tiểu luận văn học văn tế thập loại chúng sinh và chủ nghĩa nhân văn của nguyễn du - Pdf 25

Tiểu luận văn học
Văn tế thập loại chúng sinh
và chủ nghĩa nhân văn của Nguyễn Du
Võ Phúc Châu
***

Trở về hai trăm năm trước, để cùng sẻ chia và thấu hiểu nỗi đau đời của
người xưa. Gió dập sóng dồi đâu chỉ ở Đoạn trường tân thanh. Tấm lòng thơ
đâu chỉ dành cho một đôi người bất hạnh. Tình đời đâu chỉ dành cho dương
thế. Nguyễn Du đã phải lặn ngụp giữa bể dâu, để chở che, cứu vớt bao nhiêu
kiếp người mệnh bạc. Ông dành tình thương cả cho những oan hồn không
chốn nương thân. Chủ nghĩa nhân văn mà ông suốt đời theo đuổi đã kết tinh
thật xuất thần trong áng văn bất hủ: Văn tế thập loại chúng sinh.

Văn tế thập loại chúng sinh, còn gọi là Văn chiêu hồn, đã giúp hậu thế
hiểu thêm tầm vĩ đại của tư tưởng Nguyễn Du. Tác phẩm mang màu sắc Phật
giáo, lưu truyền trong những ngôi chùa cổ; hoà quyện cùng tiếng mõ, lời
kinh. Thế mà, càng nghe, càng chiêm nghiệm, ta càng nhận ra âm vang, màu
sắc của cõi đời. Trong tác phẩm, nhà thơ đâu hẳn nói về thế giới bên kia.
Khóc người chết mà hóa ra thương người đang sống. Âm vang tác phẩm vượt
khỏi xứ Phật, lan khắp cõi trần ai, thấm thật sâu vào buồng tim nhân ái của
vạn triệu con người.

*
Trước hết, ta thử tìm hiểu những tiền đề góp phần tạo nên một Văn chiêu
hồn bất hủ.
Có thể nói, nếu không ra đời giữa thời buổi “thay đổi sơn hà”, không cất lên
1
từ tấm lòng thương người mênh mông của Nguyễn Du, chưa chắc Văn chiêu
hồn có được sức sống và tầm vóc như hôm nay. Ta quay về thời đại Nguyễn
Du. Nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, những mầm mống đầu


*
Trước khi tìm hiểu chủ nghĩa nhân văn của Nguyễn Du trong Văn chiêu hồn,
thiết nghĩ, ta nên hình dung đôi nét về chủ nghĩa nhân văn trong thời đại của
ông.

Như đã nói, thời đại Nguyễn Du là buổi “thay đổi sơn hà”. Trào lưu nhân đạo
chủ nghĩa thời này xoay quanh hai bình diện: phê phán những thế lực phong
kiến chà đạp con người; đề cao con người, đề cao cuộc sống trần tục của kiếp
nhân sinh. Nó là sự kế thừa và nâng cao tinh thần nhân văn trong văn học cổ
Việt Nam thời trước.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa nhân văn, văn học cổ Việt Nam quan tâm sâu
sắc đến những con người bình thường, phải chịu nhiều nhọc nhằn, bất hạnh,
tai ương. Văn học gần gũi, cận kề con người trong cơn hoạn nạn. Không
dừng lại suy nghĩ, triết lý về số phận, về đời người, văn học tìm phương cách
cứu giúp con người bớt khổ. Văn học luôn đề cao lối ứng xử tình nghĩa, thủy
chung, phải đạo, trong quan hệ giữa người với người. Ở đó, con người, theo
tinh thần nhân văn, luôn chuộng lối sống khoan dung, chan hòa. Xã hội
không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Ngược lại, nó luôn tìm cách
hóa giải cách biệt giữa cá nhân và cộng đồng, tạo mối dây hài hòa giữa lương
tâm và bổn phận. Con người, khi đó, thiên về đạo lý, đạo đức, chứ không
theo bình diện triết học.

*
Đọc Văn tế thập loại chúng sinh, ta tìm thấy một hệ thống dẫn chứng, minh
họa sống động cho những tư tưởng nhân văn này.

3
Với 184 câu thơ song thất lục bát, tác phẩm khởi hành từ cõi dương thế, trong


Chỉ một chiếc đòn gánh tre mà gợi ra bao nẻo đường vạn dặm, bao chặng đời
tảo tần, gồng gánh của kẻ xuôi ngược tìm manh áo miếng cơm. Nguyễn Du
như đang viết về phần gánh nặng đang hằn trên bờ vai gầy guộc của chính
mình. Nhà thơ mở lòng sẻ chia với những thân phận “dãi dầu nghìn dặm, lầm
than một đời”. Ông nghẹn ngào cho bao số kiếp “sống nhờ hàng xứ, chết vùi
đường quan”, sớm hôm chịu cảnh “thở than dưới đất, ăn nằm trên sương”.
Lúc nào, bao giờ, ông cũng bị ám ảnh nặng nề bởi số kiếp con người:

“Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp”
“Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu?”
“Thương thay cũng một kiếp người”
“Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi”
“Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng vạn cảnh giai không”

Tình yêu thương mênh mông của Nguyễn Du không đứng trên lập trường của
tầng lớp phong kiến thống trị. Không hề có sự ban ơn. Nó cũng không đơn
thuần là tiếng thở dài, mặc nhiên cam chịu của triết lý nhà Phật. Phật giáo
giải thích số kiếp mỗi người đều do chính mình đã gieo nhân nên gặt quả.
Con người không nên than vãn vô ích về số kiếp của mình, mà chỉ nên tìm
cách cởi dần oan trái, thoát khỏi luân hồi. Quan niệm của Nguyễn Du không
đơn thuần như thế. Nó còn bám rễ lên cây từ những biến động, quan hệ phức
tạp của cuộc đời. Ông nhận ra nhiều oan trái từ giữa lòng xã hội phong kiến
hà khắc, bất công. Qua những vần thơ ông, đã lộ diện một xã hội đói nghèo,
khốn quẫn. Nếu không thế, sao đến nỗi bao người phải liều thân “vào sông ra
bể”, tần tảo “đi về mua bán”, hay sa vào thảm cảnh “hành khất ngược xuôi”?
Và đất nước không chiến tranh, loạn lạc, thử hỏi sao có “kẻ mắc vào khóa
lính”, thêm biết bao “mạng người như rác”. Những lúc này, Nguyễn Du thật
sự đớn đau và nhức nhối trước cõi phù sinh. Sau mỗi dòng thơ, ông hạ xuống

*
6
Càng suy gẫm về những kiếp người cơ cực trong Văn chiêu hồn, ta càng
sững sờ trước tầm nhìn thấu “sáu cõi” của nhà thơ. Nguyễn Du vẫn luôn là
người đi trước thời đại. Không dừng ở hồi chuông giải oan cho người phụ nữ,
ông còn gióng thêm hồi chuông cứu vớt linh hồn những hài nhi xấu số:

“Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh, lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng”.

Quan tâm tới đối tượng này, Nguyễn Du càng khẳng định thêm tinh thần
nhân văn của mình. Trong tâm thức con người thời phong kiến, chưa bao giờ
hài nhi được quan tâm như một số phận có quyền sống và nhu cầu được sống.
Chỉ có người cao tuổi mới đáng được đời quan tâm, trọng vọng. Văn học
trung đại nhiều thế kỷ, vì thế, chẳng có lấy một vần thơ về trẻ con. Vậy mà,
lần đầu tiên, Nguyễn Du lại dành nước mắt xót thương khóc chúng. Lần đầu
tiên, Nguyễn Du mạnh dạn đưa tiếng khóc hài nhi vào văn học. Với nhà thơ,
dẫu mới chào đời nhưng chúng vẫn có tư cách và quyền sống của một con
người. Nguyễn Du thương chúng không được hưởng những quyền tối thiểu
của một trẻ thơ: được bồng bế, nâng niu. Nhà thơ đứt ruột bởi tiếng khóc
ngây thơ, ngắn ngủi của chúng:

“U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng”.

Có thể thấy, với Nguyễn Du, ngay khi cất tiếng chào đời, trẻ con đã là một
con người, có quyền bình đẳng với bao nhiêu người lớn. Nhà thơ trách tạo
hóa phũ phàng, để những hài nhi “lỗi giờ sinh” phải sớm từ biệt cõi đời. Từ
niềm trắc ẩn về những hài nhi, nhà thơ như muốn gởi cho đời thông điệp:

những oan hồn vất vưởng:

“Ai đến đây dưới trên ngồi lại
8
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh”

Theo lẽ thường, một khi gởi gắm niềm tin vào đấng siêu nhiên, con người dễ
đánh mất mình, mất cả niềm tin vào bản thân. Nhưng qua những vần thơ
thống thiết, Nguyễn Du đâu hề thủ tiêu bản ngã. Con người yếu đuối nơi cõi
trần kia vẫn mãi tràn đầy khát khao và nghị lực, lúc nào cũng hừng hực nhiệt
thành cứu vớt muôn triệu chúng sinh. Nghĩa cử cao quý ấy, cho dù có lúc
phải nương tựa vào tôn giáo, nhưng vẫn là biểu hiện ngời sáng của một tinh
thần nhân văn: mong muốn đem lại hơi ấm, sự sống cho mọi con người.

*
Cũng với tinh thần nhân văn, khi nghĩ về những oan hồn, Nguyễn Du không
hề thoát ly mối quan hệ phức tạp giữa những người đang sống. Ông luôn đề
cao lối ứng xử tình nghĩa giữa người và người. Ông nương theo lối sống biết
người biết ta, luôn xem nỗi khổ của người như nỗi khổ của mình. Trong tác
phẩm, nhà thơ đã bao lần hóa thân vào cảnh khổ của người, thương xót cho
người:

“Đau đớn thay, phận đàn bà”
“Thương thay cũng một kiếp người”
“Thương thay thập loại chúng sinh”
“Thương thay chân yếu tay mềm”
“Tiếng oan văng vẳng, tối trời càng thương”
“Lòng nào lòng chẳng thiết tha

bình đẳng với cộng đồng.

Phiêu du vào thế giới oan hồn, Nguyễn Du đâu chỉ nói chuyện với người đã
khuất. Nhà thơ còn gởi biết bao thông điệp cho người đang sống. Hơn thua,
tranh giành, sát hại nhau làm gì? Chạy đuổi tiền tài, địa vị hư ảo làm chi?
10
Hãy nhìn những cái chết của bao người tham vọng!

Tuy không là nhà cải cách xã hội, nhưng qua việc tạo ra một âm giới không
có sự phân biệt, oán thù, Nguyễn Du đã góp phần cổ xúy cho một xã hội tốt
đẹp. Trong xã hội ấy, con người đồng cảm với nhau, biết xích lại gần nhau,
biết xem nỗi bất hạnh của người khác cũng là bất hạnh của chính thân mình.

*
Trong Văn chiêu hồn, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Du thiên về tính chất
đạo lý, đạo đức, chứ không thiên về bình diện triết học. Cõi dương thế mà
nhà thơ miêu tả có vẻ không thuộc về một triều đại nào. Cảnh tượng đa phần
là sự biến đổi của thiên nhiên, trời đất. Thảng hoặc, có cảnh sa trường, gươm
giáo. Nhưng càng ngẫm, ta càng nhận ra dấu ấn của thời đại đầy biến động,
bế tắc mà Nguyễn Du đang sống. Nhà thơ miêu tả nó bằng thái độ ngầm chán
ngán và ghê sợ.

Trải suốt 184 câu thơ, cảnh dương thế hiện ra đầy ảm đạm, thê lương. Đó là
sự biến chuyển của đất trời: “mưa dầm sùi sụt, lạnh buốt xương khô, bóng
chiều man mác, lác đác sương sa, mưa sa ngói lở, gió mưa sấm sét đùng
đùng, mưa gào gió thét, ngàn mây nội cỏ dầu dầu, gió trăng hiu hắt, dông tố
giữa dòng,…”. Vũ trụ ấy, thử hỏi, làm sao là nơi sinh tụ một cuộc sống thịnh
vượng, thái bình? Thiên nhiên như cũng lở tan, thét gào cùng với giông bão
đời người. Trời đất như cũng hiu hắt, sùi sụt cùng những khổ đau, oan trái
của muôn vạn sinh linh. Lại còn đây nữa, khung cảnh trần ai đầy chuyện

lên ngay khi nhà thơ bắt đầu khóc cho những kiếp người. Ông luận bàn về
những kẻ “tính đường kiêu hãnh”, sống giữa “màn loan trướng huệ”, rồi
những kẻ “mũ cao áo dài”, mê mải “bày binh bố trận”, hoặc “tính đường trí
phú”, hay “rắp cầu chữ quý”. Cả sáu hạng người bất hạnh, cùng xuất thân
quý tộc, hoặc cố ngoi lên thành quý tộc, đều được tác giả thương cảm hết
lòng nhưng phán xét cũng thật phân minh.

12
Tình thương của nhà thơ dành cho họ thế nào, hẳn đã rõ. Riêng phần phán xét
về họ ra sao? Xuất thân từ thế gia vọng tộc nhưng nhà thơ lại kịch kiệt phê
phán những ai muốn đeo đuổi hoặc khư khư ôm lấy cuộc sống sang giàu,
kiêu hãnh. Sự trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời đã khiến tác giả nhận ra hố sâu
ngăn cách giữa giàu – nghèo, sướng – khổ, cũng như mầm mống bất hạnh.
Tất cả đều có từ lối sống theo bả lợi danh.

Nguyễn Du tỏ ra không thiện cảm với những kẻ thích cậy mình “cung quế
Hằng Nga”, hay mê mải “rắp cầu chữ quý, dấn thân vào thành thị lân la”.
Ông nhìn phú quý như một thứ phù du, một mầm di hại. Bởi lẽ, “giàu sang
càng nặng oán thù”, hoặc “thịnh mãn lắm oán thù càng lắm”. Tiền vàng, với
ông, chỉ là thứ của phù vân, làm sao đổi được mạng người:

“Nghìn vàng khôn đổi được mình”
“Sống thời tiền chảy bạc ròng,
Thác không đem được một đồng nào đi”
Chưa kể, khi chết rồi, không ít kẻ giàu sang vẫn cảnh mồ hoang lạnh;
“Khi sao đông đúc vui cười,
Mà khi nhắm mắt, không người nhặt xương”.

Ngẫm ra, đó cũng là hệ quả của một thói đời, khi ai nấy chỉ biết sống vì bạc
tiền, địa vị. Sự bạc phước của những kẻ khinh người, cao ngạo, phải chăng

đổi tư tưởng, cách sống con người. Sau Đoạn trường tân thanh, tác phẩm
cũng là một tiếng khóc lớn, mang tầm thời đại. Nó cũng có tư cách một bài
thơ trữ tình dài hơi, tầm vóc in vào thế kỷ. Tạo được những hiệu quả và giá
trị lớn lao đó, bởi tác phẩm đã cháy lên từ lò lửa của chủ nghĩa nhân văn, vừa
phát khởi từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX. Tác phẩm còn được nuôi
dưỡng bền lâu bởi ngọn lửa chủ nghĩa nhân văn của chính đại thi hào dân tộc
Nguyễn Du.
Võ Phúc Châu
14
(Nguồn http://www.vanchuongviet.org)
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status