liên văn bản trong tiểu thuyết đức phật, nàng savitri và tôi - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. Liên văn bản là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi
nhất trong phê bình văn học thế giới nửa cuối thể kỉ XX và những năm đầu
thế kỉ XXI. Được khơi nguồn từ M. Bakhtin qua những công trình quan
trọng của ông và chính thức được Julia Kristeva “khai sinh”, liên văn bản
nhanh chóng được các nhà cấu trúc luận, giải cấu luận phát triển và tiến tới
hoàn thành một phương pháp phê bình văn học. Có thể nói việc phát hiện ra
liên văn bản đã tạo nên một cuộc “cách mạng” trong tư duy văn học, thay
đổi một cách mạnh mẽ các quan niệm về văn chương.
Với tầm ảnh hưởng như vậy, liên văn bản được xem là hướng tiếp
cận khả quan không chỉ trong văn học mà còn có thể vận dụng vào phê bình
các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như: điện ảnh, âm nhạc
2. Trên thực tế của phê bình văn học Việt Nam, lý thuyết về liên văn
bản vẫn chưa thực sự thể hiện được đúng tầm quan trọng của nó. Việc
nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn hẹp. Quan niệm mỗi tác phẩm văn
học là một “hòn đảo cô độc”, nhà văn là người có quyền năng vô hạn trong
vai trò “độc sáng” của mình vẫn ăn sâu vào tâm lý của độc giả. Trong phê
bình và tiếp nhận văn học vẫn chưa thật sự cởi mở với lý thuyết này. Đặc
biệt với những tác phẩm đương đại, chúng ta thật sự cần những phương tiện
mới như liên văn bản để mở “ổ khóa bí ẩn” của tổ chức tác phẩm. Đây là
một trong những đòi hỏi khá thời sự với lý luận phê bình và nghiên cứu văn
học của chúng ta hiện nay.
3. Trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại, Hồ Anh Thái nổi lên
như một hiện tượng độc đáo. Từ những tiểu thuyết và truyện ngắn đầu tay
ông đã thể hiện mình là một “cơn gió lạ” khao khát tìm cái mới. Đặc biệt
trong các tiểu thuyết gần đây, Hồ Anh Thái đã thể hiện sự đột phá vượt
bậc trong lối viết cũng như quan niệm nghệ thuật. Việc tiếp thu nhiều
1
luồng văn hóa, đặc biệt là Phật giáo và các tôn giáo khác của Ấn Độ, đã
giúp tác giả tạo được mạch nguồn riêng cho sáng tác của mình khiến cho

một đêm và Đức Phật, nàng Savitri và tôi, nhà văn dường như đã bước
sang một thế giới khác: Huyền ảo hơn, rộng lớn hơn những cũng ý vị hơn.
Và những tác phẩm đó luôn được độc giả đón nhận và các nhà nghiên cứu
quan tâm sâu sắc.
Đã có hàng loạt bài báo cũng như luận văn tìm hiểu về sáng tác của
Hồ Anh Thái. Các luận văn đã phần nào tập trung vào các cách tân nghệ
thuật, đổi mới thi pháp tiểu thuyết của nhà văn. Xin điểm qua một số nghiên
cứu tiêu biểu:
Nguyễn Hữu Tâm trong luận văn Nghệ thuật trần thuật trong tiểu
thuyết Hồ Anh Thái đã tập trung vào các phương thức trần thuật của nhà
văn ở một vài tiểu thuyết để đi đến kết luận “việc lựa chọn và thay đổi linh
hoạt các điểm nhìn (vị trí mà từ đó chủ thể sáng tạo quan sát sự vận động
của thế giới xung quanh) của tác giả Hồ Anh Thái đã giúp cho ông có thể
cảm nhận và phản ánh về hiện thực ở những tầng sâu nhất thông qua tác
phẩm của mình. Hiện thực đời sống luôn được nhìn trong một sự vận động
đa chiều do vậy tính khách quan trong phản ánh là điều tác giả đưa lại
trong người đọc”.
Cũng đi vào những vấn đề về nghệ thuật tiểu thuyết, Hoàng Thu
Thủy trong Điểm nhìn trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã khái quát những
đặc trưng về điểm nhìn và cấu trúc lời nói nghệ thuật trong các tác phẩm
của nhà văn: “Người kể chuyện hàm ẩn với điểm nhìn bên trong chiếm ưu
thế vượt trội trong các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, kéo theo kết quả là
kiểu không gian- thời gian đồng hiện, đan xen được tác giả cho ẩn vào
những dòng tâm tư, dòng hồi ức của nhân vật xuất hiện với tần số cao
trong tác phẩm” [53, 119].
3
Nguyễn Thị Ngọc Hà trong luận văn Kết cấu tiểu thuyết hiện đại qua
tiểu thuyết Hồ Anh Thái lại khảo sát các cấp độ hình tượng của kết cấu và
cấp độ văn bản của kết cấu: “Tiểu thuyết Hồ Anh Thái luôn có sự đan xen,
pha trộn giữa kết cấu được hình thành trên những tọa độ không gian - thời

Tác giả Hoàng Công Danh trong bài viết Tái hiện Phật sử, đồng
hiện nghệ thuật, tương hợp đạo và đời cũng đánh giá: “Cái mới của cuốn
sách ngoài việc dựng lại hình ảnh Đức Phật từ lúc sơ sanh đến khi xuất gia
thành đạo và nhập điệt còn là góc nhìn mới thông qua lối kể chuyện”[11].
Tác giả Lê Thị Oanh cũng theo hướng so sánh các tác phẩm về Đức
Phật để nhận định: “Đó là những tác phẩm được nhiều thế hệ độc giả ghi
nhớ, thuộc thể loại truyện dài. Vậy về mặt thể loại, nếu như độc giả Việt
Nam vẫn luôn mong có một cuốn tiểu thuyết về Phật và thời đại của Người
thì Đức Phật, nàng Savitri và tôi là cuốn tiểu thuyết được trông đợi ấy”.
[41]
Tác giả Nguyễn Danh Lam trong bài viết Vững chắc trên cây cầu
phiêu lưu cũng đã phần nào nói lên được mối liên hệ văn hóa trong tác
phẩm: “Ở nàng Savitri, một bữa tiệc hoành tráng của lịch sử văn hóa Ấn
Độ. Tác giả thỏa sức vùng vẫy với những kiến thức về Bà La Môn giáo, về
Veda, Upanishad, Ramayana, Mahabharata và cả Kamasutra”[33].
Tiếp nối những nhận định trên, với luận văn Liên văn bản trong tiểu
thuyết Hồ Anh Thái (qua Đức Phật, nàng Savitri và tôi) chúng tôi cũng
muốn đóng góp thêm một hướng tiếp cận những tác phẩm của nhà văn này.
Hy vọng rằng nó sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tính phức hợp, đặc thù
nghệ thuật tiểu thuyết của ông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
5
Thực hiện luận văn, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ các tiểu
thuyết của Hồ Anh Thái mà chủ yếu tập trung vào Đức Phật, nàng Savitri
và tôi. Thêm nữa ngay với tiểu thuyết này chúng tôi cũng chỉ tập trung
nghiên cứu phương diện liên văn bản. Tất nhiên trong những trường hợp
cần thiết chúng tôi cũng sẽ có liên hệ với các tiểu thuyết khác của nhà văn.
Nói chung, luận văn này nhằm hướng đến việc tìm hiểu mối liên hệ của tác
phẩm với các văn bản văn hóa và văn học khác trong sự đối thoại liên kết

tích thi pháp tác phẩm và các thao tác tổng hợp, so sánh…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết về liên văn bản
Chương 2: Đối thoại văn hóa trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi
Chương 3: Các kiểu văn bản trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ LIÊN VĂN BẢN
1.1. Khái niệm liên văn bản
Liên văn bản (intertextuality) là một khái niệm thường xuyên gắn bó
với chủ nghĩa hậu hiện đại. Được“khởi nguồn” từ D.Sausurre và
M.Bakhtin, khái niệm này, lần đầu tiên, chính thức được giới thiệu bởi J.
Kristeva và nó nhanh chóng trở nên hữu dụng với khả năng nêu bật những
quan niệm về tính liên hệ trong đời sống văn hóa hiện đại.
Tuy được sử dụng một cách phổ biến trong nhiều lĩnh vực triết học, nghệ
thuật và đặc biệt là phê bình văn học nhưng xem ra khái niệm liên văn bản đang
có nguy cơ trở nên vô nghĩa. Vì sự sử dụng tràn lan làm mất hết sự khu biệt nội
hàm nghĩa khoa học của khái niệm. Liên văn bản được sử dụng quá phổ biến và
hầu như ai cũng muốn gán cho nó thêm một ý nghĩa nào đó. Nhiệm vụ của luận
văn là góp phần xác định, khu biệt hóa nội dung khái niệm này.
Liên văn bản là một trong những ý tưởng trọng tâm của lí thuyết văn
học đương đại. Cái khó trong việc tiếp nhận lý thuyết này là do nội hàm của
nó quá rộng, không hề dễ hiểu rõ ràng và minh bạch. Với năng lực nghiên
cứu còn hạn chế, người viết cũng chỉ mong muốn đưa ra cách hiểu một vài
khía cạnh của khái niệm này, bởi như Graham Allen cũng từng thừa nhận
trong công trình về lý thuyết liên văn bản của mình: “Cuốn sách này không
tìm kiếm để điều chỉnh những nhầm lẫn này bằng việc đề xuất một định

bị hạn chế, có phần cứng nhắc, làm mất đi nhiều giá trị hàm ẩn của nó.
9
Với sự xuất hiện của khái niệm liên văn bản, phê bình văn học đã
được mở ra theo một hướng mới, khả quan và linh hoạt hơn. Liên văn bản
không chỉ dừng ở ảnh hưởng của người viết đối với văn bản mà nó đặt văn
bản trong tất cả những mối quan hệ nội tại và ngoại tại. Chủ nghĩa cấu trúc
đã nhìn thấy ở khái niệm này sự chống lại những gì họ đã thấy như một “hố
sâu” tồn tại trong lý thuyết và thẩm mĩ của họ. Với sự xuất hiện của liên văn
bản, tính độc trị của văn bản và tác giả đã đánh mất vị trí của mình.
Như đã nói ở trên, khái niệm liên văn bản được sử dụng rất phổ biến
trong những nửa cuối của thế kỉ XX với nhiều định nghĩa, nhiều cách ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực. Nhưng có lẽ cách hiểu về liên văn bản lần đầu
tiên khi nó xuất hiện bởi J.Kristeva là rõ ràng hơn cả: “Chiều ngang (chủ
thể - người nhận) và chiều dọc (văn bản - văn cảnh) cùng hiện diện làm
sáng tỏ một thực tế quan trọng: mỗi từ (văn bản) là một giao tuyến của từ
(các văn bản) nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản khác) có thể đọc được”
[1, 34]. Kristeva quy cho văn bản trong giới hạn của hai trục: một trục
ngang kết nối giữa tác giả và người đọc văn bản, và một trục dọc được kết
nối giữa văn bản với các văn bản khác. Ở đây người viết xin được sơ đồ hóa
quan niệm này như sau:10
Văn bản
Tác giả Văn bản Độc giả
Văn bản
Như vậy, Kristeva đã tuyên bố rằng mỗi văn bản được bắt đầu dưới
quyền lực của những cuộc đối thoại. Quan niệm về liên văn bản nhắc chúng
ta mỗi văn bản luôn tồn tại trong mối quan hệ với những văn bản khác, với
người đọc và tác giả. Liên văn bản thường được định nghĩa như nơi một văn

sẽ làm sáng tỏ thuật ngữ này hơn.
1.2. Lịch sử vấn đề liên văn bản
Thuật ngữ liên văn bản lần đầu xuất hiện ở Pháp trong công trình của
Kristeva nửa cuối những năm 1960. Và Kristeva được xem là người khai sinh ra
thuật ngữ này. Tuy nhiên vấn đề liên văn bản đã được hình thành từ trước đó.
Lý luận văn học và văn hóa luôn được xem xét là có nguồn gốc từ sự
khai sinh của ngôn ngữ học hiện đại: một hệ thống nguyên tắc mà có thể nói
đã xuất hiện trong tác phẩm của Ferdinand de Sausurre. Sausurre mất năm
1913 mà không để lại một dòng nào về lý thuyết của mình. Sau khi
Sausurre mất, những bài viết được dùng để ông dạy cho sinh viên mới được
Charles Bally và Albert Riedlinger xuất bản năm 1916. Giáo trình Ngôn
ngữ học đại cương này thực chất là những bài giảng mà Sausurre đã dạy ở
Đại học Geneva suốt giai đoạn 1906 đến 1911. Sausurre vì thế không viết
mà cũng không hề đọc cuốn sách mang tên ông. “Trong Giáo trình,
Sausurre hình dung một khoa học mới sẽ nghiên cứu “đời sống xã hội của
các kí hiệu”, cái mà ông gọi là semiology (ký hiệu học). Chủ nghĩa cấu
trúc, một phong trào phê bình, triết học và văn hóa dựa trên những quan
niệm kí hiệu học của Sausurre theo đuổi từ những năm 1950 trở về sau, đã
12
thực hiện một sự tái miêu tả mang tính cách mạng về văn hóa loài người
trong phạm vi của những hệ thống kí hiệu và cấu trúc ngôn ngữ của
Sausurre. Cuộc cách mạng này về bản chất là sự “trở về với ngôn ngữ
học” trong các khoa học nhân văn, có thể được hiểu như một nguồn gốc
của lý thuyết về liên văn bản” [1,10].
Tuy nhiên, để trích dẫn Sausurre như là nguồn gốc của những ý
tưởng liên quan đến liên văn bản không phải là không có vấn đề của nó vì
ông hầu như không đề cập trực tiếp đến vấn đề này. Chỉ với những công
trình của Bakhtin thì những quan điểm cụ thể về ngôn ngữ mới giúp cho
việc phát triển rõ ràng lý thuyết này. Xuất phát điểm cho vấn đề liên văn
bản được tìm thấy trong công trình của Bakhtin những năm 1920 trong

hướng tâm của ngôn ngữ. Chúng có thể được biểu tượng hóa bằng sự đối
lập giữa phát ngôn độc thoại và đối thoại. Chẳng hạn như công trình của
Bakhtin về Rabelais nghiên cứu phương thức, nơi mà những truyền thống
cổ xưa của hoạt động Carnaval như một lực hướng tâm thúc đẩy những
chiều kích “phi quan phương” của đời sống xã hội con người, và điều đó
xuyên suốt từ đầu đến cuối với một ngôn ngữ trần tục và kịch tính của “giai
tầng thân xác”. Những hình ảnh Carnaval như: thân xác khổng lồ, bộ phận
cơ thể được phóng đại, những kẻ say sưa, trác táng nhằm ca tụng thân xác
tập thể có tính phi quan phương của con người, đứng lên chống lại ý thức
hệ quan phương và diễn ngôn của các tôn giáo, quyền lực nhà nước. Đó
chính là truyền thống đối thoại mang tính chất Carnaval.
Trong công trình Những vấn đề về thi pháp Dostoevski (Bakhtin),
chúng ta bắt gặp sự chứng minh kiên trì nhất của ông liên quan đến đặc
trưng đối thoại của tiểu thuyết: những khái niệm khác như “đa thanh”
(poliphoni), “giọng khác” (heteroglossia), “diễn ngôn hai giọng” (Double-
14
voice discourse) và những sự biện luận của ông về tiểu thuyết có thể đưa
chúng ta đến việc hiểu biết quan niệm về ngôn ngữ và về bản chất liên văn
bản của nó.
Hạt nhân của vấn đề liên văn bản được tìm thấy trong công trình của
Bakhtin là các khía cạnh trong tính đối thoại của ngôn ngữ. Quan niệm này
về cơ bản đe dọa bất kì cái gì đơn nhất, độc đoán và những quan niệm mang
tính tôn ti thứ bậc về xã hội, nghệ thuật và đời sống. Quan niệm này đứng
đằng sau liên văn bản do Kristeva đặt ra như một phần mô tả khi bà nói về
tác phẩm của Bakhtin. Và đây là một quan niệm được kết hợp vào trong hệ
thống và phương pháp luận nghiêm ngặt của lí luận cấu trúc chủ nghĩa.
Vào nửa cuối những năm 1960, thuật ngữ liên văn bản mới chính
thức được ra đời bởi J.Kristeva. Trong tiểu luận của mình, Kristeva giới
thiệu tác phẩm của nhà lí luận người Nga Bakhtin với phần thế giới nói
tiếng Pháp. Trên cơ sở kế thừa đó, Kristeva bắt đầu xác định một mô hình

được hội tụ đồng đại và không gian đó là người đọc, không phải như lâu
nay người ta vẫn nói là tác giả. Người đọc là không gian trên đó mọi trích
dẫn được tạo ra, sự viết được ghi khắc mà không bất kì cái gì trong chúng
biến mất. Sự thống nhất của văn bản không nằm ở nguồn gốc của nó mà ở
trong đích đến của nó. Tuy nhiên đích đến này cũng không còn có được tính
cá nhân: người đọc thiếu vắng lịch sử, tiểu sử, tâm lí; anh ta đơn giản chỉ
là một ai đó nắm giữ đồng thời trong một chuyên môn đơn độc mọi vết tích
mà bởi chúng văn bản đã viết được cấu thành Sự khai sinh của người đọc
phải trả giá bằng cái chết của tác giả” [6]
Sự mô tả của R.Barthes về văn bản và liên văn bản đã làm đảo lộn
trật tự phụ quyền, mối quan hệ huyết thống giữa tác giả và người đọc trước
đây. Lý thuyết về liên văn bản không khẳng định chắc chắn về “thân phận
của tác giả”. Văn bản trở thành một không gian nhiều chiều của lối viết với
16
những pha trộn và xung đột. Nó chỉ là một “mảnh” của trích dẫn. Điều này
dẫn đến quan niệm nhà văn chỉ là người pha trộn lối viết, mô phỏng, đảo
lộn những điều đã có trước đó. Claude Levi-Strauss cũng từng tuyên bố
rằng: “Tôi không có cảm nhận rằng những cuốn sách của tôi được viết bởi
tôi ” (khi khẳng định rằng “tác giả đã chết”) theo cách nói của Barthes thì
có vẻ cực đoan nhưng thực sự người đọc trong một vài trường hợp đã tạo
nên ý nghĩa tác phẩm. Tác phẩm không còn bị lệ thuộc hoàn toàn vào tác
giả nữa hay nói cách khác, tác giả không phải “đấng tối cao” toàn quyền tạo
nên ý nghĩa cho “đứa con tinh thần” của mình nữa. Người đọc trở thành
người đồng sáng tạo, góp phần tạo ra ý nghĩa của tác phẩm. Rõ ràng, với
khái niệm về liên văn bản, những quan niệm thống trị trong văn học trước
đây bị rạn vỡ nghiêm trọng. Việc đi tìm tác giả trong những tác phẩm văn
học trở nên gần như vô nghĩa. Tuy nhiên, việc thủ tiêu hoàn toàn vai trò của
tác giả là không đúng đắn. Tác giả vẫn tồn tại nhưng không còn là “đấng
toàn tri”. Người đọc tham gia vào quá trình đồng sáng tạo với tác giả. Quá
trình tiếp nhận và sáng tạo có lẽ nên đặt ngang hàng với nhau để tránh

không thể điều chỉnh được, quan hệ có giới hạn hay vô hạn, và có chiều
kích làm chôn vùi ý nghĩa không?
Liên văn bản có cung cấp cho chúng ta một hệ hình kiến thức hay nó
phá hủy cái đã được xác nhận là tri thức trước đó không?
Trọng tâm của liên văn bản ở tác giả, người đọc, hay chính văn bản?
Liên văn bản có giúp thực hành sự diễn giải hay nó chống lại quan
niệm về diễn giải”[1,50].
Nhiệm vụ của luận văn không phải trả lời tất cả những câu hỏi đó mà
xác định một cách phân tích văn học dựa theo tư tưởng liên văn bản dù tư
tưởng này chưa chắc là đầy đủ. Cụ thể nhiệm vụ của chúng ta là vận dụng
18
nó như một khái niệm phân li, đa bội, đặt những câu hỏi và những đòi hỏi
để làm việc với nó nhiều hơn là bắt buộc phải tạo ra những câu trả lời xác
định. Không có chân lý nào là tuyệt đối. Mỗi khía cạnh của lý thuyết hay
mỗi lý thuyết cũng chỉ phù hợp trong những trường hợp nhất định. Với
quan điểm liên văn bản, ở đây chúng ta xác lập các cấp độ nghiên cứu thuật
ngữ này.
1.3. Các cấp độ nghiên cứu liên văn bản
Từ khi liên văn bản xuất hiện năm 1960 bởi J. Kristeva, nó đã tạo nên
một bước ngoặt lớn lao đối với lý thuyết văn học. Thuật ngữ này này đã làm
nảy sinh nhiều hướng nghiên cứu khác nhau đối với nghệ thuật nói chung
và văn học nói riêng.
Một đại biểu cho cách tiếp cận cấu trúc luận là Gerard Genette được
coi là “người thám hiểm phức tạp và kiên trì nhất trong thời đại của chúng
ta về mối quan hệ giữa phê bình và thi pháp”. G. Genette đã thúc đẩy sự
phát triển của thi học cấu trúc vào trong một lĩnh vực mà có thể được gọi là
liên văn bản. Ông không những tạo ra những phương pháp tiếp cận thực
tiễn thi học mà ông còn tạo ra một lý thuyết và mô hình quan trọng về cái
ông gọi là “Xuyên văn bản”; cái mà có lẽ nên gọi là “Liên văn bản từ quan
niệm của thi học cấu trúc”.

bản: nó nên/không nên được đọc như thế nào.
Kiểu thứ ba được giới thiệu ở đây là Kiến trúc văn bản
(Architexttuality). Nó là sự định rõ một văn bản như một bộ phận của một
thể loại hay nhiều thể loại hay được hiểu như mối quan hệ thể loại giữa các
văn bản
Kiểu thứ tư là Siêu văn bản (metatextuality) sự phê bình dẫn giải rõ
ràng hay ẩn tàng của một văn bản trong những văn bản khác, sự chú giải
hoặc viện dẫn văn bản trước đó một cách có phê phán.
20
Kiểu cuối cùng được G.Genette nói đến là Ngoa dụ văn bản hay cực
đại văn bản (Hypotexttuality). Ngoa dụ văn bản đánh dấu một khu vực các
tác phẩm văn học mà chất thể loại của chúng nằm trong mối quan hệ với
các tác phẩm trước đó. Nó như sự cười cợt hay giễu nhại của văn bản này
với văn bản khác. Về cơ bản, theo Genette, các văn bản có thể được biến
đổi bởi quá trình tự gạn lọc, cắt bỏ, rút gọn mở rộng
Có thể nói Xuyên văn bản theo cách hiểu của Genette chính là kiến
trúc văn bản - những khuôn hình xây dựng, nền tảng, ít biến đổi, chống đỡ
toàn bộ hệ thống văn học. Nó bắt nguồn từ khao khát xây dựng một thi học
khả thể và ổn định về chủ đề, thể loại và thể thức của G. Genette.
Nói đến vấn đề liên văn bản, chúng ta cũng không thể không nhắc
tới Harold Bloom (giáo sư, nhà phê bình văn học Hoa Kỳ. Ông giảng dạy
tại Đại học Yale và Đại học New York) với cống hiến rõ ràng cho một sự
giải thích về lí thuyết và thực tiễn liên văn bản. Với sự quan tâm đặc biệt
đến thơ ca thế kỉ XIX, mà cụ thể là thơ ca lãng mạn, Bloom đi tìm nguyên
nhân các nhà thơ lãng mạn không thể giải thoát dứt khoát thơ ca của họ
khỏi thơ ca của tiền nhân: “Một nhà thơ không dám đương đầu với bản
thân mình vì là người đến sau”[1,112]. Bloom đã dùng phân tâm học của
Freud mà cụ thể là mặc cảm Oedipuf để nói về “ người cha thơ ca”. Với
thuật ngữ “những xung động tình dục” của Freud, Bloom đã quy cho thơ
ca có nguồn gốc từ hai động cơ: động cơ đầu liên quan đến khao khát mô

giữa các nhà văn nữ và giữa nhà văn nữ với nhà văn nam. Có thể thấy trong
phương pháp phê bình nữ quyền một hình dung về truyền thống văn học nữ
giới, mối quan hệ giữa các nhà văn nữ và liên văn bản. Quan niệm của
Elaine Showater, một nhà phê bình nữ quyền rằng một tập hợp của những
“hình ảnh, hình tượng, những ẩn dụ, những chủ đề và những cốt truyện” kết
nối lối viết của phụ nữ qua các thời đại và những ranh giới quốc gia - dân
22
tộc và xây dựng thành thứ gì đó như sự liên kết và như sự phong phú của
tính liên văn bản.
Các nhà phê bình nữ quyền cũng đã chỉ ra rằng những nhà văn nữ
chịu ảnh hưởng của văn hóa phụ quyền: lấy bút danh nam giới. Đây là một
sự sợ hãi khác với các nhà văn nam. Theo Bloom thì các nhà văn nam viết
trong sự sợ hãi những ảnh hưởng của nhà văn tiền bối. Thế nhưng với các
nhà văn nữ thì họ thiếu ý thức về một truyền thống có được, kinh nghiệm
của nhà văn nữ về bản chất là cô độc. Tuy nhiên, các nhà phê bình nữ quyền
quan tâm nhiều đến việc lần theo những mối liên hệ ẩn nấp trong sáng tác
của các nhà văn nữ hơn là đang phát triển một lý thuyết về một phương
pháp nữ giới hoặc nữ quyền đối với việc đọc.
Liên văn bản là một thuật ngữ không chỉ được vận dụng trong văn
học mà nó có khả năng chiếm lĩnh cả hội họa, điện ảnh, âm nhạc, kiến trúc,
nhiếp ảnh và hầu như mọi lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật. Với tính chất đối
thoại, liên văn bản dường như tạo ra cái nhìn đa chiều về các lĩnh vực nghệ
thuật hơn. Nó tìm thấy ở những hình thức nghệ thuật phi văn học sự liên hệ
với văn bản ngôn từ.
Có thể nói, một bức tranh hay một công trình xây dựng luôn có mối
quan hệ với ngôn ngữ, hay nói cách khác giữa các lĩnh vực nghệ thuật luôn
có mối liên hệ với văn bản văn học. Chúng đối thoại với nhau, tan loãng
vào nhau, ranh giới giữa các văn bản là “xuyên thấm nhau”. Mỗi văn bản
tồn tại bên trong một tập hợp những văn bản rộng lớn, trong những loại và
phương tiện khác nhau. không văn bản nào là một “hòn đảo” hoàn toàn cô

đã đặt ra vấn đề “Có thể nào siêu văn bản thay thế sách để đọc” [17,212] và
ông đã khẳng định luôn là: “Sách sẽ luôn thiết yếu không chỉ trong văn học,
mà cho cả bất cứ trường hợp nào một người đọc cẩn trọng, không chỉ để
24
nhận thông tin mà để phán đoán và suy nghĩ về nó” [17, 212] Ông còn đánh
giá thấp việc đọc sách qua các siêu văn bản ấy vì cho rằng ở thời điểm hiện
tại “rõ ràng là được viết bởi những tay ngốc nghếch vô trách nhiệm và yêu
sự thừa thãi”[17, 212]. Có lẽ không phải là tất cả nhưng trên một siêu văn
bản với tính chất mà ai cũng có thể đưa thông tin lên đó như internet thì tình
trạng “vàng thau lẫn lộn” là rất dễ xảy ra. Một lý do nữa mà U. Eco khẳng
định là các phương tiện truyền thông không thể thay thế hoàn toàn sách là
“Sau khi ngồi sử dụng không quá 12 giờ trước một trạm máy điện toán, đôi
mắt của tôi như hai quả banh tennis”[17, 212]. Đó chính là lý do sức khỏe.
Như vậy, giải pháp cho sự lựa chọn sách để đọc và các siêu văn bản là gì?
Đó là sử dụng linh hoạt cả hai tùy theo mục đích của người đọc. Thiên lệch
về bên nào cũng là bất hợp lý vì cái gì được tạo ra cũng có lý do của nó.
Chủ nghĩa hậu hiện đại giờ đây là một thuật ngữ quan trọng trong
nghiên cứu văn học, cả trong đời sống văn học nói chung. Ở thời điểm hiện
tại, bất kỳ thảo luận nào về địa vị của liên văn bản trong nghệ thuật cũng
dẫn chúng ta đến các vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Trong văn hóa của chủ nghĩa tư bản đương đại, những quan niệm
truyền thống về bản sắc dân tộc và văn hóa được thay thế bằng những hình
thức toàn cầu xuất phát từ hợp tác xuyên quốc gia trong sự điều khiển của
phương tiện truyền thông đại chúng.
Các nhà lí luận hậu hiện đại cho rằng: hậu hiện đại là nơi dường như
không tồn tại một nguyên tắc văn hóa để chống lại, giễu nhại các quy tắc
thống trị nữa. Đặc biệt trong kiến trúc, các nhà hậu hiện đại khẳng định thay
vì kêu gọi “tạo ra cái mới của kiến trúc hiện đại, các kiến trúc sư hậu hiện
đại thực hiện cái mà chúng ta gọi là một kiến trúc liên văn bản. Kiến trúc
này chiếm hữu các phong cách thuộc những kỉ nguyên khác nhau. Trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status