HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TT ĐÀO TẠO SĐH- BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
o0o
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
Học phần: Thông tin trong quản lý và quản lý giáo dục
GV hướng dẫn: PGS.TS. Ngô Quang Sơn
Học viên thực hiện: Đậu Thị Hồng Thắm
Lớp: CHK9B-QLGD
Hà nội, 11/2013
Câu 1: Có người nói: Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông
tin và giáo án dạy học tích cực điện tử vừa là giáo án vừa là một loại hình thiết bị
dạy học hiện đại.
Anh/chị hãy phân tích để thống nhất hay phản đối quan điểm đó.
Bài làm
Quan niệm “Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin và
giáo án dạy học tích cực điện tử vừa là giáo án vừa là một loại hình thiết bị dạy học
hiện đại” là một quan niệm đúng đắn, tích cực. Tác giả rất đồng tình với quan niệm
này.
Để thấy được tính đúng đắn của quan niệm, trước hết chúng ta cần hiểu thế
nào là giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin và giáo án dạy
học tích cực điện tử.
Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin là kế hoạch bài
học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi đến lớp, thể
hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa giáo viên và học sinh, học sinh và
học sinh (thiết kế giáo án dạy học tích cực) và một số nội dung kiến thức, kỹ năng
quan trọng cần hình thành cho học sinh trong quá trình dạy học nhưng nó lại quá
trừu tượng đối với các em mà các phương tiện dạy học truyền thống (như tranh ảnh
giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình) không thể hiện nổi thì sẽ được số hóa (Thiết
kế ứng dụng CNTT&TT) và trở thành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô
hình mô phỏng đơn giản, đoạn video để trình chiếu cho học sinh xem trong một
thời gian ngắn đảm bảo phù hợp với nhu cầu nhận thức của học sinh, giúp cho học
kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi
lên lớp) vừa là một loại hình dạy học hiện đại(thiết bị dạy học có ứng dụng
CNTT&TT). Hay nói cách khác, 2 loại giáo án này giáo án dạy học tích cực được
nhúng vào môi trường CNTT&TT./.
Câu 2: Hãy thiết kế kế hoạch chi tiết để hoàn thiện hệ thống thông tin
quản lý cho cơ sở mình đang công tác.
Bài làm
I. Đánh giá thực trạng hệ thống thông tin quản lý giáo dục hiện nay tại
Học viện quản lý giáo dục.
1.1 Vài nét về Học viện quản lý giáo dục.
Tháng 6/1964 thực hiện chủ trương cải cách các trường sư phạm để phục vụ
nhiệm vụ phát triển giáo dục, xây dựng đất nước mà nhiệm vụ trọng tâm là tập
trung vào công tác bồi dưỡng CBQLGD, Bộ Giáo dục ( nay là Bộ Giáo dục và Đào
tạo) đã thành lập tại các tỉnh, thành phố Trường Bồi dưỡng giáo viên và Cán bộ
quản lý giáo dục.
Đến năm 1966 Bộ Giáo dục quyết định thành lập Trường Lý luận nghiệp vụ
giáo dục trực thuộc Bộ để thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng cho CBQLGD
Năm 1976 Trường Cán bộ quản lý Giáo dục được thành lập theo quyết dịnh số
190/TTg ngày 01/10/1976 của Hội đồng Chính phủ.
Năm 1990 Bộ Giáo dục và Đào tạo được thành lập trên cơ sở hợp nhất Bộ Giáo
dục với Bộ Đại học, THCN và Dạy nghề thì Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và
Đào tạo được thành lập trên cơ sở hợp nhất Trường Cán bộ quản lý Giáo dục,
Trường Cán bộ quản lý Đại học, THCN và Dạy nghề và Trung tâm nghiên cứu tổ
chức quản lý và kinh tế học giáo dục.
Năm 2006 Học viện Quản lý giáo dục được thành lập trên cơ sở Trường Cán
bộ Quản lý giáo dục và Đào tạo, bắt đầu thời kỳ mới.
Học viện hiện tại tập trung đào tạo 3 chuyên ngành : Quản lý giáo dục, Tâm lý học,
Tin học ứng dụng. Học viện cũng mở các lớp Cao học chuyên ngành quản lý giáo
dục. Ngoài ra Học viện còn là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc mở lớp bồi
dưỡng, nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp, các
phần mềm phục vụ công tác quản lý ở phần lớn các phân hệ chức năng dựa trên cơ
sở tổ chức các hệ thống cơ sở dữ liệu công tác quản lý như: phần mềm quản lý
điểm, xếp thời khóa biểu… Nhờ vậy, việc quản lý trong Nhà trường được cải tiến
và hiệu quả hơn.
- Về mặt con người: Học viện có đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên có trình
độ của Khoa công nghệ thông tin và Trung tâm tin học vừa có năng lực vừa có tinh
thần trách nhiệm. Trợ lý các khoa, các phòng ban cũng có sự am hiểu tối thiểu về
mạng máy tính và công nghệ thông tin.
1.2.2 Mặt hạn chế:
- Hệ thống thông tin quản lý chưa phát huy tối đa hiệu quả đối với công tác
quản lý đào tạo của Học viện. Biểu hiện: Hầu hết các máy tính ở các phòng ban
chủ yếu được dùng để soạn thảo văn bản, bảng tính thù lao giảng dạy hoặc thiết kế
lịch trình, kế hoạch giảng dạy, soạn giáo án và lưu trữ ở các thư mục riêng lẻ, chưa
xử lý công phu thành những thông tin mang tính hữu dụng. Khi lãnh đạo cần số
liệu báo cáo cấp trên, các trợ lý và chuyên viên thường mất rất nhiều công sức tập
hợp số liệu từ các file độc lập. Tình trạng này khiến cho quá trình thực thi các hoạt
động quản lý như lập kế hoạch, ra quyết định chỉ đạo hay kiểm tra báo cáo bị chậm
trễ và nhiều khi thiếu chính xác. Trong hoạt động khai thác thông tin, các nhà quản
lý hầu như chỉ sử dụng khi cần con số thống kê, phục vụ báo cáo hay tổng kết.
Những thông tin khai thác từ EMIS để lập kế hoạch chiến lược, định hướng đào tạo
nhờ thông tin ngành nghề và nhu cầu xã hội, thông tin chỉ đạo và phản hồi trong
quá trình lãnh đạo và tổ chức thực thi vẫn còn nhiều khiêm tốn.
- Ban giám đốc đã giao nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin và truyền đi trong
nội bộ, kết nối thông tin với bên ngoài trường cho trung tâm Tin học nhưng hoạt
động của nó vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra: Về lý thuyết thì tổ chức hệ thống thông
tin quản lý giáo dục của Trường như hiện nay, với cơ sở mạng máy tính và những
hệ thống cơ sở dữ liệu cơ bản có thể cho phép các khoa, phòng ban, cán bộ, giảng
viên và sinh viên có thể truy cập vào trang WEB, dùng mã số riêng và lấy thông tin
để sử dụng cho hoạt động chuyên môn của mình. Vấn đề là chưa có sự tham gia,
hợp tác từ các đơn vị trong việc khai thác thông tin, cung câp số liệu và xử lý, lưu
tới hệ thống mạng thông tin cho công việc của mình.
- Về cơ sở hạ tầng: Mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhưng hệ thống máy
tính, hệ thống mạng viễn thông và phần mềm quản lý đều chưa đảm bảo: Máy tính
nhanh hỏng, mạng hay trục trặc và phần mềm chưa đầy đủ, toàn diện.
II. Định hướng hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý giáo dục tại Học
viện quản lý giáo dục.
Sự nghiệp giáo dục đại học của Việt Nam nói chung và của Học viện quản lý
giáo dục nói riêng đang diễn những chuyển biến mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu mới
của kinh tế xã hội trong thời đại tiếp cận nền kinh tế tri thức. Do đó hệ thống thông
tin quản lý giáo dục cần phát triển một cách tương xứng và phù hợp với chiến lược
phát triển của Nhà trường.
Trước hết, cần xác định những tiêu chuẩn cần đạt được để có một hệ thống
thông tin quản lý giáo dục hiệu quả. Những tiêu chuẩn đó cần được cụ thể hóa trên
các mặt tương ứng với những điều kiện đảm bảo cho hoạt động của hệ thống thông
tin quản lý giáo dục: trình độ đội ngũ cán bộ chuyên trách, cơ sở hạ tầng bao gồm
máy móc, thiết bị, mạng viễn thông,…
Từ đó, sắp xếp lại, tuyển chọn hoặc đào tạo đội ngũ nhân lực cho hệ thống đạt
trình độ yêu cầu. Mặt khác, rà soát lại toàn bộ cơ sở vật chất để có kế hoạch đầu tư
một cách đồng bộ và hiệu quả, trang bị lại các phòng học, thư viện điện tử, tăng
cường hoạt động của trang WEB, hoàn thiện mạng Lan của Học viện cũng như tạo
ra các phần mềm quản lý tiên tiến phù hợp cho công tác giảng dạy, quản lý.
III. Kế hoạch chi tiết hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý giáo dục tại
Học viện quản lý giáo dục.
Mục tiêu chung: Hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin quản lý giáo dục
phục vụ hiệu quả công tác quản lý của Học viện quản lý giáo dục.
Mục tiêu cụ thể: Đến 30 tháng 07 năm 2014, khắc phục những hạn chế, bất
cập đang tồn tại, hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin quản lý giáo dục phục
vụ hiệu quả công tác quản lý của Học viện quản lý giáo dục.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 11 năm 2013 đến ngày 30 tháng 07 năm 2014.
NỘI DUNG KẾ HOẠCH CHI TIẾT (…)