A. PHẦN MỞ ĐẦU.
“Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm
tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú
và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội CNTT được
phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ tin học, vừa là công nghệ, vừa
là kỹ thuật, bao trùm cả tin học, viễn thông và tự động hóa” (Nghị quyết 49/CP của
Chính phủ về phát triển CNTT của Việt Nam năm 1996).
Theo Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 “CNTT và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu để thực
hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông là yếu
tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng
suất, hiệu suất lao động. Ứng dụng CNTT và truyền thông phải gắn với quá trình đổi
mới và bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phải được lồng ghép trong các
chương trình, hoạt động chính trị, quản lý, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học công
nghệ và an ninh quốc phòng”.
Trong những năm gần đây, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phải ứng
dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực
giáo dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, nhiều
nơi đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập. Bộ giáo dục và đào tạo đã yêu cầu “Đẩy
mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành
học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới
phương pháp dạy học ở các môn”. Chính vì thế mà từ năm học 2008-2009, Bộ
GD&ĐT đã chọn chủ đề năm học là “Năm ứng dụng CNTT”. Đây vừa là cơ hội
nhưng cũng vừa là thách thức đối với tất cả những người làm nghề giáo. Đặc biệt là
đối với các thầy cô giáo giảng dạy môn Ngữ văn. Bởi môn Văn, với đặc thù vừa mang
tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật- nghệ thuật sử dụng ngôn từ, cho nên nhiều
người quan niệm dạy - học Văn chủ yếu là dùng ngôn ngữ, nếu dạy bằng thiết bị máy
móc CNTT sẽ làm mất đi chất văn vốn là đặc trưng riêng biệt của bộ môn này. Tuy
nhiên lại cũng có nhiều quan điểm cho rằng, để cảm nhận đầy đủ và sâu sắc một tác
ngữ văn lớp 7 trong thời gian hai năm học. Bản thân tôi thấy đây là nhiệm vụ hết sức
cần thiết của việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn đồng thời ứng dụng tốt
CNTT vào giảng dạy mà ngành đề ra.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Như tôi đã trình bày ở trên, sử dụng phần mềm vào thiết kế và giảng dạy Ngữ
văn là một trong những phương pháp dạy học mới cần được ứng dụng để đem lại kết
quả tốt nhất trong việc dạy và học. Đó còn là một cách tiếp cận công nghệ thông tin
phát huy tính tích cực, chủ động, mạnh dạn tiếp thu và sử dụng tin học trong nhà
trường của cả giáo viên và học sinh.
II. THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN.
Trong thời gian qua cũng như hiện nay, dạy học Ngữ văn gặp nhiều khó khăn bởi
vì phần lớn học sinh thờ ơ với môn học này, thậm chí có không ít học sinh coi môn
2
Ngữ văn là một cực hình. Điều này có một phần nguyên nhân từ phương pháp truyền
giảng của giáo viên. Một bộ phận không nhỏ giáo viên Ngữ văn chưa có sự sáng tạo
cần thiết, ít tìm tòi về mặt phương pháp – phương tiện dạy học. Từ đó dẫn đến
phương pháp dạy học Ngữ văn hết sức khuôn sáo, nhàm chán, thủ tiêu hứng thú học
tập của học sinh.
Trong những năm trở lại đây một số giáo viên đã cố gắng ứng dụng CNTT vào dạy
học, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức, mang nặng tính
chất trình diễn với nhiều hình ảnh, hiệu ứng rối mắt. Nhiều giờ dạy giáo viên còn ôm
đồm, tham lam nhồi nhét các loại thông tin, phim, ảnh làm mất thời gian nhưng hiệu
quả giờ dạy không cao.
Nguyên nhân của việc chưa hoặc ít ứng dụng CNTT vào dạy học Ngữ văn là do
môn Ngữ văn là môn học mang tính thẩm mỹ, tính cảm xúc, tính đa nghĩa. Hình
tượng văn chương là hình tượng phi vật thể đòi hỏi người học phải liên tưởng, tưởng
tượng và huy động cảm xúc chủ quan của mình nên khó sử dụng giáo cụ trực quan.
Hơn nữa, cơ sở vật chất, kỹ thuật dạy học ở trường còn thiếu thốn. Nguyên nhân chủ
biết đánh giá và lựa chọn thông tin, hình ảnh, đoạn phim phục vụ bài dạy có tính thiết
thực, làm rõ nội dung bài dạy, tránh tham lam, nhồi nhét các loại thông tin, phim, ảnh
không phù hợp làm giảm hiệu quả bài dạy.
Một điều đáng lưu ý là cần hiểu đúng CNTT chỉ là một phương tiện hỗ trợ đắc lực
cho đổi mới phương pháp dạy học, bởi vì quá trình giáo dục con người không thể
“công nghệ hóa” hoàn toàn được, có nhiều mặt giáo dục không thể quy trình hóa
được như giáo dục nhân văn, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ Xác định điều
này, trong quá trình giảng dạy giáo viên tránh lạm dụng CNTT, xem CNTT là độc
tôn, là duy nhất.
Để ứng dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả cao, giáo
viên phải thường xuyên không ngừng tự học để nâng cao trình độ chuyên môn mà còn
phải nâng cao khả năng sử dụng CNTT.
2. Quy trình thiết kế một bài giảng điện tử .
Thiết kế một giáo án điện tử không thể tuỳ tiện, tuỳ hứng mà cần tuân theo những
quy tắc, quy trình nhất định tương tự như quá trình soạn một giáo án truyền thống.
Việc soạn giảng có thể tiến hành theo các bước sau:
- Xác định rõ mục tiêu bài dạy.
- Xác định kiến thức cơ bản, nội dung trọng tâm.
- Lựa chọn tư liệu, tranh ảnh, phim … và những thông tin cần thiết phục vụ bài
dạy.
- Lựa chọn phầm mềm soạn giảng, lựa chọn cách trình bày, các hiệu ứng phù
hợp … xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động.
- Chạy thử, sửa chữa và hoàn thiện bài giảng.
IV. KINH NGHIỆM SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT TRONG THIẾT
KẾ, GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN.
4
Từ khi làm quen với tin học và tiếp cận với phần mềm Powerpoint tôi nhận thấy
Powerpoint có giao diện được thiết kế trực quan và dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp và
phần phụ trợ đều bằng tiếng Việt, nên rất phù hợp với giáo viên không giỏi tin học và
ngoại ngữ. Powerpoint cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, các slile dữ liệu
CD để chạy trên các máy tính khác thông qua chương trình Powerpoint. Với chức
năng này ta có thể liên kết với các bài giảng được tạo bằng Powerpoint hoặc các công
5
cụ khác có hỗ trợ liên kết. Ngoài ra phần mềm còn có chức năng đóng gói bài giảng,
phần mềm sẽ chạy dưới dạng giao diện Web và có thể đưa lên Website của trường (cá
nhân) nhờ vậy giáo viên có thể truy cập sử dụng bài giảng của mình thông qua
Internet ở mọi nơi mọi lúc mà không cần mang theo đĩa mềm, USB hoặc đĩa CD.
Việc sử dụng phương tiện hiện đại một cách hợp lý, khoa học sẽ rút ngắn
khoảng cách giữa lý thuyết với thực hành và làm cho quá trình nhận thức của học sinh
được cụ thể hơn. Các em lĩnh hội tri thức một cách đầy đủ chính xác hơn đồng thời
củng cố, mở rộng, khắc sâu và nâng cao kiến thức cơ bản cho các em.
*. Các bước tiến hành: Khi thiết kế bài giảng Ngữ văn, cũng như các phần mềm
khác tôi đã tiến hành một số bước như sau:
Bước 1. Tạo trang bìa: Tạo trang bìa giới thiệu bài giảng (chứa tiêu đề bài giảng, tên
giáo viên giảng dạy ) đây là màn hình không có giao diện ngoài (nội dung phóng to
toàn màn hình). Vào đầu tiết học, phần mềm bài giảng chỉ hiện trang bìa, khi tiết dạy
bắt đầu chỉ cần click chuột, lúc đó nội dung bài giảng sẽ hiện ra.
Ví dụ:
Việc thiết kế trang bìa giáo viên có thể sử dụng các slile hình ảnh, âm thanh
(nhạc) có sẵn, sử dụng tranh vẽ, hoặc tận dụng ngay tranh vẽ có trong sách giáo khoa
(đã qua xử lý màu sắc, hình ảnh bằng photosop) làm nền cho trang bìa. Cách làm này
có thể khắc phục nhược điểm của tranh ảnh đen trắng trong sách giáo khoa.
Bước 2. Nội dung bài giảng:
6
Tuỳ theo môn dạy để xây dựng bài giảng theo các hoạt động.
+ Hoạt động 1. Kiểm tra bài cũ và giới thiệu bài mới.
+ Hoạt động 2. Tìm hiểu văn bản (hoặc hình thành kiến thức mới)
+ Hoạt động 3.Tổng kết (hoặc luyện tập).
+ Hoạt động 4. Củng cố.
+ Hoạt động 5. Hướng dẫn về nhà.
Ví dụ : Dạy văn bản : Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh.
8
♦Đọc tác phẩm giáo viên sử dụng các bài đọc diễn cảm, đọc nghệ thuật từ các
đĩa CD, VCD được cung cấp vào bài dạy.
♦Nội dung bài học:
Phần này tùy vào từng phân môn để lựa chọn những nội dung cơ bản để trình
chiếu. Trong cả ba phân môn thì phân môn Tiếng Việt có khả năng sử dụng nhiều hơn
cả. Đó là giáo viên trình chiếu các ngữ liệu để học sinh phân tích rồi rút ra kết luận.
Ví dụ:
Phần văn bản và Tập làm văn nên sử dụng hạn chế. Giáo viên chỉ nên đưa ra một số
đoạn văn, thơ để học sinh dễ theo dõi, phân tích, tìm nghệ thuật …hoặc khi chốt kiến
thức của bài học.
Hoạt động 3. Tổng kết, luyện tập.
*Tổng kết: Giáo viên có thể đưa các dạng biểu bảng sơ đồ tổng hợp lên màn hình để
học sinh tiện theo dõi từ đó rút ra nội dung ghi nhớ.
- Dạng bài tập trắc nghiệm chọn đáp án đúng sai hoặc đáp án đúng.
Ví dụ: Phần tổng kết về nghệ thuật của văn bản: Một thứ quà của lúa non: Cốm
(Thạch Lam).
9
Hay bài tập củng cố Tiết 59. Chơi chữ.
10
Hoặc giáo viên có thể thiết kế phần trò chơi ô chữ để củng cố kiến thức cho học sinh.
Bước 3: Đóng gói bài giảng:
Thiết kế bài giảng xong giáo viên thực hiện thao tác đóng gói bài giảng. Xuất
bài giảng ra thành một thư mục chứa slide - coppy vào đĩa mềm, USB, hoặc đĩa CD
để thuận lợi cho việc sử dụng trên mọi máy vi tính.
Lưu ý
Khi thiết kế bài giảng nên sử dụng kiểu chữ, fonts chữ, màu nền hoặc vẽ thêm
các hình ảnh minh hoạ cho phù hợp với bài dạy nhằm mục đích nhấn vào những nội
Giỏi % Khá % TB % Yếu %
Thực
nghiệm
38
(7B)
9 23,6 18 47,6 9 23,6 2 5,2
Đối
chứng
40
(7D)
2 5 12 30 19 47,5 7 17,5
Bảng 2: Năm học 2010 – 2011 đối chứng lớp 7A và 7B.
Lớp
Tổng
số HS
Mức độ (%)
Giỏi % Khá % TB % Yếu %
Thực
nghiệm
39
(7A)
12 30,7 21 53,8 5 13 1 2,5
Đối
chứng
39
(7B)
5 13 13 33,3 16 40,7 5 13
15
C. KẾT LUẬN .
Qua việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn theo hướng ứng dụng
của các cấp, các ngành thì việc thiết kế giáo án và giảng dạy bằng các phương tiện
hiện đại sẽ trở thành một việc làm quen thuộc trong giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói
riêng và các môn học trong nhà trường nói chung.
16
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi khi sử dụng phần mềm Powerpoint
trong thiết kế và giảng dạy môn Ngữ văn. Đề tài của tôi trong thời gian qua tuy đã để
lại được một số kết quả nhất định. Song việc UDCNTT vào dạy học mới đưa vào
trường học được hai năm nên chắc chắn vẫn còn có một số vấn đề nào đó chưa thực
sự phù hợp rất mong Hội đồng khoa học đánh giá nhận xét, góp ý để tôi có được
những bài dạy hoàn thiện hơn.
Qua đây, bản thân tôi mong muốn được Hội đồng khoa học đồng ý đưa SKKN
này áp dụng vào các trường trong huyện Tân Kỳ cho thời gian tới.
Ngày 25 tháng 3 năm 2011
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 7.
2. Tài liệu chuẩn kiến thức tập 1.
3. Chuyên đề hè 2009 – 2010.
4. Nghị quyết 49/CP của Chính phủ về phát triển CNTT của Việt Nam năm 1996.
MỤC LỤC
Nội dung Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. PHẦN NỘI DUNG 2
I. Cơ sở lý luận. 2
II. Thực trạng vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
môn Ngữ văn.
2
III. Nguyên tắc và quy trình thiết kế bài giảng điện tử. 3
1. Nguyên tắc khi ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
môn Ngữ Văn.