MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
Hiện nay, nhu cầu sử dụng đất để xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế đất nước là rất
lớn, đòi hỏi cần có một hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng. Thu hồi đất là vấn đề
nhạy cảm và mang tính thời sự, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người sử dụng
đất, của Nhà nước và các chủ thể khác có liên quan.
Thực tiễn thực hiện quá trình này còn gặp phải rất nhiều khó khăn. Ở hầu hết các địa
phương, hàng loạt các đơn thư khiếu nại của người dân liên quan đến bồi thường giải
phóng mặt bằng, tái định cư, ổn định đời sống, giải quyết việc làm khi thu hồi đất diễn ra
rất căng thẳng. Nhiều dự án treo, nhiều công trình xây dựng dang dở, ngổn ngang vẫn còn
đang tiếp tục chờ đợi được tháo gỡ. Trong khi đó nhiều doanh nghiệp đang mỏi mòn
mong đợi có một cơ chế đầu tư thông thoáng, một hành lang pháp lý an toàn dễ chịu để
nhanh chóng có “đất sạch” đầu tư.
Để quá trình thu hồi đất diễn ra trong một trật tự ổn định, vừa đảm bảo lợi ích và an toàn
cho người sử dụng đất, vừa đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội, vừa đảm bảo tốt cho công tác
quản lý Nhà nước về đất đai thì cần phải có quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong
lĩnh vực này.
Vì những lý do trên đề tài “nghiên cứu về trình tự, thủ tục trong thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư” được thực hiện v ới mục tiêu:
- Tìm hiểu trình tự thủ tục trong thu hồi đất, bồi thường và tái định cư;
- Làm rõ tính công khai minh bạch, dân chủ và công bằng trình tự thủ tục trong thu
hồi đất, bồi thường và tái định cư.
I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THU HỒI ĐẤT
1.1 Cơ sở lý luận về trình tự, thủ tục thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm “thu hồi đất”
Theo khoản 5 Điều 4 Luật đất đai năm 2003 thì thu hồi đất được hiểu: “là việc Nhà nước
ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ
chức, Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của luật này”.
Thu hồi đất không chỉ hiểu một cách thuần tuý là Nhà nước sẽ tước đi quyền sử dụng của
các chủ sử dụng đất mà qua đó để thiết lập một quan hệ sử dụng đất mới phù hợp với lợi
lý do đương nhiên và thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai . Do vậy trình tự, thủ tục giải
quyết tương ứng cho mỗi loại tương ứng là không giống nhau. Ví dụ: Quy trình thực hiện
thu hồi đất vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát
triển kinh tế khác với thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai ở một số thủ tục như bồi
thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi.
Thứ hai, Có thể nhận thấy rằng trước thời điểm Luật đất đai năm 2003 ra đời, các văn
bản pháp luật quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất chưa đồng bộ, nhiều quy định
không phù hợp với thực tế, thủ tục còn rườm rà, rắc rối làm tốn nhiều thời gian công sức,
làm nản lòng không ít các nhà đầu tư, nhiều dự án công trình đã phải “bỏ lửng” hoặc
không thực hiện được. Từ thực tế đó, nhiều sai phạm đã nảy sinh ở khắp các địa phương
3
trong cả nước, một bộ phận không nhỏ cán bộ có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đã lợi
dụng sơ hở của pháp luật để gây khó khăn cho người dân.
Thứ ba, trình tự, thủ tục hành chính thực hiện thu hồi đất đã và đang góp phần là bước
tiếp theo của chủ trương cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, rút ngắn thời
gian thực hiện các thủ tục. Tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể đầu tư thuận lợi dễ
dàng trong việc tìm kiếm địa điểm đầu tư và nhanh chóng có “đất sạch” thực hiện đầu tư,
không phải tốn thời gian, công sức một cách khó khăn và không có hướng đúng đắn.
1.2 Ý nghĩa của việc thiết lập trình tự thủ tục, thủ tục thu hồi đất
Trình tự thủ tục thu hồi đất không chỉ là các bước thực hiện nhằm tạo điều kiện cho việc
thu hồi đất được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, mà còn có nhiều mục đích ý nghĩa lớn
về phương diện pháp lý
Thứ nhất, trong quá trình chuyển quyền sử dụng đất không mong muốn từ phía người sử
dụng đất hợp pháp sang nhà nước, thông qua các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm
quyền, trình tự thủ tục là ranh giới, phạm vi để thực hiện quy trình này một cách công
bằng, bình đẳng giữa các chủ thể trong một xã hội dân sự.
Thứ hai, trình tự, thủ tục là điều kiện chuẩn, là căn cứ để các chủ thể có thẩm quyền giám
sát, kiểm tra việc thực thi pháp luật trong suốt quá trình thu hồi đất và giải quyết các hệ
quả sau này.
Thứ ba, trình tự, thủ tục góp phần bảo đảm cho việc bồi thường được công bằng, tương
mục đích phát triển
kinh tế, xã hội của Nhà nước, chỉ quy định chung chung là thu hồi
vì
nhu cầu của Nhà
nước và nhu cầu của xã
hội.
Như vậy, bắt đầu từ Luật Đất đai 1987 Nhà nước đã có các quy định cụ thể về
việc
thu
hồi đất và đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất mặc dù những quy định này
chưa
được chi tiết. Tuy nhiên, nó có thể đáp ứng được trong việc điều chỉnh mối quan hệ
pháp
luật về đất đai lúc bây
giờ.
2.3 Giai đoạn 1993 –
2003
Luật Đất đai 1993 ra đời trên cơ sở Hiến pháp sửa đổi 1992 và chủ trương
xây
dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của
Nhà
nước.
Đến năm 1994, Nghị định 90/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ ban hành
quy định về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công. Một trong những
quy
định mới của Nghị
định là người bị thu hồi đất có thể được lựa chọn hình thức đền
bù
giá
đất để áp dụng tính tiền đền bù thiệt
hại về đất linh động hơn, giá đất để tính đền bù
thiệt
hại được xác định trên cơ sở giá
đất của địa phương ban hành theo quy định của
Chính
phủ nhân với hệ số K để đảm
bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi
và
giá chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ở địa phương.
5
Nhìn chung, Luật Đất đai 1993 cụ thể Nghị định 90/NĐ - CP và Nghị định 22/NĐ -
CP quy định
nhiệm
vụ thẩm quyền thu hồi đất thuộc về cơ quan có thẩm quyền giao đất
là UBND cấp tỉnh
và
UBND cấp huyện. Các văn bản luật thời kỳ này đã giúp giải quyết
được các vấn đề
trong
giải phóng mặt bằng, thu hồi đất lúc bấy
giờ.
2.4 Giai đoạn 2003 đến nay
Luật Đất đai 2003 ra đời và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004
của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
Nghị đ
ịnh này tạo các cơ sở pháp lý chi tiết về
các mục đích thu hồi đất, hướng dẫn các thức
thường
bằng tiền để tự lo chỗ ở
mới.
Năm 2007, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ
Quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và giải quyết các khiếu nại về đất. Quy định việc thu hồi đ
ất
tại khu
vực giáp ranh giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh. Nghị định có nhiều quy
phạm
quy
định cụ thể từng mục đích thu hồi đất và bồi thường cho từng trường hợp thu hồi đấ
t.
Tiếp theo là Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy
định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư. Nghị định ra quy định các
nguyên
tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Quy định
nhiệm vụ của UBND các cấp và các
cơ
quan nhà nước trong việc lập phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư và phương
án
chuyển đổi, đào tạo nghề nghiệp.
III – CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG TRÌNH
TỰ, THỦ TỤC HỒI ĐẤT
3.1 Cơ sở pháp lý về trình tự, thủ tục thu hồi đất
- Luật đất đai 2003;
6
- Đối với hộ gia đình, cá nhân thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin giao
đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất;
7
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư
thì phải có văn bản của Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định về nhu cầu sử dụng
đất.
- Đối với cộng đồng dân cư thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin giao đất
và phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất;
- Đối với cơ sở tôn giáo thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong báo cáo kinh tế kỹ
thuật xây dựng công trình tôn giáo.
3.2.2 Áp dụng thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với dự án đầu tư
a. Trình tự, thủ tục thực hiện đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế:
- Trường hợp không thực hiện theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu
dự án có sử dụng đất thì trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại các Điều 29, 30 và 31
Nghị định này;
- Trường hợp theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng
đất thì thực hiện thu hồi đất giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện giải phóng mặt
bằng và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
Căn cứ vào văn bản công nhận kết quả đấu giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và giấy xác nhận đã nộp đủ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất của người trúng đấu giá, cơ
quan tài nguyên và môi trường làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
không phải ra quyết định giao đất, cho thuê đất.
b. Đối với dự án đầu tư sử dụng đất không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất
thì không phải làm thủ tục thu hồi đất; sau khi được giới thiệu địa điểm, chủ đầu tư và
người sử dụng đất thỏa thuận theo hình thức chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất và làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp thay
phát triển quỹ đất thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có thể giao nhiệm vụ lập phương
án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; phương án đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp cho Tổ
chức phát triển quỹ đất;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư phổ
biến kế hoạch khảo sát, đo đạc cho người sử dụng đất trong khu vực dự án và yêu cầu
người sử dụng đất tạo điều kiện để chủ đầu tư thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác
định diện tích đất để lập dự án đầu tư.
d. Đối với dự án quan trọng quốc gia sau khi được Quốc hội quyết định chủ trương đầu
tư; dự án nhóm A, dự án xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, đê điều phù hợp với quy
hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì không phải thực hiện các công việc quy định
tại khoản 1 Điều này.
e. Thời hạn ra văn bản giới thiệu địa điểm đầu tư; thông báo thu hồi đất; thành lập Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này không quá ba mươi (30)
ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ về đầu tư hợp lệ.
9
f. Sau khi đã được giới thiệu địa điểm, chủ đầu tư lập dự án đầu tư theo quy định của pháp
luật về đầu tư và xây dựng; lập hồ sơ xin giao đất, thuê đất theo quy định của pháp luật về
đất đai. Nội dung dự án đầu tư phải thể hiện phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư.
3.2.4 Lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập và trình phương án về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số
17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số
điều Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về
việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (sau đây gọi là Nghị định số
17/2006/NĐ-CP) và theo quy định sau đây:
a. Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gồm:
- Tên, địa chỉ của người bị thu hồi đất;
- Diện tích, loại đất, vị trí, nguồn gốc của đất bị thu hồi; số lượng, khối lượng, tỷ lệ
xem xét, điều chỉnh trước khi chuyển cơ quan tài nguyên và môi trường thẩm định.
d. Cơ quan tài nguyên và môi trường chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan
thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và chuẩn bị hồ sơ thu hồi đất theo
quy định sau:
- Sở Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị hồ sơ thu hồi đất trình Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh ra quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài;
- Phòng Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị hồ sơ thu hồi đất trình Ủy ban nhân dân
cấp huyện ra quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.
3.2.5 Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư, giao đất, cho thuê đất
a. Thẩm quyền quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất thực hiện theo quy định
tại Điều 37 và Điều 44 của Luật Đất đai.
Trường hợp thu hồi đất và giao đất hoặc cho thuê đất thuộc thẩm quyền của một cấp
thì việc thu hồi đất và giao đất hoặc cho thuê đất được thực hiện trong cùng một quyết
định.
Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thì Ủy ban
nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư; trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp
huyện quyết định thu hồi đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với tổ
chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài và giao đất, cho
thuê đất theo dự án cho chủ đầu tư trong cùng một quyết định.
B. Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu
11
hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất, cơ quan tài nguyên và môi trường trình Ủy ban nhân
dân cùng cấp phê duyệt và công bố công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
theo quy định sau:
- Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương
án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất liên quan từ hai quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên;
đất.
3.3. Các trường hợp cưỡng chế
Theo điều 32 của nghị định 69 thì cưỡng chế thu hồi đất ở các trường hợp sau:
A. Việc cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Đất đai chỉ
được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Thực hiện đúng trình tự, thủ tục về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy
định tại các Điều 29, 30 và 31 Nghị định này;
- Quá ba mươi (30) ngày, kể từ thời điểm phải bàn giao đất quy định tại khoản 4
Điều 31 Nghị định này mà người có đất bị thu hồi không bàn giao đất cho Tổ chức làm
nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;
- Sau khi đại diện của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, Ủy
ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có đất thu hồi đã vận động thuyết
phục nhưng người có đất bị thu hồi không chấp hành việc bàn giao đất đã bị thu hồi cho
Nhà nước;
- Có quyết định cưỡng chế của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật đã có hiệu lực thi hành;
- Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế. Trường hợp người bị
cưỡng chế từ chối nhận quyết định cưỡng chế thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải
phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết công khai quyết định
cưỡng chế tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi.
B. Sau mười lăm (15) ngày, kể từ ngày giao trực tiếp quyết định cưỡng chế hoặc ngày
niêm yết công khai quyết định cưỡng chế quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này mà người
bị cưỡng chế không bàn giao đất thì Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo, tổ chức lực
lượng cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật.
IV. MỘT VÀI VỤ VIỆC THU HỒI ĐẤT
Dự án đường Nguyễn Văn Cừ (đoạn từ đường CMT8 đến đường Mậu Thân) thuộc
phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
ỦY BAN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
Số: /QĐ-UBND
299/TTg;
14
Căn cứ Quyết định số 3780/QĐ-CT.UB ngày 15 tháng 12 năm 2004 của UBND
Thành phố Cần Thơ về việc phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi đường Nguyễn Văn Cừ
(đoạn từ đường CMT8 đến đường Mậu Thân), quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Quyết định số 1394/QĐ-UBND ngày 26 tháng 5 năm 2010 của UBND
Thành phố Cần Thơ về việc phê duyệt điều chỉnh khoản 4, 5, 7 và 9 Điều 1 Quyết định
3780/QĐ-CT.UB ngày 15 tháng 12 năm 2004 của Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ về
việc phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi (dự án đầu tư): đường Nguyễn Văn Cừ (đoạn
từ đường CMT8 đến đường Mậu Thân), quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Thông báo số 299/TB-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2010 của UBND quận
Ninh kiều về việc thu hồi đất thực hiện dự án đường Nguyễn Văn Cừ (đoạn từ đường
CMT8 đến đường Mậu Thân), thuộc phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần
Thơ;
Xét đề nghị của Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường quận Ninh Kiều tại Tờ
trình số 793/TTr-PTNMT ngày 06 tháng 9 năm 2012,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Thu hồi phần đất mương lộ đường Nguyễn Văn Cừ (đoạn từ đường CMT8
đến đường Mậu Thân), do ông (bà) đang sử dụng diện tích đo đạc thực tế là 54,60m
2
loại đất mương lộ (DTL), thuộc tờ bản đồ 03, thửa số 52, theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất do
Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thực hiện, tọa lạc tại phường An Hòa,
quận Ninh Kiều.
(Đính kèm hồ sơ kỹ thuật thửa đất)
Điều 2.
1/- Giao Chủ tịch UBND phường An Hòa chủ trì và phối hợp với Trưởng phòng Tài
nguyên và Môi trường quận Ninh Kiều và Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất quận
Ninh Kiều có trách nhiệm tổ chức triển khai, giám sát và thực hiện Quyết định này đối
với Ông (bà) Trần Thị Trường trong thời gian 15 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định.
2/- Giao Phòng Tài Nguyên và Môi trường quận Ninh Kiều chủ trì và phối hợp với
thu hồi đất trên địa bàn thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 06 tháng 05 năm 2011 của UBND
thành phố Cần Thơ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 12/2010/QĐ-UBND ngày 04
tháng 02 năm 2010 của UBND thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Quyết định số 3780/QĐ-CT.UB ngày 15 tháng 12 năm 2004 của Chủ tịch
UBND thành phố Cần Thơ, về việc phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi: đường Nguyễn
Văn Cừ (đoạn từ CMT8 đến đường Mậu Thân) tại Phường An Hòa, quận Ninh Kiều,
thành phố Cần Thơ.
Căn cứ Quyết định số 1394/QĐ-UBND ngày 26 tháng 5 năm 2010 của UBND
Thành phố Cần Thơ về việc phê duyệt điều chỉnh khoản 4, 5, 7 và 9 Điều 1 Quyết định
3780/QĐ-CT.UB ngày 15 tháng 12 năm 2004 của Chủ tịch UBND Thành phố Cần Thơ
16
về việc phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi (dự án đầu tư): đường Nguyễn Văn Cừ
(đoạn từ đường CMT8 đến đường Mậu Thân), quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Quyết định số 4631/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Chủ tịch
UBND quận Ninh Kiều về việc phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường hỗ trợ và tái
định cư dự án đường Nguyễn Văn Cừ (đoạn từ CMT8- Mậu Thân) tại Phường An Hòa,
quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ;
Căn cứ quyết định số 1633/QĐ-UBND ngày 08 tháng 3 năm 2011 của Chủ tịch
UBND quận Ninh Kiều về việc thành lập Hội đồng, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự
án: mở rộng đường Nguyễn Văn Cừ (đoạn từ CMT8 đến đường Mậu Thân) tại Phường
An Hòa, quận Ninh Kiều;
Căn cứ Công văn số 5139/UBND-QH ngày 29 tháng 10 năm 2007 của UBND TPCT
về việc bồi thường , hỗ trợ và tái định cư dự án đường nguyễn Văn Cừ ( đoạn từ đường
Cách mạng tháng 8 đến đường Mậu Thân).
Căn cứ Công văn số 3897/UBND-KT ngày 23 tháng 8 năm 2010 của UBND thành
phố Cần Thơ về việc bồi thường giải phóng mặt bằng trên phần mương lộ công trình mở
rộng đường Nguyễn Văn Cừ (kèm công văn số 903/HĐTĐ ngày 13 tháng 8 năm 2010 của
Hội đồng thẩm định thành phố);
Căn cứ Công văn số 347/UBND-KT ngày 25 tháng 01 năm 2011 của UBND thành
- Về hoa màu : 0 đ
- Chi phí hỗ trợ : 38.320.000 đ
- Chi phí khen thưởng : 11.671.740 đ
6/ Chi phí khác : 27.324.750 đ (b)
+ Chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường: 2% : 26.023.571 đ
+ Chi phí thẩm định và phê duyệt PA BT,HT&TĐC: 5%: 1.301.179 đ
7/ Dự phòng phí 10%: 130.117.855 đ (c)
Tổng kinh phí đợt 10: (a)+ (b)+ (c)= 1.458.621.155 đ
(Một tỷ bốn trăm năm mươi tám triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn một trăm năm
mươi lăm đồng).
Kính trình UBND quận Ninh Kiều xem xét, quyết định./.
Nơi nhận :
- UBND quận Ninh Kiều;
- TT Phát triển qũy đất;
- Lưu ./.
Đính kèm :
- Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư
- Bảng tổng hợp kinh phí chi tiết.
- Quyết định số 3780/QĐ-CT.UB;
- Quyết định số 1394/QĐ-UBND;
HỘI ĐỒNG BỒI THƯỜNG
PHÓ CHỦ TỊCH
18
- Quyết định số 4631/QĐ-UBND;
- Quyết định số 1633/QĐ-UBND;
- Công văn số 5139/UBND-QH;
- Công văn số 3897/UBND-KT
- Công văn số 347/UBND-KT
- Biên bản niêm yết phương án
Nguyễn Văn Cừ.
- Thông báo số 299/TB-
UBND .
- Khoản 1, 2,
Điều 29
2
Lập dự án đầu tư:
- Khảo sát lập bản đồ
- Lập phương án tổng thể
- Đo đạc lập bản đồ hiện trạng. - Khoản 3, Điều
29
3
- Thành lập Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư
(BT, HT & TĐC)
- Thành lập Hội đồng BT, HT
& TĐC.
- Lập phương án tổng thể.
- Khoản 5, Điều
29
4
- Lập phương án BT, HT &
TĐC
- Niêm yết lấy ý kiến
- Hoàn chỉnh phương án
- Cơ quan TNMT trình phê
duyệt THĐ
- Lập phương án BT, HT &
TĐC.
- Niêm yết lấy ý kiến.
+ Lập kế hoạch và tiến hành
- Cưỡng chế THĐ:
+ Kiểm tra bàn giao mặt bằng;
+ Vận động bàn giao mặt bằng;
+ Quyết định cưỡng chế;
+ Lập kế hoạch và tiến hành
cưỡng chế.
- Điều 32
20
V. TÍNH CÔNG KHAI, MINH BẠCH, CÔNG BẰNG VÀ DÂN CHỦ TRONG TRÌNH
TỰ, THỦ TỤC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG VÀ TÁI ĐỊNH CƯ.
5.1 Nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng và dân chủ
Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm công khai,
minh bạch, công bằng và dân chủ, đúng quy định của pháp luật. Người sử dụng đất được
bồi thường theo mục đích đất đang sử dụng hợp pháp. Tổ chức thực hiện có hiệu quả
phương án đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức lại sản xuất và bảo đảm đời sống của nhân
dân ở khu vực có đất bị thu hồi. Nghiên cứu phương thức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ
để bảo đảm ổn định đời sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi.
- Tính công khai, minh bạch: Nhằm tạo sự đồng thuận của người dân trong quá triển khai
dự án, hạn chế phát sinh khiếu nại. Các văn bản pháp luật liên quan đến việc thu hồi đất
đều ghi rõ thời gian và địa điểm công bố quy hoạch ra dân, niêm yết tại nơi dự án thực
hiện, tổng hợp ý kiến đóng góp của người dân đối với phương án bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư, sự tham gia của người dân trong suốt quá trình triển khai dự án(thông qua người
đại diện).
+ Người dân có thể chọn lựa người đại diện cho mình tham gia vào Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư để đảm quyền lợi của mình (Khoản 2, Điều 25, Nghị định
69/2009/NĐ-CP).
+ Đối với những dự án thuộc diện thu hồi đất, sau khi chủ đầu tư được chấp thuận chủ
trương đầu tư thì UBND cấp tỉnh hoặc uỷ quyền cho UBND cấp huyện thông báo thu hồi
đất; Nội dung của thông báo thu hồi đất phải ghi rõ: Lý do thu hồi đất, diện tích và vị trí
+ Hỗ trợ khác: tuỳ theo tình hình thực tế của địa phương mà chính quyền có mức hỗ trợ
phù hợp.
- Tính dân chủ: quyền dân chủ của người dân trong trình tự, thủ tục thu hồi đất được thể
hiện ở những điều sau:
+ Có sự tham gia và giám sát của nguời dân trong quá trình hoạt của hội đồng bồi thường
bồi thuờng, hỗ trợ và tái định cư (điểm e, Khoản 2, Điều 25, Nghị định 69)
+ Sau khi nguời dân đóng góp ý kiến đối với phương án bồi thuờng, hỗ trợ và tái định cư
tổ chức thực hiện công tác giải phóng mặt bằng phải tổng hợp ý kiến đóng góp lập thành
văn bản trong đó nêu rõ có bao nhiêu ý kiến đồng ý và bao nhiêu ý kiến không đồng ý.
Sau đó hoàn chỉnh phuơng án gửi đến cơ quan Tài Nguyên và Môi Truờng để thẩm định
(Điểm a, Khoản3 Điều 30 Nghị định 69).
+ Khi nguời dân không đồng ý với quyết định thu hồi đất và quyết định chi trả bồi thuờng
thì đuợc quyền khiếu nại và đuợc giải quyết theo quy định.
5.2 Giải pháp tương thích
- Khi thu hồi đất của dân, Nhà nước nên có chính sách, tạo điều kiện làm sao để cuộc sống
người dân bị thu hồi, giải tỏa đất có cuộc sống khá hơn, chí ít là cũng phải bằng với mức
sống trước khi thu hồi như vậy mới không có tình trạng khiếu kiện, tranh chấp và người
dân có lòng tin vào các chính sách pháp luật của Nhà nước.
22
- Trước khi bố trí đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, khu tái định cư phải được xây dựng
cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở
cũ (Khoản 3 Điều 35 của Nghị định197).
- Theo điểm e Khoản 2 điều 29 của Nghị định 69: có 1 đến 2 người đại diện người có đất bị
thu hồi tham dự Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, như vậy số lượng người bị
thu đất quá ít khi tham dự trong khi đó Hội đồng làm việc theo số đông do vậy dù họ
không đồng ý nhưng số lượng quá ít không thắng được số đông. Vì vậy cần cân đối số
lượng thành phần tham gia dự đặc biệt là người bị thu hồi đất trong Hội đồng bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư và phụ thộc vào từng loại dự án lớn hay nhỏ mà số lượng người dân
tham gia ít hay nhiều.
23
thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất].
Phan Trung Hiền, (2009). Giáo trình Luật hành chính đô thị, nông thôn. Khoa Luật,
Trường Đại học Cần Thơ;
24
Tiền Phong, 2012, Thu hồi đất chưa đảm bảo công bằng, dân chủ, minh bạch, Báo Mới,
truy cập năm 2012 tại website
/>bach/144/8672427.epih.
VOV Online, 2012, Công bằng trong thu hồi và bồi thường đất, Đài Phát thanh và
Truyền hình Lạng Sơn, truy cập ngày 06/11/2012 tại website
/>VOV online, 2012, Xử lý vấn đề đất đai phải công khai, minh bạch, Đài Tiếng nói Việt
Nam, truy cập ngày 07/11/2012 tại website
bach/234178.vov.
25