MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ca cao là loại cây trồng thích bóng râm nên có thể trồng xen với nhiều
loại cây trồng khác. Hiện nay phát triển cây ca cao thuận lợi vì thị trường ngày
càng lớn do Brazil và Malaysia đang giảm diện tích trồng, giá cả có chiều hướng
gia tăng. Thực tế cho thấy các mô hình trồng xen ca cao với dừa, nhãn, điều… và
các cây lấy gỗ khác đã làm tăng thu nhập cho người dân. Ca cao trồng xen với
một số loại cây trồng khác là sự kết hợp hài hòa về mặt nông học và mang lại
hiệu quả kinh tế. Nhờ đó cây ca cao không bị nắng chiếu trực tiếp, tạo điều kiện
cho cây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao.
Ngoài ra, cây ca cao có thể trồng được trên nhiều loại đất như: đất đỏ
bazan, đất feralit vàng phát triển trên đá trầm tích, đất tro núi lửa, đất cát…và
không đòi hỏi đầu tư quá cao. Nhìn chung, cây ca cao thích hợp với loại đất có
tầng canh tác dày, ít nhất là 1,5 m, dễ thoát nước, có cấu trúc tốt, giữ và thoát
nước tốt, giàu chất dinh dưỡng [9]. Điều này phù hợp với chủ trương chung của
Nhà nước về đa dạng hóa và chuyển đổi cơ cấu cây trồng để tăng tính bền vững
trong sản xuất nông nghiệp.
Tùy điều kiện thời tiết khí hậu mà chọn thời vụ trồng cho thích hợp, tốt
nhất là trong mùa mưa. Ở Tây Nguyên thời vụ trồng tốt nhất bắt đầu từ tháng 6,
các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ thời vụ trồng vào tháng 10.
Ở Việt Nam, cây ca cao được trồng đầu tiên vào năm 1878 ở làng Vĩnh
Thành, Cái Mơn, Bến Tre với diện tích khoảng 6 ha. Tháng 9 năm 1998, Chính
phủ đã phê duyệt Dự án trồng ca cao đến năm 2010 là 100.000 ha tập trung 4
vùng trọng điểm: Tây Nguyên (28.500 ha), miền Đông Nam bộ (20.500 ha),
duyên hải miền Trung (13.000 ha) và đồng bằng sông Cửu Long (918.500 ha)
Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, tháng 10 năm 1998. [1]
Năm 2011 thế giới sản xuất khoảng 3,6 triệu tấn ca cao, trong khi nhu cầu
hơn 5 triệu tấn. Vì vậy, trong tương lai Việt Nam là một trong những quốc gia có
1
tiềm năng phát triển ca cao. Theo Bộ NN & PTNT đến cuối năm 2011 cả nước
có khoảng 20.500 ha ca cao. Chính phủ hi vọng nâng diện tích ca cao toàn quốc
nghiên cứu tiếp theo về cây ca cao tại tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Buôn
Đôn nói riêng.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Bón phân cho cây ca cao của nông dân chủ yếu dựa vào cảm tính nên
năng suất và chất lượng nông sản không ổn định, hiệu quả kinh tế chưa cao. Do
vậy, việc nghiên cứu công thức phân bón hợp lý cho cây ca cao như là một biện
pháp quan trọng, vừa tiết kiệm được chi phí sản xuất, vừa tăng năng suất. Góp
phần bảo vệ và nâng cao độ phì của đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong
điều kiện sản xuất hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình kỹ
thuật thâm canh ca cao tại địa phương. Góp phần tăng thu nhập và mang lại hiệu
quả kinh tế cho người dân.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài được tiến hành trong thời gian ngắn nên chỉ tập trung nghiên cứu
trên dòng ca cao TD3 trong giai đoạn kiến thiết cơ bản và kinh doanh.
- Đề tài được thực hiện tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk từ tháng
10/2012 đến tháng 10/2013.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu về cây ca cao
Cây ca cao () thuộc:
- Thứ Theobroma cacao .L
- Họ Sterculiaceae
Thứ Theobroma gồm 20 loài, trong đó chỉ có loài là có
giá trị kinh tế. được chia làm 2 loại phụ: và
[2]
- trái đỏ, kích thước lớn, có nhiều ở vùng Nam Mỹ (Venezuela,
Ecuado, Clombia).
- có màu vàng đỏ, có nhiều ở Châu Phi (Ivory Coast, Ghana,
là điều bí mật của những người Tây Ban Nha. Tuy nhiên, do giá cả quá đắt đỏ
nên những người Tây Ban Nha thực dụng và nhạy bén đã ngay lập tức trồng cây
ca cao trên các thuộc địa của họ để xuất khẩu tới những quốc gia khác trong châu
lục và thu lại khoản lợi nhuận khổng lồ. Ca cao đã lan truyền khắp châu Âu, việc
uống bột ca cao thành một trào lưu ở Pháp, dưới thời Vua Louis 14 và 15 thức
uống ca cao rất được ưa chuộng tại Versailles. Và rồi ca cao đã tới Anh, cũng
giống như ở Pháp, nó nhanh chóng chinh phục nước Anh. Kể từ khi quán bán
thức uống ca cao đầu tiên được khai trương năm 1657, tới đầu thế kỉ 18 những
nhà máy sản xuất thức uống ca cao và sôcôla đầu tiên đã được thành lập. Đến
1730, ca cao sụt giá mạnh cùng với những máy móc chế tạo thức uống ca cao và
sôcôla được phát minh trong cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo tiền đề cho một
nền công nghiệp sản xuất ca cao với số lượng lớn và giá thành rẻ. Phát minh ra
cách ép hạt ca cao mới làm giảm giá, nhưng lại tăng chất lượng thành phẩm lên
rất nhiều, cùng lúc đó giá đường giảm mạnh và đời sống người dân trên khắp
5
Châu Âu tăng lên đáng kể, đến đầu thế kỷ 20 thức uống ca cao đã trở thành một
nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của toàn châu Âu. [14]
1.1.2 Đặc điểm thực vật học
Ca cao là loài cây thân gỗ, có thể cao đến 10 - 20 m nếu để mọc tự nhiên.
Trong sản xuất, do trồng mật độ dày và chiều cao được khống chế thông qua
việc tỉa cành nên cây thường có độ cao khoảng 4 - 8m. Ca cao sinh trưởng tốt
trong điều kiện có bóng che, chu kỳ sinh trưởng trên 40 năm và thời gian cho
hiệu quả kinh tế có thể kéo dài 20 - 25 năm. [10]
1.1.2.1 Rễ
Hạt sau khi nảy mầm, rễ trụ mọc rất nhanh và có nhiều rễ ngang mọc
thẳng góc quanh trụ. Ba tháng đầu rễ phát triển rất nhanh (có thể hơn 25cm), để
tránh rễ bị cong khi ươm cây, cần chọn túi đủ dài để rễ phát triển trong 3 - 4
tháng đầu.
Rễ trụ vẫn tiếp tục phát triển khi bị cắt ngang phần đuôi, nên khi trồng ta
cắt bỏ phần rễ cong trong bầu đất mà không ảnh hưởng đến sinh trưởng của rễ.
Màu sắc lá non thay đổi tuỳ theo giống, từ màu xanh nhạt đến vàng, từ
màu hồng đến đỏ đậm. Khi trưởng thành lá có màu xanh thẫm, cứng cáp hơn và
nằm ngang. Khí khổng chỉ có ở mặt dưới phiến lá nên khi phun phân và thuốc
phải phun từ dưới lên mới có hiệu quả cao. Lá dưới bóng che có phiến rộng và
xanh hơn ngoài nắng. Lá trên thân mọc từ hạt hoặc cành vượt có cuống dài từ 7 -
9cm và mọc theo hình xoắn ốc. Lá trên cành ngang hay trên cây ghép có cuống
ngắn từ 2 - 3cm, mọc đối cách trên cành và chịu được cường độ ánh sáng cao
hơn lá trên thân chính.
1.1.2.4 Hoa
Hoa mọc cố định trên phần sẹo lá của cành và thân, do đó cần tránh làm
tổn thương vị trí ra hoa. Cây ca cao có thể ra hoa đợt đầu tiên vào khoảng 14 -
20 tháng sau khi trồng, cây ghép hay cành giâm có thể ra hoa sớm hơn từ 9 - 18
tháng khi sau khi trồng. Hoa ra tập trung vào mùa mưa, những nơi có đủ nước
cây ra hoa quanh năm. Hoa ca cao thụ phấn chéo nhờ côn trùng, hoa ra rất nhiều
7
nhưng tỉ lệ đậu trái khoảng 3 - 5% và số trái cây giữ lại trên cây khoảng 80% số
trái đã đậu, khoảng 20% sẽ bị héo đi (héo sinh lý tự nhiên của cây).
1.1.2.5 Trái
Từ khi hoa nở đến trái chín khoảng 5 - 6 tháng, thời gian này khác nhau
tuỳ theo giống. Trái có hình dạng, kích thước và màu sắc khá đa dạng. Trái chưa
chín có màu xanh, tím hoặc xanh phơn phớt tím khi chín chuyển sang màu vàng,
vàng cam hoặc đỏ cam.
1.1.2.6 Hạt
Mỗi trái chứa từ 30 - 50 hạt. Hạt được bao chung quanh bởi lớp cơm
nhầy. Hạt là do sự khép kín của 2 lá mầm, lá mầm có màu tím hoặc trắng, trắng
ngà và chuyển sang màu nâu sau khi lên men. Kích thước hạt thay đổi tùy giống
và mùa vụ. Hạt ca cao càng để lâu càng mất sức nẩy mầm, nếu ươm cây từ hạt
cần gieo ngay khi mới tách vỏ từ trái chín.
1.1.3 Giá trị của cây ca cao
1.1.3.1 Đối với sức khoẻ con nguời
Vỏ ca cao chứa 3 - 4% Kali so với trọng lượng chất khô, là nguồn phân
bón giàu Kali. Tro đốt từ vỏ được dùng để làm xà phòng.
Vỏ quả ca cao xay nhỏ có thể trộn vào thức ăn cho bò, cừu, dê với tỷ lệ
lên tới 50%, cho heo 30%, cho gà 20%. Bò có thể ăn trực tiếp được vỏ tươi thay
thế cho khẩu phần cỏ voi (Wood và Lass, 1985) [8]. Theo D. paulin, A.B. Eskes,
1995 [6] bột vỏ ca cao có thể thay thế bắp và trộn với tỷ lệ 35% vẫn không thay
đổi mức tăng trọng của heo. Nếu dùng vỏ quả làm thức ăn gia súc thì phải phơi
khô ngay sau khi thu hoạch, sau đó xay thành bột trộn vào thức ăn hoặc vo viên.
Hạt ca cao được bao bọc bởi lớp áo dạng cơm mềm, ướt, mùi rất thơm.
Lớp cơm chứa nhiều đường (10 - 13%), pentosan (2 - 3%), acid citric (1 - 2%)
và muối (7 - 10%). Có thể dùng lớp cơm này làm nước sinh tố hoặc cô đặc làm
nước trái cây.
Trong kỹ thuật canh tác, lá ca cao thường xuyên được tỉa bỏ để tạo hình
dạng thích hợp và tăng độ thông thoáng cho cây. Lá ca cao tỉa bỏ là nguồn thức
ăn ổn định tốt cho dê, bò và thỏ.
9
Các hạt ca cao được gắn vào cơ quan thai tòa, khi tách hạt ca cao để lên
men thai tòa được loại bỏ và là nguồn thức ăn cho cá và heo.
Dịch thu từ quá trình lên men được dùng để chế biến rượu với hương vị
rất đặc trưng của ca cao. Ngoài ra, dịch cũng có thể sử dụng như nguyên liệu để
sản xuất thạch thay thế nước dừa trong kỹ thuật sản xuất thạch dừa.
1.1.3.3 Giá trị kinh tế
Ca cao là cây ưa bóng nên thường trồng xen, do đó đáp ứng được xu
hướng hiện nay là đa dạng hoá cây trồng nhằm phá vỡ thế độc canh mang nhiều
rủi ro. Quả ca cao chín sau khi hái về tách hạt đem ủ lên men, xung quanh hạt có
lớp cơm nhầy màu trắng trong khi ủ hạt lớp cơm này được lên men thành rượu.
Rượu ca cao uống rất ngon và tốt, có giá trị và là sản phẩm rất được ưa chuộng.
Bộ phận chính được sử dụng là hạt, hạt ca cao có hàm lượng chất béo 50 - 60 %
trọng lượng hạt. Bột nhão, bơ và bột ca cao là những nguyên liệu chính cho
ngành công nghiệp bánh kẹo, thực phẩm. Ngoài thị trường tiêu thụ trong nước,
Theobromine 0,20
()*+ &",-./01+&''2!
Cây ca cao có rất nhiều lá, lá ca cao có thể sử dụng làm nguồn thức ăn tốt
cho dê, bò và thỏ. Hạt ca cao được gắn vào cơ quan gọi là thai tòa. Khi tách hạt
ca cao để lên men, thai tòa được loại bỏ. Thai tòa có thể sử dụng làm thức ăn cho
cá và heo.
11
Lớp cơm nhầy chứa nhiều đường (10-13 %), pentosan (2-3 %) acid citric
(1-2 %) và muối 7-10 %) (Lopez, 1986). Có thể sử dụng lớp cơm này làm nước
sinh tố, kem hoặc cô đặc làm nước cốt trái cây. Lên men lớp cơm nhầy thu được
dịch để chế biến rượu, nguyên liệu sản xuất ra thay thế nước dừa trong sản xuất
thạch dừa. Vì vậy, để nâng cao giá trị của ca cao cần có những đầu tư và chính
sách phù hợp, tăng cường mở rộng diện tích cây ca cao với việc chọn ra những
giống tốt, tiến hành trồng xen canh hợp lý, có chế độ chăm sóc tốt. Đồng thời
chế biến các sản phẩm từ ca cao, đặc biệt là rượu ca cao, từng bước tiến tới công
nghệ chế biến bột ca cao, bơ và chocolate.
Hiện nay ca cao được chế biến rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm.
Nhiều nhất là bánh kẹo và các thức uống. Nói đến bánh kẹo có nguồn gốc từ ca
cao người ta thường nghĩ ngay đến sôcôla, nổi tiếng nhất là nhiều loại sôcôla
được sản xuất từ Thụy Sỹ, Ðức… Người châu Âu rất thích ăn sôcôla, tính bình
quân mỗi người tiêu thụ khoảng 11,9 kg/năm (trong số đó đàn bà 35 %, đàn ông
25 %, phần còn lại là trẻ em). Do nhu cầu tiêu thụ càng ngày càng cao nên ca cao
trong tương lai vẫn là mặt hàng nông sản có giá, ít bị biến động về giá cả như cà
phê hoặc tiêu.
1.2 Phân bón đối với cây ca cao
1.2.1 Nhu cầu
Cây ca cao cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa, trung và vi lượng,
thiếu hoặc thừa một trong những yếu tố này đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và
phát triển của cây. Nhu cầu phân bón của ca cao tùy theo tuổi cây và năng suất.
Ca cao giai đoạn kinh doanh cần bón nhiều phân hơn ca cao kiến thiết cơ bản.
6,0
3,0
3,1
Tổng số
35,8 5,8 72,5 7,0 6,1
#$3%&''!",-./01+&''2!
Lượng phân bón được chia ra bón nhiều lần trong mùa mưa. Tuy nhiên,
có 2 thời điểm cây cần nhiều phân là lúc vừa hình thành trái và trước khi thu
hoạch 2 tháng. Trong những năm đầu, phân bón cần bón quanh gốc, nhưng khi
cây đã giao tán chỉ cần rải phân trên mặt đất, sau đó phủ bằng lớp lá mục vốn có
sẵn trong vườn ca cao.
1.2.2 Vai trò của một số chất khoáng đối với cây ca cao
Phân bón có vai trò hết sức quan trọng giúp ổn định và tăng năng suất cho
cây. Hàng năm, các nguyên tố trong lượng phân bón luôn bị mất đi do rửa trôi và
do cây lấy đi. Chính vì vậy mà ta phải cung cấp thêm phân bón cho cây. Sau đây
là vai trò của các nguyên tố N, P, K và S đối với ca cao.
* Đạm (N): đây là thành phần quan trọng cho tất cả bộ phận của cây và
đặc biệt cần thiết cho sự sinh trưởng dinh dưỡng. Việc lá rụng rồi lại mọc lá mới
13
của cây ca cao cần sự hiện diện thường xuyên của đạm trong đất. Đối với trái
cũng vậy, đạm cần thiết cho trái phát triển và việc này xảy ra quanh năm.
Thiếu đạm lá có màu xanh vàng hay xanh nõn chuối. Thiếu nặng lá rụng
nhiều, năng suất giảm. Hiện tượng thiếu đạm thường xảy ra trên đất nghèo dinh
dưỡng và bón không đủ lượng đạm cây cần.
* Lân (P): ca cao cần lân tương đối ít. Dạng lân dễ tiêu trong đất thường
bị giới hạn bởi việc cố định do các phản ứng hóa học, đặc biệt là ở đất chua. Nên
thường xuyên bón phân lân với lượng nhỏ. Cần bón lót phân lân trong hố trước
khi trồng để giúp cây tăng trưởng trong giai đoạn đầu.
Thiếu lân lá chuyển màu xỉn, mép lá non ửng đỏ, thiếu nặng lá rụng và
cành chết.
Cây con 28 140 33 188 80 4,0
Thu bói 39 219 54 400 122 7,3
K.Doanh 50 - 87 543 114 788 221 7,0
( #+ ! [4]
Bảng 1.5: Dinh dưỡng cho ca cao trồng mới
,-./01+&''4! [3]
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao trên thế giới và Việt Nam
Tháng
sau trồng
Lượng dinh dưỡng cho mỗi cây (g)
Urê Supe lân Sulphate kali Tổng số
1 13,9 40,0 12,8 66,7
4 18,4 53,1 17,0 88,6
8 18,4 53,1 17,0 88,6
12 27,8 80,0 25,6 133,4
18 36,9 106,2 34,0 177,2
24 59,3 170,6 77,0 306,9
15
1.3.1 Trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình sản xuất
Bảng 1.6: Sản lượng của các nước sản xuất ca cao chính trên thế giới
.5'''
6
Các nước 04/05 05/06 06/07 07/08 1-3/09 3-6/09 08/09
Africa 2,414 2,647 2,378 2,602 695 194 2,372
Cameroon 190 172 170 188 64 11 195
Cote d’Ivoire 1,426 1,557 1,422 1,431 370 128 1,200
Ghana 552 660 555 730 165 36 700
Nigeria 206 214 185 200 75 12 210
Các nước khác 39 44 46 55 20 10 67
ngày càng trở nên phổ biến, với tiêu thụ tăng lên 1,3 triệu tấn (năm 2010), tức là
tăng 1,8% (so với năm 2009). Châu Phi, nơi nhu cầu của người dân tăng rất
mạnh trong thập kỷ qua, sẽ vẫn là khu vực tiêu thụ lớn nhất nhóm các quốc gia
đang phát triển, với 35%. Mỹ Latinh và Caribê trong nhóm giảm từ 32% (năm
2009) xuống 28% (năm 2010) bởi chi phí xay nghiền cao hơn so với châu Phi.
Tại Viễn Đông, mặc dù mức tiêu thụ còn rất khiêm tốn, song tốc độ tăng khá
nhanh nên thị phần cũng tăng từ 31% lên 34%. Năm 2010, thị trường ca cao thế
giới vẫn không đủ. Hạt ca cao sẽ tiếp tục chiếm phần lớn trong tổng xuất khẩu,
mặc dù một số quốc gia tăng công suất chế biến, nhất là ở châu Phi.[11]
Một cuộc xung đột 5 tháng tại Bờ biển Ngà, sau một cuộc bầu cử Tổng
thống gây tranh cãi vào tháng 11/2010, dẫn đến lệnh cấm xuất khẩu ca cao nên
đẩy giá ca cao lên mức cao nhất trong 32 năm (vào tháng 3/2011). Sản lượng ca
cao ở Bờ biển Ngà giảm còn khoảng 1,3 triệu tấn (niên vụ 2011/2012) sau khi
17
đạt mức cao kỷ lục 1,56 triệu tấn (niên vụ 2010/2011). Sản lượng ca cao ở
Ghana đạt 970.000 tấn, sản lượng ca cao ở Indonesia (nước sản xuất ca cao lớn
thứ ba thế giới) đạt 500.000 tấn. [15]
Diện tích ca cao cũng có xu hướng giảm ở một số nước như: Malaysia,
Philipin, Brazil, sản lượng ca cao khó có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thế
giới (liên tục tăng từ 90.000 đến 120.000 tấn hạt/năm). Theo Tổ chức ca cao thế
giới (ICCO) đến 2015 toàn cầu sẽ thiếu 102.000 tấn. Trong khi các nước có diện
tích ca cao lớn bị thiên tai, tình hình chính trị không ổn định, cây già cỗi, sâu
bệnh gây thiệt hại lớn.
1.3.1.2 Tình hình tiêu thụ
Sản lượng ca cao toàn cầu những năm qua tăng không đáng kể. Bờ Biển
Ngà giảm 38% sản lượng vì nội chiến, Ghana giảm 19%. Riêng Indonesia, nước
sản xuất ca cao lớn ở châu Á khoảng 20% sản lượng. Malaysia, một trong những
nước trồng ca cao hàng đầu thế giới, đang chặt bỏ khoảng 200.000 ha ca cao để
chuyển sang trồng cọ dừa. Đây là nguyên nhân góp phần đẩy giá ca cao thế giới
tăng cao.
trồng xen với một số cây (dừa, điều, cà phê và cây ăn quả). Diện tích ca cao thu
hoạch đến nay khoảng 7.300 ha, chiếm 43,6% tổng diện tích trồng.
Bảng 1.7: Chất lượng hạt ca cao (2006/2007 - 2009/2010) (%)
Năm
Độ
ẩm
Số hạt/
100gr
Mốc
Chai
xám
Nẩy mầm,
côn trùng
Tạp
chất
2006/2007 7,4 117 0,68 0,9 1,0 2,8
2007/2008 7,5 107 0,60 0,3 0,3 0,9
2008/2009 7,3 96 0,44 0,2 0,3 0,8
2009/2010 7,3 94 0,30 0,2 0,2 0,90
7(+48&''!
Bảng 1.8: Tình hình xuất khẩu hạt ca cao của Việt Nam
19
Niên vụ
Công ty
Cargill
(tấn)
Công ty
ED& Man
(tấn)
Tổng số
Từ tháng 10/1997 đến nay đã đưa những giống nhập nội từ Malaysia,
giống lai F1 và 13 dòng bố mẹ; Viện khoa học kỹ thuật NLN Tây Nguyên
nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất trên 13.000 cây giống cung cấp năm 1998. Số
cây này phân phối cho tỉnh Đắk Lắk và một số tỉnh lân cận.
Năm 2002, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có quyết định số 821/QĐ-UB, ngày
2/4/2002 phê duyệt Dự án quy hoạch vùng phát triển cây ca cao trên địa bàn tỉnh
với quy mô 6.000 ha, tập trung ở những vùng không có điều kiện sinh thái phù
hợp với cây cà phê, cao su, điều…bao gồm các huyện EaKar, MĐ’răk, Krông
Bông, Lăk và các vùng khác nếu có điều kiện phù hợp thì vẫn có thể trồng ca
cao. Ngày 06/3/2007, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 476/QĐ-UB
V/v phê duyệt Dự án viện trợ phi Chính phủ (NGO) “Phát triển sản xuất ca cao
tại các nông hộ” tỉnh Đắk Lắk và ngày 14/5/2007, Quyết định số 1019 của
UBND tỉnh về việc thành lập Ban quản lý dự án “Phát triển sản xuất ca cao bền
vững tại các nông hộ”, đơn vị trực tiếp thực hiện Dự án là Trung tâm khuyến
nông tỉnh nhận nhiệm vụ triển khai Dự án trên địa bàn 2 huyện EaKar và Lăk,
giai đoạn 2 của Dự án tiếp tục triển khai thêm địa bàn EaH’leo.
Đến 30/12/2010, toàn tỉnh đã có 1.935 ha ca cao trên địa bàn 12/15 huyện,
thị xã và thành phố Buôn Ma Thuột. Trong đó, diện tích cho thu hoạch khoảng
hơn 440 ha, năng suất hạt khô hơn 14 tạ/ha, sản lượng đạt gần 629 tấn hạt khô
lên men.
Các công ty có diện tích tương đối lớn như: công ty cà phê KrôngAna,
công ty cà phê tháng 10, công ty cà phê Buôn Hồ… Đây là những đơn vị có
diện tích ca cao trồng tập trung, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật nên vườn cây sinh
trưởng phát triển tốt và độ đồng đều cao. Diện tích ca cao được trồng bằng các
giống ghép chiếm 66,6%, chủ yếu là 5 dòng (TC5, TC7, TC11, TC12, TC13)
của Viện khoa học kỹ thuật NLN Tây Nguyên đã được Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn công nhận cây đầu dòng cho các tỉnh Tây Nguyên và 8 dòng
21
nhập nội (TD1, TD2, TD3, TD5, TD6, TD8, TD10, TD14) do trường Đại học
Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh cung cấp và đã được Bộ Nông Nghiệp và
- Đạm Urê (46% N).
- Super Lân (16 - 18% P
2
O
5
).
- Phân KCl (60% K
2
O).
- Phân hữu cơ vi sinh Nitex, bao gồm:
+ Hữu cơ: 22%.
+ Đa lượng: N: 2,5%; P
2
O
5
hh: 1%; K
2
O: 0,5%.
+ Trung và vi lượng: Ca, Mg, S, Bo, Fe, Zn, Mn, Cu, Mo,
A.Humic…
+ Vi sinh vật có ích.
+ Độ ẩm: 20%; pH: 6,5 - 7.
+ Các chất phụ gia sinh học đặc biệt khác.
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2013.
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng sử dụng phân bón cho cây ca cao tại huyện Buôn
Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
- Nghiên cứu ảnh hưởng công phân bón đến sinh trưởng, phát triển của
DẢI
BẢO
VỆ
CT3 CT1(ĐC) CT2
CT2 CT3 CT5
CT5 CT2 CT4
CT1(ĐC) CT5 CT3
CT4 CT4 CT1(ĐC)
DẢI BẢO VỆ
?@I, II, IIIABCT;/"C
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức phân bón đến vườn ca
cao kinh doanh
24
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên một
nhân tố, gồm 5 công thức và 3 lần lặp lại. Gồm có 15 ô cơ sở. Diện tích ô cơ sở
là 5 cây.
- CT1: (200g Urê + 400g Super lân + 400g KCl)/cây (Đ/C)
- CT2: (170g Urê + 340g Super lân + 340g KCl)/cây (giảm 15% Đ/C)
- CT3: (230g Urê + 460g Super lân + 460g KCl)/cây (tăng 15% Đ/C)
- CT4: (140g Urê + 280g Super lân + 280g KCl)/cây (giảm 30% Đ/C)
- CT5: (260g Urê + 520g Super lân + 520g KCl)/cây (tăng 30% Đ/C)
Nền: Phân hữu cơ vi sinh Nitex (2 kg/cây).
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2
DẢI
BẢO
VỆ
I II III
DẢI
BẢO
VỆ