Mô tả thực trạng khám thai và một số yếu tố ảnh hưởng của phụ nữ đẻ tại xã Thuận, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, 12 tháng năm 2013 - Pdf 25

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình mang thai và sinh nở là một quá trình sinh lý tự nhiên của
người phụ nữ. Tuy nhiên, khi mang thai và sinh nở người phụ nữ có thể
phải đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khoẻ cho bản thân cũng như cho trẻ.
Những nguy cơ này có thể dẫn tới thương tật hoặc tử vong cho bà mẹ và
thai nhi. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới
trung bình cứ mỗi phút có một phụ nữ tử vong do các biến chứng liên quan
đến thai nghén và sinh nở, tức là có khoảng 1.600 phụ nữ tử vong mỗi ngày
và hơn nửa triệu phụ nữ chết hàng năm. 99% các trường hợp tử vong mẹ
xảy ra ở các nước đang phát triển.
Theo thông tin từ Quỹ Dân số Liên hợp quốc 2012, mỗi năm thế giới
có 358.000 phụ nữ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến thai nghén;
10-15 triệu phụ nữ phải gánh chịu các căn bệnh hoặc tàn tật nặng do biến
chứng trong quá trình thai nghén và sinh nở gây ra; 15% phụ nữ có thai trải
qua một lần biến chứng có nguy cơ gây tử vong trong khi sinh nở.
Tử vong mẹ do nhiều nguyên nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến quá trình thai nghén và sinh nở của bà mẹ. Phần lớn các nguyên nhân
này có thể được phát hiện và điều trị có hiệu quả nếu phụ nữ có thai được
chăm sóc đầy đủ trong suốt quá trình mang thai và sinh nở. Sáng kiến
"Làm mẹ an toàn" (LMAT) do WHO và UNICEF đưa ra lần đầu tiên vào
năm 1987 là một nỗ lực mang tính toàn cầu nhằm làm giảm tỉ lệ tử vong
mẹ và trẻ sơ sinh. Tại Việt Nam, chương trình LMAT bắt đầu được thực
hiện vào năm 1995. Chăm sóc trước sinh (CSTS) là một trong những nội
dung quan trọng của chương trình LMAT, trong đó hoạt động khám thai
định kỳ là một hoạt động quan trọng của công tác này. Khám thai đầy đủ
đều đặn giúp phát hiện sớm các trường hợp bệnh lý của mẹ cũng như các
bất thường của thai để có các biện pháp hỗ trợ chăm sóc y tế kịp thời nhằm
làm giảm các tai biến trong thời kỳ mang thai và sinh nở.

Chương 1
TỔNG QUAN

1.1. TÌNH HÌNH TỬ VONG MẸ VÀ CÁC TAI BIẾN LIÊN QUAN
ĐẾN QUÁ TRÌNH MANG THAI VÀ SINH NỞ
Mỗi lần mang thai và sinh nở, phụ nữ lại phải đối mặt với nhiều
nguy cơ liên quan đến các tai biến nguy hiểm và khó lường trước. Những
tai biến này có thể dẫn tới thương tật hoặc tử vong cho bà mẹ và thai nhi.
Theo ước tính của WHO, hàng năm hơn nửa triệu phụ nữ tử vong do các
biến chứng liên quan đến thai nghén và sinh nở và khoảng 10 triệu phụ nữ
phải chịu đựng các tai biến như bệnh tật, chấn thương hoặc nhiễm trùng
cũng do các nguyên nhân trên. Tai biến sản khoa đã trở thành nguyên nhân
tử vong hàng đầu đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở nhiều nước. Tỉ lệ
tử vong này khác nhau ở các khu vực và các quốc gia. 99% các trường hợp
tử vong này xảy ra ở các nước đang phát triển. Tỉ lệ này cao nhất ở vùng
Cận sa mạc Sahara Châu Phi, tiếp theo là vùng Trung và Nam Á. Nghiên
cứu gần đây do WHO, UNICEF và UNFPA tiến hành cho thấy nguy cơ tử
vong trong thời kỳ thai nghén và sinh nở ở vùng Cận sa mạc Sahara là
1/16, trong khi đó nguy cơ này ở các nước phát triển là 1/2800. Nguy cơ tử
vong do tai biến của thai nghén và sinh nở cao nhất là ở Sierra Leone và
Afghanistan với tỉ lệ tử vong là 1/6. Các biến chứng liên quan đến thai
nghén và sinh nở trực tiếp gây tử vong cho phụ nữ chiếm khoảng 70% các
trường hợp tử vong:
- Băng huyết: chiếm 25% các trường hợp, là nguyên nhân hay gặp
nhất.
- Nhiễm trùng: chiếm 15%, thường gặp ở các trường hợp vô trùng

Tử vong mẹ cao hơn ở những phụ nữ sống tại nông thôn và trong
cộng đng nghèo hơn.
Vị thành niên phải đối mặt với nguy cơ biến chứng và tử vong cao
hơn khi mang thai so với những phụ nữ lớn tuổi hơn.
Việc chăm sóc có kỹ năng lành nghề trước, trong và sau sinh có thể
cứu hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ sơ sinh.
Trong khi tiêu chuẩn chăm sóc phụ nữ có thai đang ngày càng tăng ở
nhiều nơi trên thế giới trong thập kỷ qua, thì chỉ có 46% phụ nữ ở những
nước thu nhập thấp được lợi từ viêc chăm sóc có kỹ năng lành nghề trong
khi sinh đẻ.
Tại Việt Nam theo ước tính của WHO và UNICEF tỉ suất tử vong
mẹ của Việt Nam năm 1995 là 95/100.000. Theo kết quả nghiên cứu của
Trần Thị Phương Mai (2000-2001) được thực hiện tại 7 tỉnh đại diện cho 7
vùng sinh thái cho thấy tỉ suất tử vong mẹ dao động từ 124-206/100.000 trẻ
đẻ sống, trung bình là 165/100.000 trẻ đẻ sống. Nguy cơ tử vong mẹ chung
cho toàn quốc là 248. Nguy cơ này dao động trong khoảng từ 427-175
(nghĩa là 1 bà mẹ có nguy cơ tử vong trong số 248 phụ nữ ở độ tuổi sinh
đẻ). Trong các nguyên nhân gây ra tử vong mẹ thì 76,3% là các nguyên
nhân trực tiếp và 23,7% là các nguyên nhân gián tiếp. Trong số tất cả các
nguyên nhân trực tiếp, băng huyết chiếm tỉ lệ cao nhất với 41%. Tỉ lệ này
cũng tương tự như tỉ lệ tử vong mẹ ước tính trên toàn cầu. Nghiên cứu của
Trần Thị Trung Chiến và cộng sự năm 2001 tại 7 tỉnh đại diện cho 7 vùng
sinh thái tại Việt Nam cho thấy tỉ lệ chết chu sinh trên toàn quốc là 22,2%.
Lý do chính gây tử vong chu sinh liên quan chặt chẽ đến thời kỳ mang thai
và sinh đẻ của mẹ: 21,6% do đẻ non, 17,5 do ngạt sơ sinh, 9,1% dị tật bẩm
sinh, 5,8% thai kém phát triển và 5,4% vị trí ngôi bất thường.
Một nghiên cứu do TCYTTG hỗ trợ cho thấy rằng tỷ lệ tử vong mẹ ở

giải trình đối với sức khoẻ của trẻ em và phụ nữ.
Trong khuôn khổ của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs),
sức khoẻ bà mẹ là một quan tâm quan trọng của Bộ Y tế và Chính phủ Việt
Nam
Việt Nam cũng cam kết với Chiến lược toàn cầu của Liên Hợp Quốc
về Sức khoẻ của Trẻ em và Phụ nữ nhằm cứu sống hơn 16 triệu phụ nữ và
trẻ em trong vòng 4 năm tới.
Từ 1990, tử vong mẹ đã giảm tại Việt Nam và Việt Nam đang trên
con đường thực hiện MDG5 (giảm 3/4 tử vong mẹ từ 1990 đến 2015).
Sức khoẻ bà mẹ và việc tiếp cận các dịch vụ sức khoẻ sinh sản đã cải
thiện liên tục tại Việt Nam trong 2 thập kỷ qua.
Theo Bộ Y tế (BYT), tỷ lệ tử vong mẹ (MMR) đã giảm từ
200/100.000 trẻ sinh sống năm 1990 xuống 80/100.000 trẻ sinh sống năm
2005, và hiện tại ước tính khoảng 65/100.000 trẻ sinh sống.
Cuộc đẻ có trợ giúp của nhân viên y tế được đào tạo đã tăng từ 85%
năm 2000 lên 94.7% năm 2008.
1.2. LÀM MẸ AN TOÀN
Tình trạng tử vong cao của bà mẹ đã thu hút sự quan tâm của các
quốc gia và các tổ chức trên thế giới. Sáng kiến LMAT là một nỗ lực toàn
cầu nhằm làm giảm tử vong và bệnh tật của bà mẹ. Sáng kiến toàn cầu này
được đưa ra tại hội nghị ở Nairobi, Kenya vào năm 1987 nhằm cải thiện
sức khoẻ bà mẹ và giảm số ca tử vong mẹ. Chương trình LMAT hiện nay
đã được thực hiện ở hơn 100 quốc gia. Chương trình LMAT được thực
hiện tại Việt Nam từ năm 1995 do Bộ Y tế phối hợp với tổ chức WHO và
UNICEF. Chương trình LMAT bao gm các thành tố:
- Chăm sóc trước sinh
- Chăm sóc trong sinh

2015 và 30% vào năm 2020.
- Giảm 10% số trường hợp nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình
dục vào năm 2015 và 20% vào năm 2020.
1.3. CHĂM SÓC TRƯỚC SINH (CSTS)
Chăm sóc trước sinh là một trong những thành tố quan trọng của
chương trình LMAT. Có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chứng
minh lợi ích của việc CSTS đầy đủ đối với bà mẹ và thai nhi. Các nhà
nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của thời điểm khám thai đầu tiên trong
3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén và nhấn mạnh hiệu quả của việc các bà
mẹ khám thai 3 lần trở lên đối với việc phát hiện sớm và nhờ đó làm giảm
các biến chứng đối với bà mẹ và thai nhi. Nếu bà mẹ có thai mà khám thai
lần đầu trong 3 tháng đầu và khám được từ 4 đến 8 lần trong quá trình
mang thai thì sẽ giảm được nguy cơ tử vong chu sinh xuống 9 lần. Một số
nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng nếu bà mẹ khám thai trên 3 lần sẽ giảm
nguy cơ sinh con nhẹ cân được 4,4% [14]; hoặc nếu bà mẹ không đi khám
thai hoặc khám thai không đủ (dưới 3 lần) thì nguy cơ tử vong con tăng gấp
4,4 lần so với bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên trong cả quá trình thai nghén
[11, tr.92].
Để nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKTS và hạn chế tối đa
các sai sót có thể xảy ra, việc chuẩn hoá các hoạt động chuyên môn là một
vấn đề đặc biệt quan trọng. Để đáp ứng yêu cầu quan trọng trên Bộ Y tế đã
ban hành "Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS ban hành
kèm theo Quyết định số 4620/QĐ-BYT ngày 25/11/2009".
Theo Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh
sản, bao gm 8 phần:
Phần I: Hướng dẫn chung
Phần II: Làm mẹ an toàn

mẹ không giống nhau ở các nghiên cứu. Có một số nghiên cứu chỉ ra rằng
có mối liên quan chặt chẽ giữa mức học vấn của thai phụ và việc khám
thai. Nghiên cứu của Đinh Thanh Huề và Dương Thu Hương tại xã Hương
Long, Huế năm 2002 [12] và nghiên cứu của Magadi M.A., Madise N.J.,
Roddrigues R.N tại Kenya năm 2000 [27] cho thấy mức học vấn của thai
phụ càng cao thì tỉ lệ khám thai đầy đủ càng cao. Tuy nhiên, theo nghiên
cứu của WHO tại khu vực Tây Thái Bình Dương từ 01/07/2000 -
30/06/2001 lại không thấy có những mối liên quan này [43].
Mức hiểu biết về chăm sóc thai sản: Mức hiểu biết về chăm sóc thai
sản của bà mẹ cũng là một yếu tố tác động đến việc khám thai. Thai phụ
càng hiểu rõ lợi ích do việc khám thai đầy đủ mang lại cho bản thân cũng
như thai nhi càng đi khám thai đầy đủ. Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra
rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa mức hiểu biết về chăm sóc thai sản của
bà mẹ và việc khám thai. Tỉ lệ khám thai đầy đủ cũng tăng theo sự tăng của
mức hiểu biết về chăm sóc thai sản (theo nghiên cứu của Đinh Thanh Huề
và Dương Thu Hương tại xã Hương Long, Huế năm 2002 [12] và Magadi
M.A., Madise N.J., Roddrigues R.N tại Kenya năm 2000 [27]).
1.6. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH
QUẢNG TRỊ.
- Hướng Hóa là 1 huyện miền núi, vùng cao, biên giới. Nằm về phía
Tây của tỉnh Quảng Trị, là một trong 10 đơn vị hành chính của tỉnh Quảng
Trị. phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam và Tây giáp nước CHDCND
Lào, phía Đông giáp với huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrong.
- Toàn huyện có 22 xã, thị trấn.
- Có 15 xã vùng dân Tộc thiểu số và 7 xã đường 9 (có 2 thị trấn Khe
Sanh, Lao Bảo).
- Diện tích tự nhiên toàn huyện: 1.150,86 km2,

2.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Bà mẹ sinh con trong khoảng thời gian từ 01/01/2013 đến
31/12/2013
- Cán bộ y tế xã
- Cán bộ y tế xã phụ trách BVSKBMTE/KHHGĐ
- Trưởng trạm y tế xã.
- Ông bố của các bà mẹ
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: xã Thuận, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2014 đến tháng 9/2014
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang
có phân tích, kết hợp với nghiên cứu định tính nhằm thu thập thêm những
thông tin làm rõ hơn cho nghiên cứu định lượng.
2.3.1. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu:
2.3.1.1. Nghiên cứu định lượng:
Khung mẫu: tất cả các bà mẹ sinh con từ 01/01/2013 đến 31/12/2013.
Lập danh sách tất cả các bà mẹ sinh con tại xã Thuận, huyện Hướng Hóa,
tỉnh Quảng Trị.
- Cỡ mẫu: tổng số bà mẹ sinh con trong khoảng thời gian 12 tháng
năm 2013 là 78 người.
2.3.1.2. Nghiên cứu định tính:
- Lập danh sách 5 các cán bộ y tế xã cần phỏng vấn:
+ Trưởng trạm y tế xã
+ Cán bộ y tế xã phụ trách KHHGĐ
+ Cán bộ NHS
+ Hai nhân viên TYT

dẫn để làm rõ hơn cho dữ liệu định lượng.

2.4. Đóng góp của nghiên cứu:
- Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở để xây dựng kế
hoạch và mục tiêu cho công tác chăm sóc thai sản tại xã Thuận.
- Các xã khác có cùng điều kiện kinh tế, xã hội như xã Thuận có thể
tham khảo kết quả này cho công tác lập kế hoạch CT CSSKSS của xã.
2.5. Hạn chế của nghiên cứu và các biện pháp khắc phục
2.5. 1. Sai số nhớ lại do bà mẹ không nhớ, không để ý. Để khắc phục
chúng tôi chuẩn bị bộ câu hỏi phỏng vấn rõ ràng, các câu hỏi phỏng vấn
cần dễ hiểu, không dùng các từ chuyên môn, không dùng các từ khác lạ với
ngôn ngữ tại địa phương. Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành điều
tra.
2.5. 2. Sai số do bà mẹ không muốn cung cấp thông tin do ngại, do
yếu tố văn hoá. Giải thích rõ mục tiêu của cuộc phỏng vấn là để phục vụ
cho công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân tại địa phương, tạo sự tin cậy
cho bà mẹ.
2.5. 3. Sai số do người phỏng vấn: Chúng tôi lựa chọn 04 điều tra
viên là cán bộ tại trung tâm y tế huyện và 03 nhân viên trạm y tế xã. Tập
huấn cho điều tra viên trước khi đi phỏng vấn để hạn chế sai số do phỏng
vấn.
2.6. Đạo đức trong nghiên cứu:
- Nghiên cứu tuân theo các yêu cầu của Hội đng Đạo đức của nhà
trường.
- Đây là một vấn đề sức khoẻ trong công tác BVBMTE đang được
quan tâm tại địa phương. Đề tài được sự ủng hộ của các cấp chính quyền và
y tế tại địa phương.

đương (4.800.000.đ/người/năm).
- Hộ không nghèo: thu nhập đầu người > 400.000.đ/người/tháng
Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ: Là các phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi
Tỉ suất tử vong mẹ: Tử vong mẹ là những trường hợp phụ nữ bị tử
vong trong thời gian mang thai hoặc 42 ngày sau khi chấm dứt thai nghén
vì bất kỳ lý do gì trừ nguyên nhân tử vong do tai nạn và tự tử. Tỉ suất tử
vong mẹ tính bằng tổng số ca tử vong mẹ trên 100.000 trẻ đẻ sống. Tỉ suất
này cho biết nguy cơ chết mẹ trong thời gian mang thai và sau sinh.
Tỉ lệ chết mẹ: là tổng số ca tử vong mẹ trên 100.000 phụ nữ trong độ
tuổi sinh đẻ trong năm.
Nguy cơ tử vong mẹ: là khả năng tử vong xuất phát từ các biến
chứng trong suốt thời kỳ mang thai và sau khi sinh trong độ tuổi sinh đẻ.
Số liệu này thường được dùng để diễn tả sự khác biệt về các nguy cơ người
phụ nữ gặp phải giữa các nước phát triển và nước đang phát triển.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN
CỨU
Kết quả điều tra 78 bà mẹ sinh con trong khoảng thời gian
01/01/2013 đến 31/12/2013 tại xã Thuận, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng
Trị chúng tôi thu được các thông tin như sau:
Bảng 1. Nhóm tuổi của bà mẹ
Nhóm tuổi
Tần số

Các bà mẹ trong nhóm đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người dân
Tộc Vân Kiều chiếm 88,5%, dân Tộc Kinh chiếm 11,5% Bảng 3. Trình độ học vấn của bà mẹ
Trình độ học vấn
Tần số
Tỉ lệ %
Không biết chữ
35
44,9
Tiểu học
32
41,0
Trung học cơ sở
9
11,5
Trung học phổ thông
1
1,3
Trên trung học phổ thông
1
1,3
Tổng cộng


Bảng 5: Mức kinh tế gia đình của bà mẹ
Mức kinh tế gia đình
Tần số
Tỉ lệ %
Nghèo
55
70,5
Không nghèo
23
29,5
Tổng cộng
78
100,0
Nhận xét:
Hộ nghèo chiếm 70,5% (mức thu nhập đầu người ≤
400.000đ/người/tháng); hộ không nghèo chiếm 29,5% trên tổng số bà mẹ
được hỏi.
3.2. THỰC TRẠNG VỀ THỰC HÀNH VÀ KIẾN THỨC KHÁM
THAI CỦA BÀ MẸ
Bảng 6: Số lần khám thai của bà mẹ
Số lần khám thai
Tần số
Tỉ lệ %

và đúng lịch
10
12.8
Không khám thai đủ và đúng lịch
68
87,2
Tổng cộng
78
100,0
Nhận xét:
Các bà mẹ đẻ được khám thai ≥ 3 lần trong 3 thời kỳ (đúng lịch)
chiếm 12,8% trong tổng số các bà mẹ được hỏi.
Khám thai không đủ hoặc đủ mà không đúng lịch chiếm tỷ lệ 87,2%.
Bảng 8: Phân bố bà mẹ theo tuổi thai khi khám lần đầu
Tuổi thai khi KT lần đầu
Tần số
Tỉ lệ%
3 tháng đầu
6
7,7
Trên 3 tháng
72
92,3
Tổng cộng
78
100
Nhận xét:

2(%)
KT lần
3(%)
KT lần 3
+
(%)
Trạm y tế xã
72(92,3%)
45 (57,7%)
34 (43,6%)
4 (5,1%)
Bệnh viện
huyện
1 (1,3%)
8 (10,3%)
8 (10,3%)
4 (5,1%)
Bệnh viện tỉnh
-
3 (3,8%)
3 (3,8%)
1 (1,3%)
Nơi khám thai
KT lần 1
(%)
KT lần
2(%)

Nhận xét:
87,2% các bà mẹ cho rằng việc đi khám thai là cần thiết.
Bảng 12. Sự hiểu biết về lợi ích của việc khám thai của bà mẹ
Lợi ích của việc khám thai
Tần số
Tỉ lệ%
Phát hiện sớm bệnh của mẹ
27
34,6
Phát hiện sớm bất thường của thai nhi
34
43,6
Được cán bộ y tế tư vấn
5
6,4
Được cung cấp thuốc
29
37,2
Được tiêm phòng uốn ván
23
29,5
Các lợi ích khác*
2
2,6
Không biết
10
12,8
Nhận xét:
Chỉ 6,4% bà mẹ khi đi khám thai được cán bộ y tế tư vấn
* Các lợi ích khác:

Có 15,4% các bà mẹ được hỏi trả lời đúng thời điểm cần đi khám
thai
Bảng 14: Tỉ lệ hiểu biết của bà mẹ về số lần khám thai cần thiết
Số lần khám thai cần thiết
Tần số
Tỉ lệ%
Khám thai từ 3
+
trở lên
42
53,8
Khác
26
33,4
Nhận xét:
53,8% bà mẹ biết số lần khám thai cần thiết trong quá trình mang
thai.
Bảng 15. Kiến thức vê chăm sóc thai sản của bà mẹ
Kiến thức về chăm sóc thai sản
Tần số
Tỉ lệ%
Kiến thức chăm sóc thai sản kém
51
65,4
Kiến thức chăm sóc thai sản khá
25
32,1
Kiến thức chăm sóc thai sản tốt
2
2,6

Có nhiều ngun cung cấp thông tin cho bà mẹ trong đó ngun cung
cấp thông tin chủ yếu là từ cán bộ y tế 80,8%, các bà mẹ được tiếp cận
thông tin qua ngun này, tiếp theo là qua đài báo ti vi 26,9%, qua các cộng
tác viên và y tế thôn bản 24,4%, qua trao đổi thông tin 14,1% và thấp nhất
là qua tờ rơi, áp 7,7%.
3.3. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC KHÁM THAI
CỦA BÀ MẸ
Bảng 17. Mối liên quan giữa mức kinh tế gia đình và số lần khám thai
Số lần khám
thai
Thu nhập
Từ 3 lần trở lên
Dưới 3 lần
χ
2
, p
SL
%
SL
%
Nghèo
Không nghèo
29
21
52,7
91,3
26
2
47,3
8,7

Các tuổi khác
38
12
62,3
70,6
23
5
37,7
29,4
χ
2
=0,397
p=0,371
Tổng
50
64,1
28
35,9

Nhận xét
Không có mối liên quan giữa số lần khám thai với tuổi của các bà mẹ
Bảng 19. Mối liên quan giữa kiến thức về chăm sóc thai sản của
bà mẹ và số lần khám thai
Số lần khám
thai
KTCSTS
Từ 3 lần trở lên
Dưới 3 lần
χ
2


Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. THÔNG TIN CHUNG Về CÁC BÀ Mẹ TRONG NGHIÊN
CứU
Phỏng vấn 78 bà mẹ sinh con từ 01/01/2013 đến 31/12/2013 tại xã
Thuận, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cho thấy:
Người Vân Kiều chiếm 85,5% và còn lại là người Kinh 11,5% (bảng
2). Người Vân Kiều và người Kinh tại địa phương có cùng điều kiện sinh
hoạt, các yếu tố văn hoá xã hội cũng không có nhiều sự khác biệt. Tuy
người Mường chiếm đa số nhưng qua phỏng vấn sâu các nhân viên làm
việc tại trạm y tế xã và ông chng của các bà mẹ chúng tôi chưa nhận thấy
có phong tục tập quán nào tại địa phương ảnh hưởng đến công tác chăm
sóc trước sinh tại đây. Một số phong tục tập quán của người Vân Kiều có
ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của bà mẹ sau khi sinh và của trẻ sơ sinh (sau
sinh trẻ ăn dặm sớm, bà mẹ phải đi làm vv).
Vì đây là xã miền núi, người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề làm
rẫy, trng sắn, trng chuối vv nên không có sự khác biệt nhiều về nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status