mô hình. Thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS.
44. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
Bổ sung thêm những lý thuyết thiết thực cho khung lý thuyết về chất lượng dịch
vụ và sự hài lòng Doanh nghiệp. Làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên
quan.
4.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu chất lượng dịch vụ và hài lòng của Doanh nghiệp để Chi
cụ Hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo – Tỉnh Quảng Trị nâng cao sự hài lòng của
doanh nghiệp đối với dịch vụ Hải Quan một cửa.
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn bao gồm
04 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của doanh
nghiệp đối với dịch vụ hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo – Tỉnh Quảng Trị
không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta
mua chúng. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu
hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ
địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy.
6
Với lý do là vô hình nên công ty cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức như thế nào
về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ (Robinson, 1999).
b. Tính không đồng nhất
Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ
thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục
vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Đặc
tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao. Việc đòi hỏi
chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana & Pitt, 1997).
Những gì công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người
tiêu dùng nhận được.
c. Tính không thể tách rời
Tính không tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai
giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo
ra và sử dụng đồng thời. Điều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất
ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được
tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hoá, Doanh nghiệp chỉ sử dụng sản phẩm ở giai
đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, Doanh nghiệp đồng hành trong suốt hoặc một
phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra
trong quá trình chuyển giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình
tương tác giữa Doanh nghiệp và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ (Svensson,
1171/QĐ-TCHQ ngày 15/6/2009 về việc ban hành quy trình thủ tục hải quan đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
Dịch vụ về Thủ tục hải quan được thực hiện cho các lô hàng trong các trường hợp
sau:
Trường hợp 1: Hàng hoá không thuộc đối tượng phải kiểm tra thực tế của các bên
ký kết thoả thuận. Sau khi thực hiện xong thủ tục thông quan, hải quan nước xuất khẩu
đóng dấu không kiểm tra (No INSPECTION) vào tờ khai hải quan xuất khẩu và giao
cho chủ hàng để xuất trình cho hải quan nước nhập khẩu. Hải quan nước nhập khẩu
tiến hành thủ tục hải quan theo quy định hiện hành về miễn kiểm tra thực tế hàng hoá.
Trường hợp 2: Hàng hoá thuộc đối tượng phải kiểm tra thực tế của hải quan nước
nhập khẩu nhưng hàng hoá không thuộc đối tượng phải kiểm tra thực tế của hải quan
nước xuất khẩu. Sau khi thực hiện xong thủ tục thông quan, Hải quan nước xuất khẩu
đóng dấu không kiểm tra (No INSPECTION) vào tờ khai hải quan xuất khẩu và giao
cho chủ hàng để xuất trình cho hải qua nước nhập khẩu. Hải quan nước nhập khẩu, sau
khi thực hiện xong bước tiếp nhận đăng ký tờ khai, quyết định hình thức mức độ kiểm
tra thực tế sẽ yêu cầu chủ hàng đưa hàng hoá, phương tiện vận tải vào khu vực kiểm
tra chung trên lãnh thổ nước nhập khẩu để kiểm tra theo luật định ( kiểm tra riêng)
8
Trường hợp 3: Hàng hoá thuộc đối tượng phải kiểm tra thực tế của hải quan nước
xuất khẩu nhưng không thuộc đối tượng phải kiểm tra thực tế của hải quan nước nhập.
Sau khi thực hiện xong bước tiếp nhận, đăng ký tờ khai, quyết định hình thức mức độ
kiểm tra thực tế, hải quan nước xuất khẩu yêu cầu chủ hàng đưa hàng hoá, phương tiện
vận tải vào khu vực kiểm tra chung trên lãnh thổ nước nhập khẩu để kiểm tra theo luật
định (kiểm tra riêng), đồng thời thông báo (điện báo hoặc trực tiếp) cho hải quan nước
nhập khẩu biết. Hải quan nước nhập khẩu tiến hành thủ tục hải quan theo quy định
hiện hành về miễn kiểm tra thực tế hàng hoá.
đồng doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế cho toàn xã hội.
Mục đích triển khai cơ chế Hải quan một cửa ASEAN của Bộ Công Thương
cũng giống như mục đích triển khai cơ chế Hải quan một cửa nói chung của Việt Nam
là hướng tới xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia Việt Nam trở thành công
cụ hỗ trợ và thực thi chủ yếu của các cơ quan chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp
Việt Nam trong hoạt động thương mại quốc tế; Đảm bảo lợi ích quốc gia và cộng
đồng, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo thuận lợi thương mại và tăng cường
khả năng cạnh tranh quốc gia; Đảm bảo cho các giao dịch, các quy trình và quyết định
trong Cơ chế một cửa Quốc gia được thực hiện nhất quán, đơn giản, minh bạch và hiệu
quả; Sẵn sàng kết nối với Cơ chế một cửa ASEAN theo tinh thần của Hiệp định và
Nghị định thư về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN, hướng tới Cộng
đồng Kinh tế ASEAN 2015 cũng như sẵn sàng kết nối và trao đổi thông tin thương
mại với các đối tác thương mại khác trên toàn cầu.
Khi tham gia vào Cơ chế Hải quan một cửa ASEAN, các cơ quan quản lý (cán
bộ cấp phép) được hưởng một số lợi ích nhất định như sau: Giảm thời gian và chi phí
tiếp nhận xử lý hồ sơ cấp phép cho doanh nghiệp. Việc tiếp nhận, xử lý bằng hệ thống
điện tử sẽ chính xác, hiệu quả dẫn đến tiết kiệm nguồn lực trong công tác cấp phép của
các Bộ, ngành. Tiếp cận hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và nâng cao năng lực
sử dụng công nghệ thông tin. Tăng cường khả năng lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi thông
tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước và giữa cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam với
các nước khác.
1.1.1.3. Quy trình thủ tục Hải quan trong hệ thống một cửa ASEAN
Cơ chế một cửa ASEAN hoạt động trong một môi trường xử lý thông tin hài
hoà và tiêu chuẩn hoá (bao gồm cả thông tin thương mại hoặc thông tin quản lý) để
đẩy nhanh việc giải phóng và thông quan hàng hoá. Với vai trò là một chiến lược, cơ
chế một cửa ASEAN cũng được coi là một nỗ lực cụ thể nhằm đạt được thời gian
thông quan hàng hoá trung bình là 30 phút. Các thông lệ và công ước về hải quan và
thương mại đã được nghiên cứu và phân tích trên cơ sở sử dụng ngôn ngữ mẫu thống
nhất (UML) và phương pháp mẫu của UN/CEFACT cho cơ chế một cửa ASEAN và
11 Sơ đồ 1.1. Mô hình quy trình thông quan trong hệ thống một cửa ASEAN
Hệ thống Hải quan
nhận và kiểm tra tính
hợp lệ của dữ liệu hồ
sơ HQ
e-SAD
Hoá đơn thương mại
Không
tuân th
ủ
Kiểm tra thực tế
hàng hoá
Tuân th
ủ
Gửi thông báo tới lãnh đạo để
thực hiện quy trình xử lý DN
không tuân thủ
Miễn kiểm tra thực
tế hàng hoá
Gửi thông tin phản hồi cho hệ
thống QLRR
Thông quan và
giải phóng hàng
1. Phúc tập
2. Kiểm tra sau
thông quan
Kết nối thông tin tới cảng vụ
để xác nhận hàng được thông
quan
Hệ thống
gửi thông
báo phản
hồi bằng
điện tử cho
người khai
ngành có liên quan để xác nhận tính hợp lệ của giấy phép theo quy định của chính sách
mặt hàng (nếu có). Trường hợp các thông tin khai báo phù hợp và đầy đủ thì hệ thống
chấp nhận đăng ký tờ khai điện tử và tiến hành phân luồng. Trường hợp thông tin khai
hải quan gửi đến chưa phù hợp theo quy định hệ thống sẽ gửi tin nhắn phản hồi trở lại
cho người khai hải quan để bổ sung, sửa đổi.
Các thông tin bao gồm: số liệu do người khai hải quan cung cấp, thông tin gửi đến
bởi các cơ quan bộ, ngành khác và thông tin tình báo do cán bộ hải quan lưu giữ hoặc
thu thập từ hải quan nước khác hoặc tổ chức hải quan thế giới được chuyển tới hệ
thống quản lý rủi ro và cơ sở dữ liệu hải quan để thiết lập các hồ sơ phân luồng đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu.
b. Phân luồng, kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, thu thuế và thông quan
hàng hoá
Hệ thống quản lý rủi ro căn cứ vào những thông tin nhận được và dữ liệu thông tin
lưu trữ về người khai hải quan tự động phân luồng tờ khai, đưa ra lệnh hình thức, mức
độ kiểm tra.
13
* Trường hợp miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ: Trường hợp lô hàng được hệ thống chấp
nhận “thông quan”, hệ thống sẽ gửi tin tới người khai hải quan thông báo số thuế phải
nộp. Trên cơ sở thông báo thuế của hệ thống, người khai hải quan thông qua ngân
hàng gửi lệnh thanh toán số tiền thuế tới hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống thanh
toán điện tử truyền dữ liệu về số tiền thuế đã nộp tới hệ thống thông tin hải quan để
tiến hành thủ tục thông quan. Hệ thống truyền dữ liệu về hàng hoá đã được thông quan
tới cảng vụ và hãng tàu để hoàn tất thủ tục xuất khẩu/nhập khẩu đồng thời dữ liệu về
hàng hoá được thông quan sẽ truyền nhận tới bộ phận phúc tập và kiểm tra sau thông
quan.
* Trường hợp kiểm tra chi tiết hồ sơ: công chức hải quan sẽ kiểm tra chi tiết hồ sơ
* Trường hợp kiểm tra thực thế hàng hoá: Sau khi đã kiểm tra chi tiết hồ sơ, hệ
thống cho biết mức độ kiểm tra thực tế hàng hóa. Công chức hải quan tiến hành kiểm
tra thực tế đối với hàng hoá thông qua các phương tiện điện tử như máy soi container,
cân điện tử, thiết bị đo lường khác hoặc trực tiếp nếu cần thiết. Nếu kiểm tra thực tế
hàng hoá không phát hiện vi phạm của người khai hải quan thì hàng hoá được thông
quan sau khi hệ thống nhận được thông báo đã nộp đủ số thuế theo quy định. Trường
hợp kiểm tra thực tế hàng hoá phát hiện vi phạm của người khai hải quan thì cơ quan
hải quan tiến hành lập biên bản và xử lý theo quy định của pháp luật đồng thời gửi
thông tin phải hồi ngược trở lại cho hệ thống quản lý rủi ro để cập nhật thông tin về
người khai hải quan.
c. Hoạt động sau thông quan
Hoạt động kiểm tra sau thông quan được thực hiện để kiểm tra sự tuân thủ của
các doanh nghiệp được chọn sau khi hàng hoá đã được thông quan.
Hoạt động kiểm tra sau thông quan sẽ được phân chia thành hai cấp độ kiểm
toán: Kiểm toán theo hệ thống được thực hiện bởi các cán bộ kiểm toán đã được đào
tạo chuyên sâu về kiểm soát và kiểm toán giao dịch được thực hiện bởi cán bộ hải
quan khi tiếp nhận và xử lý hồ sơ đã được đào tạo về kiểm toán giao dịch.
Kiểm toán theo hệ thống
Kiểm toán theo hệ thống là một công cụ được cơ quan thuế sử dụng để xác định độ
tuân thủ của doanh nghiệp trong các chế độ thuế khác nhau phải nộp. Phương pháp
kiểm toán được sử dụng tương tự nhau trong hải quan, thuế tiêu thu đặc biệt (TTĐB),
thuế giá trị gia tăng (VAT) nhưng trọng tâm lại khác nhau. Khi kiểm tra lần đầu thì
cần tập trung vào các hệ thống mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh.
Mỗi doanh nghiệp đều có hệ thống thường xuyên để vận hành hoạt động kinh doanh
cho dù đó là doanh nghiệp lớn hay nhỏ cũng có hệ thống đơn hàng, biên nhận, hệ
thống kho hàng, hệ thống thanh toán, hệ thống phân phối. Tuỳ loại hình và quy mô của
doanh nghiệp mà có thêm các hệ thống khác như sản xuất, xuất nhập khẩu, kiểm soát
quản lý. Khi tiến hành kiểm toán phải xác định mức độ, phạm vi tự động hoá của sổ
sách kế toán và việc lưu trữ hồ sơ của doanh nghiệp, loại hệ thống, phần mềm được sử
Sơ đồ 1.2. Mô hình kiểm toán hệ thống
Kiểm toán hệ thống thường được áp dụng cho các doanh nghiệp lớn mặc dù nó
cũng có thể được áp dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khi được coi là cần thiết
đặc biệt khi thực hiện biện pháp cưỡng chế hoặc điều tra. Việc kiểm toán theo hệ
Xác định và lựa chọn
doanh nghiệp để kiểm
toán
Lập kế hoạch và phân
công nhân sự
Đội kiểm toán hoàn thành
kế hoạch kiểm toán có tham
khảo ý kiến của lãnh đạo
Kiểm tra lần đầu để thiết lập
các hệ thống và cơ sở cho
kiểm toán bằng máy tính
Tiến hành kiểm tra
dựa trên hệ thống
Viết báo cáo đảm bảo cuối
cùng chi tiết về độ tuân
thủ
Thông báo cho hệ
thống phân luồng về độ
tuân th
ủ