Tôi xin cam đoan đề tài “Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quay lại của
thực khách đối với các nhà hàng tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An” là công trình
nghiên cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin
nào. Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các
thông tin trích dẫn trong nghiên cứu này đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Thị Thương Huyền
ii LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
TÓM TẮT ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 5
1.1. Khái niệm về nhà hàng 5
1.2. Đặc điểm kinh doanh nhà hàng 5
1.2.1. Đặc điểm về sản phẩm kinh doanh 5
1.2.2. Đặc điểm về thời gian và tổ chức lao động 6
1.2.3. Đặc điểm về hoạt động kinh doanh nhà hàng 7
1.2.4. Đặc điểm của môi trường lao động 7
1.2.5. Đặc điểm về kiến trúc và trang trí nội thất 8
1.3. Quy trình phục vụ khách trực tiếp tại nhà hàng 9
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển du lịch Biển Cửa Lò 20
2.1.2. Tình hình khách du lịch đến với Thị xã Cửa Lò 22
2.1.3. Thực trạng hệ thống nhà hàng trên địa bàn Thị Xã Cửa Lò 24
2.2. Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.2. Quy trình nghiên cứu 27
2.3. Triển khai nghiên cứu 30
2.3.1. Nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn nhóm theo chủ đề 30
2.3.2. Phát triển các thang đo và đánh giá sơ bộ các thang đo 30
2.3.3. Phương pháp phân tích 34
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1. Mô tả mẫu 40
3.2. Đánh giá mô hình đo lường 43
3.2.1. Phân tích các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 43
BCH: Bảng câu hỏi
CSVCKT: Cơ sở vật chất kỹ thuật
CB CNV: Cán bộ công nhân viên
DL: Du lịch
EFA: (Exploration Factor Analysis) Phân tích nhân tố khám phá.
LB-TCDL: Liên bộ Tổng Cục Du Lịch
SPSS: Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học xã hội.
VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm
VIF: (Variance inflation factor –VIF) hệ số phóng đại phương sai
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Các bước nghiên cứu 27
Bảng 2.2. Phân bố mẫu điều tra 29
Bảng 2.3. Các thang đo được sử dụng trong mô hình nghiên cứu này 30
Bảng 2.4. Thang đo chất lượng dịch vụ SERVPERRF hiệu chỉnh 31
Bảng 2.5. Thang đo Chất lượng vệ sinh và an toàn thực phẩm 32
Bảng 2.6. Thang đo giá 32
Bảng 2.7. Thang đo cảnh quan 33
Bảng 2.8. Thang đo ý định quay lại đã được hiệu chỉnh 33
Bảng 3.1. Bảng phân bố mẫu theo giới tính 40
Bảng 3.18. Kết quả phân tích 50
Bảng 3.19 Phân tích nhân tố EFA cho các chỉ báo của nhân tố phụ thuộc “ý định quay
lại với nhà hàng” 52
Bảng 3.20: Ma trận hệ số tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc 54
Bảng 3.21: Tóm tắt mô hình trong phân tích hồi quy lên ý định quay lại 55
Bảng 3.22: Bảng phân tích Anova trong phân tích hồi quy lên ý định quay lại 55
vii
Bảng 3.23. Bảng các hệ số hồi quy của mô hình lên ý định quay lại 55
Bảng 3.24: Bảng thống kê mô tả thang đo “ Phong cách thái độ” 56
Bảng 3.25: Thống kê mô tả thang đo “Cảnh quan” 57
Bảng 3.26: Bảng thống kê mô tả thang đo “Chất lượng phục vụ nhân viên” 58
Bảng 3.27: Bảng thống kê mô tả thang đo “Giá” 58
Bảng 3.28: Bảng thống kê mô tả thang đo “Đáp ứng” 59
Bảng 3.29: Bảng thống kê mô tả thang đo “Ý định quay lại” 59
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cửa Lò là một vùng đất có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời và được thiên
nhiên ban tặng bãi tắm và danh thắng đẹp đến ngỡ ngàng. Từ xứ biển nghèo mang
dáng dấp của một làng chài, Cửa Lò rũ cát đứng lên thành một đô thị du lịch biển trẻ
trung tràn đầy sức sống như hôm nay. Cửa Lò đang lớn lên ngày càng duyên dáng, hấp
dẫn, không những là nơi hội tụ hồn thơ, điệu nhạc mà còn là điểm hẹn lý tưởng của du
khách gần xa, của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Chính vì những lý do này
đã chắp cánh cho Cửa lò ngày càng phát triển. Năm 2012, Thị xã Cửa Lò đón hơn
1,935 triệu lượt khách, trong đó khách lưu trú hơn 1,245 triệu lượt, doanh thu đạt
1.120 tỷ đồng, đạt 101,8% so với kế hoạch năm, tăng 17,9% so với năm 2011. Trên
địa bàn thị xã hiện có 246 cơ sở lưu trú với 6.453 phòng có khả năng phục vụ 18.000
lượt khách lưu trú ngày/đêm. Trong năm qua Cửa Lò đã đón 200 đoàn khách quốc tế.
Thị xã đang ngày càng đa dạng hóa các loại hình du lịch tắm biển; thể thao; du lịch
sinh thái; du lịch văn hóa tâm linh…nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của du
khách. Năm 2013, Cửa Lò đón 2,1 triệu lượt khách du lịch về nghỉ dưỡng, tắm biển.
Trong đó có 1,33 triệu lượt khách lưu trú, doanh thu đạt 1.378 tỷ đồng. Cửa Lò đang
ngày càng trở nên xanh, sạch, đẹp hơn, du lịch Cửa Lò ngày càng chuyên nghiệp, hấp
dẫn, thu hút ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước.
Đến với Cửa Lò, du khách không thể bỏ qua việc thưởng thức các món ẩm thực
mang hương sắc vùng biển Miền Trung. Đó là các món được chế biến từ hải sản Nước
mắm hạ thổ, mọc cua bể, các món mực, cá giò 7 món, ghẹ hấp, cháo nghêu và đặc biệt
là cháo lươn - món ăn rất dân dã, rất riêng của người xứ Nghệ. Du lịch Cửa Lò, với
hơn 100 năm hình thành và phát triển đang trở thành điểm du lịch thu hút rất nhiều du
khách trong và ngoài nước. Hiện nay trên địa bàn Thị xã Cửa Lò có hơn 400 khách
sạn, nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống ẩm thực biển cho khách du lịch, với nhiều món
ăn nổi tiếng được chế biến từ hải sản tươi sóng mang lại giá trị cảm quan cao của từng
món ăn. Đây là một điều kiện thuận lợi cho thực khách khi lựa chọn món ăn mà mình
quay lại của thực khách đối với các nhà hàng ở Cửa Lò.
- Rút ra các hàm ý cho công tác phục vụ khách, cũng như đề xuất một số hàm ý
ứng dụng nhằm thu hút và duy trì lượng khách đến nhiều hơn với các nhà hàng ở Cửa Lò.
3. Đối tượng nghiên cứu, điều tra và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định quay lại của thực khách
du lịch đối với dịch vụ kinh doanh nhà hàng tại Thị xã Cửa Lò.
Đối tượng điều tra Khách du lịch đến sử dụng dịch vụ ăn uống của các nhà
hàng trên địa bàn Thị xã Cửa Lò.
3
Phạm vi nghiên cứu Chỉ dừng lại nghiên cứu tại Thị xã Cửa Lò và tập trung chủ
yếu vào nhóm khách của các nhà hàng lớn đóng trên địa bàn Thị xã Cửa Lò (đó là nhà
hàng Hải Đăng, nhà hàng Sài Gòn - Kim Liên Resort, Nhà Hàng Thúy Hằng, nhà hàng
Thúy Hiếu, … và Các nhà hàng độc lập quy mô lớn trên địa bàn Thị xã Cửa Lò).
4. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài hướng đến trả lời các câu hỏi chính Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự
quay lại của thực khách đối với các nhà hàng tại Cửa Lò? Mức độ ảnh hưởng của
chúng ra sao? Chiều hướng tác động như thế nào?
5. Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu trên, thiết kế nghiên cứu của đề tài sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng với dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi điều tra người tiêu dùng,
“Phân tích độ tin cậy với hệ số Cronbach’s alpha”, “Phân tích nhân tố khám phá”, và
“phân tích hồi quy bội”
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về lý luận
Hệ thống hóa các nghiên cứu về ý định quay lại và trung thành của khách hàng.
6.2. Về thực tiễn
Nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng phục vụ khách để thu hút được sự quay lại
của khách đối với các nhà hàng tại Thị xã Cửa lò.
7. Cấu trúc của luận văn
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT
NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm về nhà hàng
Khái niệm một cách đơn giản nhất, Nhà hàng trước hết là một doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Nhà hàng phục vụ nhiều đối tượng khách khác nhau, có thể nguồng khách tại chổ,
khách địa phương, khách từ nơi khác đến, hay là khách du lịch, khách vãng lai …như
vậy đối tượng phục vụ của nhà hàng rất phong phú, tùy theo khả năng, tùy theo mục
đích kinh doanh, tùy theo đoạn thị trường khách nhắm vào mà doanh nghiệp thiết lập
mục tiêu kinh doanh và phục vụ đối tượng khách đó. Vì đối tượng khách đa dạng như
vậy nên nhà hàng có thể là một bộ phận của khách sạn hoặc cũng có thể là một đơn vị
kinh doanh độc lập.
Nhà hàng là nơi thực khách đến để ăn uống, thưởng thức ẩm thực, thưởng thức
các dịch vụ đi kèm khác. Vậy có phải bất kỳ nơi nào kinh doanh dịch vụ ăn uống thì
được gọi là nhà hàng, không hẳn vậy, theo thông tư liên bộ số 27\LB-TCDL ngày
10\01\1996 Của Tổng cục du lịch và bộ thương mại Việt Nam thì Nhà hàng là nơi kinh
doanh các món ăn đồ uống có mức chất lượng và là cơ sở kinh doanh có mức vốn
trình khách tiêu dùng, phục vụ của các trang thiết bị trong quá trình khách ăn
uống… chính yếu tố phi vật chất này làm cho quá trình cung cấp dịch vụ được
tiến hành đồng thời.
Các sản phẩm từ kinh doanh nhà hàng mang tính nghệ thuật cao Nguyên
nhân chính là do nhu cầu ăn uống của khách hàng không phải là chỉ ăn để no mà
là ăn để thưởng thức. Khách có thể ăn bằng miêng, bằng mũi, bằng tai, bằng
tay…nên các sản phẩm làm ra không những đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng mà còn
phải đảm bảo tính nghệ thuật. Mặt khác do chủ yếu là lao động thủ công, mà sản
phẩm lao động từ thủ công mang tính nghệ thuật cao.
1.2.2. Đặc điểm về thời gian và tổ chức lao động
Dung lượng lao động Đặc điểm lao động trong nhà hàng là có số lao động lớn
do đòi hỏi có sự tiếp xúc phục vụ trực tiếp giữa khách và nhân viên. Mặt khác, khách
đến nhà hàng không chỉ để ăn no, ăn đủ mà còn thưởng thức tài nghệ nấu nướng qua
bàn tay khéo léo của người đầu bếp và sự phục vụ tận tình của nhân viên nhà hàng.
Tính chuyên môn hóa trong lao động Lao đông trong nhà hàng có tính chuyên
môn cao, đòi hỏi tình độ lao động cao nhưng lại gắn kết với nhau trong một dây
chuyền khép kín chặt chẽ. Các bộ phận trong nhà hàng, bàn bếp, bar có các chức năng
nghiệp vụ thao tác riêng, đòi hỏi nghiêp vụ thành thạo và không thay thế nhau được
nhưng lại gắn kết với nhau chặt chẻ không thể tách rời nhau được.
7
Sức khỏe Do cường độ làm việc trong nhà hàng rất lớn do đó đòi hỏi đội ngủ
lao động phải trẻ, khỏe có thể phục vụ tốt, yêu cầu về độ tuổi của mỗi bộ phận cũng
khác nhau, bộ phận phục vụ trực tiếp như bàn, bar tuổi từ 20 đến 30 là hợp lý, các bộ
phận khác bếp, bảo vệ, tạp vụ…phải có sức khỏe, thâm niêm và kinh nghiệm thực tế.
Giới tính Do tính chất công việc, yêu cầu lao động trong nhà hàng chủ yếu là
nam, nhanh nhẹn, hoạt bát, mạnh khỏe, dẻo dai và quyết đoán.
1.2.3. Đặc điểm về hoạt động kinh doanh nhà hàng
Kinh doanh nhà hàng mang tính mùa vụ nguyên nhân do nhu cầu ăn uống của
khách hàng phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu. Những yếu tố này mang
thuật nghiêm ngặt, công việc phục vụ yêu cầu tận tụy, bền bỉ liên tục không ngừng,
không kể sớm tối, không kể ngày nghỉ hay ngày lễ, không nền hà thời tiết thay đổi thất
thường.
Thời gian làm việc tại nhà hàng rất khắt khe Giờ ăn của khách chính là thời
gian lao động của nhân viên, thời gian này kéo dài suốt nhiều giờ trong khi khách
thưởng thức dịch vụ ăn uống, thời gian này không được ấn định rõ ràng và thường giao
động do những biến đổi thất thường, do đó đòi hỏi nhân viên phục vụ phải có sức khỏe
tốt, dẻo dai và tính kiên nhẫn.
Tính trung thực, có bản lĩnh chịu khó Đây là những đức tính cần có của người
phục vụ bàn, bởi trước sự hấp dẫn của vật chất, tiền bạc cũng như sự gian khổ của
công việc, sự ngẩu hứng quá thái khi phục vụ hoặc sự mềm lòng, tự ti thường dẫn đến
sự sao nhả trong công việc thờ ơ, nhầm lẫn trong công việc, ảnh hưởng nghiệm trọng
đến chất lượng và uy tín của nhà hàng.
1.2.5. Đặc điểm về kiến trúc và trang trí nội thất
Kiến trúc
Đây là khâu quan trọng mà ngay từ đầu khi chuẩn bị lập dự án kinh doanh nhà
hàng, nhà đầu tư phải định hình trước, bởi lối kiến trúc mà nhà hàng chọn sẽ chi phối
các yêu tố khác (bài trí nội thất, trang thiết bị, dụng cụ…)
Hiện nay, trên thế giới đã phân chia nhà hàng thành nhiều kiểu dáng khác nhau,
tuy nhiên có 5 kiểu kiến trúc đang thịnh hành mà các nhà đầu tư quan tâm áp dụng :
+ Kiểu cổ đại (style ancient) Kiến trúc theo kiểu lâu đài, thành quách, cổ xưa.
+ Kiểu cổ điển (style classic) Thuộc hạng nhà hàng sang trọng trong thành phố lớn
hoặc ở vùng ven đô xa khu dân cư.
+ Kiểu kiến trúc đương đại (style modern) Thường áp dụng cho các nhà hàng ăn nhanh
(snack bar) hoặc nhà hàng chuyên uống (cafeteria)
+ Kiểu dân dã (style rustic) Kinh doanh ở vùng nghỉ mát trên cao nguyên hoặc bìa
rừng, hoặc ở các vùng ven đô xa khu dân cư.
9
+ Kiểu quốc gia Nhà hàng Nhật, nhà hàng Pháp, nhà hàng Trung Quốc…
Sắp xếp, kê bàn, ghế trong phòng ăn.
Trải khăn trải bàn và khăn trang trí.
Đặt bàn ăn
Khi mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, nhà quản lý nhất thiết phải kiểm tra
thật kỹ từng việc đối với từng nhân viên.
Chuẩn bị phòng ăn và bày
bàn ăn
Thanh toán, tiễn khách và
thu d
ọn b
àn
Tổ chức phục vụ trực tiếp
Đón tiếp và mời khách
đ
ịnh vị tai nh
à hàng
10
1.3.2. Đón tiếp khách, mời khách định vị tại nhà hàng
Công việc này được thực hiện theo một cách chuyên môn hóa, được phân công
cho những nhân viên có trình độ giao tiếp và ngoại ngữ tốt. Nhân viên đón tiếp khách
phải là người có hiểu biết sâu về các món ăn đồ uống, thậm chí cả về cách chế biến các
món ăn, phong tục tập quán trong ăn uống của các dân tộc, vùng miền, nhằm bán
hàng tốt, và tối đa hóa doanh thu cho nhà hàng (Trích Mỹ Nga, 2009, Kinh doanh nhà
hàng – 247 nguyên lý quản lý, NXB Lao động xã hội).
1.3.3. Tổ chức phục vụ trực tiếp trong thời gian khách ăn uống tại nhà hàng
Trong giai đoạn này nhân viên phục vụ phải tiếp xúc trực tiếp với khách trong
với những người xung quanh (Chen & Tsai, 2007).
1.5. Chất lượng dịch vụ và mối quan hệ với ý định quay lại của khách hàng
Theo Kotler và Amstrong định nghĩa dịch vụ như sau “Dịch vụ là bất kỳ hành
động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và
không đem lại sự sở hữu nào cả”.
“Chất lượng được định nghĩa như là sự tuyệt hảo hàm ý rằng các đầu vào và
cách chế biến tốt nhất được sử dụng để làm ra các sản phẩm hoặc cung cấp một dịch
vụ, vì vậy đòi hỏi một mức giá cao“ (Zeithem et al., 1988).
Nếu chất lượng hàng hóa là hữu hình và có thể đo lường bởi các tiêu chí khách
quan như Tính năng, đặc tính, và độ bền. Thì chất lượng dịch vụ là vô hình, do đó, tài
liệu xác định chất lượng dịch vụ dựa theo Chủ quan, thái độ, và khả năng nhận biết.
Zeithaml (1987) giải thích "Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng
về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái
độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về
những thứ ta nhận được". Còn Lewis và Booms phát biểu "Dịch vụ là một sự đo lường
mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng
tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách
hàng một cách đồng nhất". Nhận định này chứng tỏ rõ rằng chất lượng dịch vụ liên
quan đến những mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đạt được
lợi thế cạnh tranh trong ngành công nghiệp nhà hàng. Mô hình Chất lượng dịch vụ
được Parasuraman & ctg (1985) nghiên cứu. Parasuraman và cộng sự là những người
tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chi tiết trong lĩnh
vực tiếp thị với việc đưa ra mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ:
- Độ tin cậy (Reliability) Khả năng thực hiện một dịch vụ đúng như đã hứa và
chính xác. Một dịch vụ có thể tin cậy được nếu nó thực hiện đúng ngay ban đầu.
- Đáp ứng (Response) Sự sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và nhanh chóng cung cấp
các dịch vụ như đã hứa.
12
viên (Sự đảm bảo), và đề nghị rằng 4 thành phần này có ảnh hưởng cùng chiều với Ý
định quay lại.
13
Giả thuyết 1: Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng cùng chiều với ý định quay lại của
thực khách.
Chất lượng dịch vụ là một khái niệm đa thành phần, nghiên cứu này điều chỉnh
tên gọi các yếu tố từ thang đo chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985)
để phù hợp với bối cảnh nhà hàng gồm: Cơ sở vật chất (Hữu hình); Đáp ứng thực
khách (Đáp ứng); Phong cách phục vụ của nhân viên (Cảm thông); Chất lượng nhân
viên (Sự đảm bảo), và đề nghị rằng 4 thành phần này có ảnh hưởng cùng chiều với Ý
định quay lại.
Giả thuyết 1a: Cơ sở vật chất có ảnh hưởng cùng chiều với ý định quay lại của thực
khách.
Cơ sở vật chất là hệ thống trang thiết bị và dụng cụ cần thiết được bố trí hài
hòa, phù hợp với không gian của nhà hàng. Từ hệ thống âm thanh ánh sáng đến các
loại thiết bị máy móc quầy, tủ, máy lạnh. Để tạo được phong cách riêng của nhà hàng
thì chủ nhà hàng cần đầu tư rất nhiều về các trang thiết bi cũng như dụng cụ đầy đủ,
đẹp và đồng bộ. Bên cạnh đó cấn phải có kiến thức về phong cách bố bí trang thiết bị
kết hợp với dụng cụ để tạo ra cảm giác thoáng mát thoải mái cho khách hàng khi đến
thưởng thức các món ăn tại nhà hàng. Với cơ sở vật chất đồng bộ và đẩy đủ kết hợp
với sự khéo léo trong bố trí không gian nhà hàng kết hợp cung cách phục vụ sẽ làm
cho khách hàng có ý định quay lại với nhà hàng (Cronin và Taylor, 1992).
Giả thuyết 1b: Đáp ứng của nhân viên có ảnh hưởng cùng chiều với ý định quay lại
của thực khách.
Khả năng đáp ứng nhu cầu, đó là việc nhà hàng có thể thực hiện được những
yêu cầu mà thực khách cần một cách tốt nhất. Khi nhân viên nhà hàng thấu hiểu thực
khách, khách hàng đánh giá tốt về khả năng phục của nhà hàng, thì mối quan hệ giữa
khách hàng và nhà hàng trở nên gắn bó hơn. Zeithaml & ctg (1996) lập luận rằng nếu
khách hàng đánh giá mức độ đáp ứng chất lượng dịch vụ của một công ty tốt thì họ sẽ
thưởng thức tại nhà hàng (Zeithaml & ctg, 1996).
1.6. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và mối quan hệ với ý định quay lại
Theo quy định tại điều 31 khoản 1 pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003
(gọi tắt là pháp lệnh 2003) thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn uống ở
dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến. Bên cạnh thực phẩm là những thức ăn, đồ uống
của con người dưới dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến; bao gồm cả đồ uống,
nhai ngậm và các chất đã được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Vệ sinh
thực phẩm Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phù hợp
của thực phẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm. An toàn thực phẩm là sự bảo
đảm thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chuẩn bị hoặc ăn theo
mục đích sử dụng.