Nghiên cứu thực trạng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án nạo vét, kè bờ đông sông Vân thuộc các phường Nam Bình, Ninh Phong trên địa bàn t - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ĐOÀN THU LINH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT, BỒI THƢỜNG,
HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ CỦA DỰ ÁN NẠO VÉT, KÈ BỜ
ĐÔNG SÔNG VÂN THUỘC CÁC PHƢỜNG NAM BÌNH,
NINH PHONG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ
nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để hoàn thành
bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Hà Thành đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Địa
lý - Bộ môn Địa chính, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường Ninh Bình, Ban
giải phóng mặt bằng thành phố Ninh Bình; các phòng Tài nguyên và Môi
trường, phòng Tài chính thành phố Ninh Bình; chính quyền các phường cùng
nhân dân nơi có dự án GPMB đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ

1.2.1. Trước khi có Luật Đất đai năm 1993 11
1.2.2. Thời kỳ 1993 đến 2003 14
1.2.3. Từ khi có Luật Đất đai năm 2003 19
1.2.4. Nhận xét, đánh giá 25
1.3. Tổng quan một số công trình nghiên cứu về thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và
tái định cƣ ở nƣớc ta 27
1.3.1. Về việc áp dụng, thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư 27
1.3.2. Về giá đất áp dụng trong bồi thường, giải phóng mặt bằng 29
1.3.3. Về vấn đề việc làm cho các hộ dân có đất bị thu hồi 31
1.3.4. Về tình hình đời sống của các hộ dân tại nơi tái định cư sau khi bị thu hồi
đất 32
1.4. Khái quát thực trạng thu hồi đất, bồi thƣờng GPMB ở tỉnh Ninh Bình 34
1.4.1. Các văn bản pháp lý chủ yếu của tỉnh Ninh Bình về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: 34
1.4.2. Tình hình thu hồi, GPMB của tỉnh Ninh Bình 36
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT, BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI
ĐỊNH CƢ CỦA DỰ ÁN NẠO VÉT, KÈ BỜ ĐÔNG SÔNG VÂN 40
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên thành phố Ninh Bình 40
2.1.1. Vị trí địa lý 40
2.1.2. Địa hình, địa mạo 41 2.1.3. Đặc điểm khí hậu 41
2.1.4. Thủy văn, nguồn nước 42
2.1.5. Các nguồn tài nguyên 42
2.2. Khái quát về điều kiện kinh tế-xã hội 43
2.2.1.Thực trạng phát triển ngành kinh tế 43
2.2.2. Dân số và lao động 45
2.2.3. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 45


3.3. Một số ý kiến đánh giá và nguyện vọng của ngƣời dân 106
3.4. Nhận xét chung 108
3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ
trợ và tái định cƣ 110
3.5.1. Giải pháp về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 110
3.5.2. Giải pháp về tổ chức thực hiện 111
3.5.3. Một số giải pháp khác 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 122
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG
1
Bảng 1.1. Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi năm 2012 của tỉnh
Ninh Bình
32
2
Bảng 2.1. Biến động diện tích đất theo MĐSD của thành phố
Ninh Bình
44
3
Bảng 2.2. Một số dự án lớn được triển khai ở thành phố Ninh
Bình trong những năm gần đây
48
4
Bảng 2.3. Cơ cấu sử dụng đất của dự án kè Bờ Đông sông Vân
50
5
Bảng 2.4. Tổng hợp diện tích, loại đất thu hồi thực hiện dự án

15
Bảng 3.6. Sự thay đổi về số hộ dân với các mức diện tích nhà ở
79 khác nhau trước và sau tái định cư
16
Bảng 3.7. Số hộ gia đình với các mức thu nhập khác nhau so
với trước tái định cư theo khoảng cách di dời
81
17
Bảng 3.8. So sánh các điều kiện ở của các hộ gia đình trước và
sau tái định cư
83
18
Bảng 3.9. Ý kiến đánh giá của người dân về phương án bồi
thường
86
19
Bảng 3.10. Một số nguyện vọng khác của các hộ gia đình
87

DANH MỤC HÌNH VẼ

1
Hình 2.1. Sơ đồ hành chính thành phố Ninh Bình
35

10
Hình 3.7. Nhà ở của các hộ dân trước tái định cư
78
11
Hình 3.8. Nhà ở của các hộ dân sau tái định cư
78
12

13
Hình 3.9. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích nhà ở của các
hộ gia đình trước và sau tái định cư
Hình 3.10. Ông Trần Đình Hà
Hình 3.11. Bà Phạm Thị Sinh
79

80 14
81
15
Hình 3.12. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi số hộ gia đình với các
mức thu nhập khác nhau so với trước TĐC theo khoảng cách
di dời
82
16
Hình 3.13. Biểu đồ thể hiện sự so sánh các điều kiện ở của các
hộ gia đình trước và sau tái định cư
83


dựng và tổ chức thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Tuy nhiên, đất
đai và công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đang là vấn đề
hết sức nhạy cảm và phức tạp, ảnh hưởng đến nhiều mặt của phát triển kinh tế - xã hội
và đời sống của dân cư ở các địa phương. Do đó, thực tế công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư vẫn còn nhiều vướng mắc và tồn tại gây nhiều bức xúc trong nhân dân.
Thành phố Ninh Bình với diện tích 46,71 km
2
, cách thủ đô Hà Nội 93km về
phía Nam, là một đầu mối giao thông quan trọng của hệ thống đường cao tốc Ninh
Bình - Thanh Hóa, Ninh Bình - Cầu Giẽ và Ninh Bình - Hải Phòng - Hạ Long; đồng
thời nằm ở vị trí giao điểm của quốc lộ 1A với 2 quốc lộ 10 và quốc lộ 38B đi qua các
tỉnh vùng duyên hải Bắc Bộ. Bên cạnh đó, thành phố Ninh Bình cũng là nơi có nhiều
di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: khu du lịch sinh thái
Tràng An, núi Non Nước, núi Kỳ Lân, đền thờ Trương Hán Siêu,…
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá ở Ninh Bình đang diễn ra khá
nhanh, kinh tế ngày càng phát triển. Việc sử dụng đất để triển khai các dự án phát triển
các khu công nghiệp, khu du lịch hay mở mang cầu, đường ở thành phố một mặt đem
lại những lợi ích rõ rệt về kinh tế, về hạ tầng đô thị, cải thiện chất lượng cuộc sống
người dân, tuy nhiên cũng gây không ít khó khăn cho một bộ phận không nhỏ người
dân do bị mất đi nguồn tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai và nguồn thu nhập ổn định
của gia đình. Mặt khác, tình trạng nhiều người dân không nhận tiền bồi thường dẫn
đến khiếu kiện kéo dài, gây cản trở tiến độ giải phóng mặt bằng làm ảnh hưởng tới tiến
độ thực hiện các dự án.
Chính vì thế, việc điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá có cơ
sở khoa học công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ, tái định cư ở địa bàn thành phố
Ninh Bình có ý nghĩa lớn, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để bổ sung, hoàn
thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm góp
phần đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, góp

Phong - thành phố Ninh Bình.
Phạm vi nội dung nghiên cứu: đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu
thực trạng và đánh giá hiệu quả của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất ở dự án nói trên, cụ thể về mặt chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ hội việc làm và điều kiện nơi ở tái định cư của người dân sau khi bị thu
hồi đất.
5. Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài
- Các văn bản chính sách, pháp luật liên quan tới bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư của nước ta (Luật đất đai 2003 và các văn bản dưới luật).
- Các báo cáo về công tác quản lý đất đai của địa phương, các số liệu
thống kê về kinh tế-xã hội và đất đai ở khu vực nghiên cứu.
- Các giáo trình, tài liệu chuyên ngành.
- Các báo cáo đề tài, công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam.
- Số liệu phỏng vấn hộ gia đình về việc bồi thường, hỗ trợ việc làm, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: vấn đề nghiên cứu được đặt trong mối
quan hệ tổng quan, được tiếp cận từ nhiều phía; cụ thể là tiếp cận từ tổng thể tới
chi tiết; từ lý luận, phương pháp luận tới thực tiễn; từ chính sách, pháp luật tới
thực tế triển khai thực hiện chính sách và thi hành pháp luật.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: đây là phương pháp quan
trọng, nhằm hai mục đích: một là thu thập những tài liệu, số liệu, các báo cáo về
kinh tế-xã hội, về đất đai, về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư của thành phố Ninh Bình nói chung, và các thông tin cụ thể về dự án nạo vét,
kè bờ Đông sông Vân; hai là khảo sát địa bàn nghiên cứu, quan sát điều kiện
sống và sự thay đổi cuộc sống của người dân có đất bị thu hồi thuộc dự án. Các
ý kiến sơ bộ của cán bộ địa phương, của người dân về vấn đề nghiên cứu cũng
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƢỜNG, HỖ
TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ
1.1 Cơ sở lý luận về bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất
1.1.1. Các khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Theo Luật đất đai 2003, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
được định nghĩa như sau:
- Thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn quản lý [26].
- Bồi thường
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [26].
- Hỗ trợ
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm
mới [26].
- Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống
và làm ăn. Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước
thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di
chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ
sở vật chất, tinh thần tại đó. Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác
động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển
chung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì

của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt. Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn,
thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân
làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các
nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến độ giải phóng mặt bằng [1].
b. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, nhưng lại là
điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển. Vì vậy, việc sử
dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất sẽ không chỉ quyết định tương lai của nền
kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát
triển xã hội. Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định
hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế. Thông
qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc
phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá
trình phát triển đang đặt ra [17].
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức
việc bồi thường GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng
vai trò tổ chức. Bất kỳ một phương án bồi thường GPMB nào đều dựa trên một quy
hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu
quả kinh tế - xã hội cao nhất. Quy hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ “tạo cung”
cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị
- xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường GPMB và cũng là công
việc mà hoạt động quản lý nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng
chức năng nhất [17].
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai
trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất
để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy

giá đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng
năm;
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; - Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi
thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp
vốn bằng quyền sử dụng đất.
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có
những hiểu biết về định giá đất. Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế
nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi
chúng tham gia trong một thị trường nhất định. Hay nói cách khác, định giá đất
được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho
một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định. Khi định giá
đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời
điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế.
Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống
như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và
phương pháp thu nhập.
Giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ
kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư. Theo quy định của
Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường
trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do
các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới
nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện [21]. Kết
quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
cho thấy trong 17.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới
12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường, GPMB (chiếm 70,64%). Trong
các trường hợp khiếu nại về bồi thường GPMB thì có tới 70% là khiếu nại về giá
đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên

hướng dẫn việc thi hành Nghị định 151/TTg. Nguyên tắc khi trưng dụng ruộng đất: được quy định tại Điều 2 của Nghị
định số 151-TTg ngày 14/1/1959 của Thủ tướng Chính phủ:
+ Đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng,
đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất.
Những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp
cần thiết được giúp giải quyết công việc làm ăn.
+ Chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng dụng
thừa. Hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt; tận dụng những đất hoang
để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân. Nói
chung, khi bắt đầu thi công mới giao nhận ruộng đất trưng dụng, không giao
nhận trước rồi bỏ hoang. Đối với ruộng đất có trồng trọt mà chưa thu hoạch, nên
cố gắng thu xếp để khi thu hoạch xong mới giao nhận.
+ Hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ,
chùa, đền. Trường hợp đặc biệt phải làm vào những nơi đó, thì phải bàn bạc kỹ
với nhân dân địa phương. Những danh lam thắng cảnh nằm trong khu vực xây
dựng phải được giữ gìn và cần bảo tồn chu đáo. Trường hợp đặc biệt không thể
giữ gìn được thì phải được Bộ Văn hoá đồng ý và trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định.
Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng: được quy định tại Điều
6:
+ Cách bồi thường tốt nhất là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhường
ruộng đất khác cho người có ruộng đất bị trưng dụng để họ có thể tiếp tục sản
xuất.
+ Trường hợp không làm được như vậy sẽ bồi thường một số tiền bằng từ
1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng dụng. Mức bồi
thường nhiều hay ít phải căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi: đời sống của nhân dân
cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status