Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, quản lý nhà nước về tài chính giữ một vị
trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội; Quản lý thu ngân sách, khi
nền kinh tế thị trường phát triển, nguồn thu từ nội địa là then chốt trong tổng thu
ngân sách quốc gia, đặc biệt nguồn thu từ thuế, trong đó các khoản thu thuế Công
thương nghiệp ngoài quốc doanh (CTN-NQD) chiếm tỷ trọng khá lớn, đóng vai trò
quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN), góp phần tích cực trong
việc điều tiết cân đối thu chi ngân sách.
Ngày nay vai trò của thuế càng được nâng cao, thuế thực sự là công cụ có
hiệu lực góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đồng thời phục vụ yêu
cầu kiểm soát, hướng dẫn mọi hoạt động kinh tế. Chính sách thuế được đặt ra
không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là
qua thu góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, đảm bảo tính pháp lý
cao, thể hiện được tính đơn giản, rõ ràng, công khai, dân chủ, công bằng xã hội,
khuyến khích tăng trưởng sản xuất phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế
thị trường, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo chủ
trương, chính sách quản lý kinh tế của đảng, nhà nước.
Từ những chính sách phát triển kinh tế tích cực của Nhà nước đã góp phần
đáng kể trong việc tăng thu NSNN. Song song đó, Luật thuế Giá trị gia tăng
(GTGT), Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật thuế Thu nhập cá nhân
(TNCN), ra đời là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật. Trong những
năm gần đây, nguồn thu thuế của tỉnh An Giang nói chung, thành phố Long Xuyên
nói riêng, nhờ sự tác động của nền kinh tế thị trường mà nguồn thu thuế của thành
1.1.1. Khái niệm về thuế:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn
trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội.
Thuế là nghĩa vụ của người dân đối với nhà nước.
1.1.2. Phân loại thuế:
1.1.2.1. Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế.
Bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu để phân biệt đối tượng chịu thuế.
- Thuế gián thu: Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là
người chịu thuế. Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu
thành trong giá mua hàng hoá, nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng.
Thực chất người tiêu dùng phải trả khoản thuế đó nhưng lại nộp thông qua nhà
kinh doanh, nhà sản xuất. Như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế
xuất nhập khẩu…. Người kinh doanh thực tế nộp thuế là nộp hộ cho người mua
hàng hoặc người được cung ứng dịch vụ để trả qua giá mua hàng, giá dịch vụ.
Thuế gián thu được tính vào khoản chi phí để trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
- Thuế trực thu: Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là
người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên thu nhập của người nộp thuế
như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử
dụng đất, thuế Tài nguyên, thuế Sử dụng đất nông nghiệp, thuế Nhà đất Thuế
trực thu không được tính vào khoản chi phí để trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Việc phân loại theo tiêu thức này chỉ mang tính chất tương đối vì trong tình
hình giá cả có nhiều biến động, việc xác định khoản thuế do người nộp chịu hay
người tiêu dùng chịu rất khó, hơn nữa một số sắc thuế rất khó xác định trực thu hay
gián thu.
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
Hai là, Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế: Ngoài việc huy động nguồn
thu cho ngân sách, thuế có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế.
Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập. Vì vậy căn cứ vào tình hình cụ
thể, nhà nước sử dụng công cụ này để chủ động điều hành nền kinh tế. Lúc nền
kinh tế quá thịnh thì việc gia tăng thuế có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của tổng
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
5
nhu cầu làm giảm phát triển của kinh tế. Những mặt hàng quan trọng như xăng
dầu, sắt thép… khi có sự biến động giá cả trên thế giới, để ổn định giá cả trong
nước nhà nước thông qua công cụ thuế để ổn định giá cả. Như vậy, qua việc xây
dựng các luật thuế mà nhà nước có thể chủ động phát huy vai trò điều hoà nền kinh
tế. Dựa vào công cụ thuế, nhà nước có thể thúc đẩy hoăc hạn chế việc tích luỹ đầu
tư, khuyến khích xuất khẩu….
Ba là, Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và
công bằng xã hội: Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề,
các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng
xã hội.
Sự bình đẳng và công bằng xã hội được thể hiện thông qua chính sách động
viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những
điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đằng về nghĩa vụ đối với mọi
công dân, không có đặc quyền, đặc lợi cho bất kì đối tượng nào. Công bằng xã hội
không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa. Người có thu nhập cao phải đóng thuế
nhiều hơn người có thu nhập thấp.Tuy nhiên phải để người có thu nhập cao chính
đáng được hưởng thành quả lao động của mình thì mới khuyến khích họ phát triển
sản xuất kinh doanh, tránh lạm thu, trùng lắp để đảm bảo công bằng và bình đẳng
tượng chịu thuế là thu nhập từ hoạt động SXKD, dịch vụ và thu nhập khác, kể cả
thu nhập từ hoạt động SXKD, dịch vụ ở nước ngoài sau khi đã trừ các khoản chi
phí hợp lý.
- Thuế TTĐB: thu vào một số hàng hóa, dịch vụ đã được liệt kê trong danh
mục chịu thuế Tiêu thụ đặc biệt. Đây là loại thuế gián thu, thuế được gộp vào giá
bán và do người tiêu dùng phải gánh chịu khi mua hàng hóa, dịch vụ nhưng được
thu qua các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ. Các mặt hàng chỉ chịu thuế Tiêu
thụ đặc biệt một lần ở khâu sản xuất, kinh doanh dịch vụ và ở khâu nhập khẩu.
Người nộp thuế bao gồm các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa
và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng nộp thuế Tiêu thụ đặc biệt. Đối tượng chịu
thuế là giá tính thuế đối với các hàng hóa bán ra.
- Thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu là một loại thuế thu vào các mặt hàng mậu
dịch và phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam, kể
cả hàng hóa từ thị trường trong nước đưa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa
ra thị trường trong nước.
Người nộp thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu là tất cả các tổ chức, cá nhân có hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam theo luật thuế quy định. Đối
tượng chịu thuế là giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới, hay nói
cách khác là giá tính thuế đơn vị hàng hóa.
- Thuế Môn bài: Thực chất đây là một loại phí đánh vào các đơn vị có hoạt
động sản xuất kinh doanh, căn cứ vào quy mô của cơ sở kinh doanh mà có mức thu
Môn bài khác nhau.
- Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu, thu vào thu nhập chính
đáng của cá nhân.
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
luật và văn bản pháp qui về thuế thể hiện nghĩa vụ của pháp nhân và thể nhân đối
với Nhà nước được ban hành như: Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Thu nhập
doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập cá nhân,…Dựa vào các quy định nêu trên, hệ
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
8
thống thuế Việt Nam đã hình thành và ngày càng hoàn thiện, thể hiện đầy đủ hơn
nghĩa vụ của công dân, đơn vị SXKD đối với nhà nước.
Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu
lực, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mức
động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện cho người nộp thuế tăng tích tụ, tăng khả
năng cạnh tranh, thực sự là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu
lực, hiệu lực của Đảng và Nhà nước; xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu
lực, hiệu lực; công tác quản lý thuế và phí, lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản,
dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh
bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học theo thông lệ quốc tế;
nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính và ứng dụng công nghệ thông tin hiện
đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao.
Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách điều tiết, điều chỉnh trong
công tác quản lý thuế nhằm từng bước phù hợp và nâng cao hiệu lực trong công tác
động viên nguồn thu vào NSNN, đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế của đất
nước, chẳng hạn như:
Để khuyến khích cũng như thu hút đầu tư của các Doanh nghiệp trong và
ngoài nước. Đảng và Nhà nước ban hành chính sách ưu đãi đầu tư đối với những
vùng kinh tế ở địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn, thể hiện ở Nghị định
124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi
quốc lộ và đường sông thông suốt đến các khu vực đồng bằng Sông Cửu Long và
nước bạn Campuchia. Cảng Mỹ Thới nằm trong hệ thống cảng quốc gia có thể
xuất khẩu hàng hóa trực tiếp với công suất hơn 4.500 tấn hàng hóa/ngày.
Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh An
Giang; là một thành phố trẻ, có vị trí địa lý - kinh tế đặc biệt quan trọng và được
xem là động lực phát triển kinh tế của tỉnh An Giang cũng như vùng đồng bằng
Sông Cửu Long. Cơ cấu kinh tế của thành phố là Thương mại - Dịch vụ, Công
nghiệp - Xây dựng và Nông nghiệp, thế mạnh của thành phố là thương mại - dịch
vụ. Để phát triển kinh tế bền vững, trên cơ sở phát huy, khai thác tốt tiềm năng lợi
thế vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên: đất đai, nguồn nước ngọt, thủy sản, lao động
cùng với tinh thần cần cù, năng động, sáng tạo, tích cực phát triển kinh tế toàn
diện, vững chắc.
Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền, doanh nghiệp và nhân dân
thành phố Long Xuyên đã có nhiều nổ lực quyết tâm thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội. Nhìn chung, kinh tế của thành phố tăng trưởng khá nhanh và ổn
định, lĩnh vực văn hóa - xã hội và cải cách hành chính có nhiều chuyển biến khá
tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, quốc phòng -
an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. GDP bình quân đầu người của thành
phố Long Xuyên đạt 62,5 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng (GDP) tăng 10,32%. Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
10
2.1.2. Đặc điểm về công thương nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn
thành phố Long Xuyên:
nghiệp gặp nhiều khó khăn do thị trường đầu ra không ổn định trong khi chi phí
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
11
nguyên vật liệu đầu vào, giá xăng dầu liên tục tăng mạnh, lãi suất vay tín dụng
ngân hàng luôn còn ở mức cao, doanh nghiệp khó tiếp cận với nguồn vay có lãi
suất thấp; Số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, giải thể phát sinh 58 doanh nghiệp;
có 720 lượt doanh nghiệp ngưng nghĩ trong năm; phần lớn doanh nghiệp chỉ hoạt
động cầm chừng; nhiều doanh nghiệp xây dựng ngừng hoạt động do không có
công trình thi công; Do giá lúa, cá không thuận lợi, sức mua thị trường giảm nên số
lượng xe ô tô, xe gắn máy đăng ký phát sinh rất thấp so cùng kỳ làm ảnh hưởng
nhiều đến số thu lệ phí trước bạ; Thị trường bất động sản còn đóng băng số lượng
hồ sơ nhà đất phát sinh rất ít, làm ảnh hưởng số thu thuế TNCN từ chuyển nhượng
bất động sản, Nên đã tác động không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, việc thu NSNN, thực hiện các chỉ tiêu kế
hoạch, tốc độ phát triển kinh tế của thành phố cũng gặp không ít khó khăn.
2.2. Kết quả quản lý thu thuế Công thƣơng nghiệp ngoài quốc doanh ở
thành phố Long Xuyên từ 2009 -2012:
2.2.1. Khái quát về thực hiện quản lý thu thuế ở thành phố Long Xuyên
giai đoạn 2009 - 2012:
- Bộ máy thu thuế:
Ngành thuế tỉnh An Giang nói chung, Chi cục Thuế thành phố Long Xuyên
nói riêng được thành lập theo Nghị định 281-HĐBT ngày 07/08/1990 của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) việc thành lập hệ thống thu thuế trực thuộc Bộ
Tài chính. Ngày 28/10/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
218/2003/QĐ-TTg quy định về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
khác ngân sách,…
Việc áp dụng hình thức thu thuế theo tháng, quý, năm phù hợp với từng loại
thuế và sắc thuế, từ đó tạo nguồn thu dồi giàu cho ngân sách, cũng như đảm bảo dự
toán chi của thành phố nhà. Qua đó góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu
thuế cũng như góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.
- Công tác cải cách, hiện đại hoá ngành thuế
Thực hiện tốt chương trình cải cách hành chính thuế để vừa quản lý thuế có
hiệu quả các khoản thu vào NSNN, vừa xóa bỏ các thủ tục không cần thiết gây
phiền hà, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư, các cơ sở hoạt
động sản xuất kinh doanh phát triển, giảm chi phí, thời gian, cho người nộp thuế
và cơ quan Thuế; Công tác nộp thuế ủy nhiệm qua các ngân hàng thương mại được
thực hiện tốt và tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Chi cục Thuế thường xuyên theo
dõi sát các thông tin và ý kiến phản hồi của người nộp thuế từ các điểm nộp thuế ủy
nhiệm qua Ngân hàng. Từ đó có ý kiến đóng góp và xây dựng kiện toàn quy chế
phối hợp chặt chẽ giữa Kho Bạc, Ngân hàng, Chi cục Thuế nhằm tạo thuận lợi và tiết
kiệm chi phí, thời gian cho người nộp thuế.
Thực hiện kê khai thuế qua mạng: đã triển khai tập huấn ứng dụng kê khai thuế
điện tử qua mạng cho 165 doanh nghiệp, hiện nay đã có 141 doanh nghiệp kê khai
thuế qua mạng và sẽ tiếp tục nhân rộng số lượng doanh nghiệp kê khai thuế điện tử.
Năm 2012, là năm đầu tiên Chi cục thuế đi vào áp dụng hệ thống quản lý thuế đạt chất
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
13
lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008, qua kiểm tra đánh giá thực tế của tổ
chức chuyên môn, Chi cục thuế đạt chuẩn và được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường
Chất lượng cấp chứng nhận phù hợp.
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
14
ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trên 45% tổng thu. Dưới sự lãnh đạo của
Thành phố ủy, điều hành của UBND thành phố, Chi cục Thuế đã tổ chức thực
hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu, số thu năm sau luôn cao hơn năm trước.
Kết quả thực hiện nhiệm vụ thu từ 2009 - 2012 được thể hiện cụ thể như sau:
Bảng 1: Kết quả thu thuế CTN NQD ở thành phố Long Xuyên từ 2009 - 2012
Đơn vị tính: triệu đồng
Bảng 2: Chi tiết kết quả từng loại thu của thuế CTN NQD ở thành phố Long
Xuyên từ 2009 - 2012
Đơn vị tính: triệu đồng
Nội dung
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Tổng thu Thuế CTN-NQD
109.293
133.992
152.392
182.221
Đối tượng nộp thuế (ĐTNT)
11.873
12.005
của Tổng Cục Thuế và Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài
chính.
Nội dung
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm2012
Tổng thu NSNN
315.638
370.703
417.978
438.131
Thuế CTN-NQD
109.293
133.992
152.392
182.221
Tỷ lệ % trên tổng thu
34,63%
36,15%
36,46%
41,59%
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
15
- Về chất lượng thực hiện các quy trình quản lý: Các Đội kiểm tra thuế, Đội
hộ kinh doanh nhỏ, đơn giản chuyển sang hộ khoán thuế. Tuy nhiên, do quản lý sát
nguồn thu nên số thuế hàng năm đều tăng lên rõ rệt.
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
16
- Về công tác đăng ký thuế: Thực hiện tốt công tác kê khai đăng ký mã số
thuế kịp thời cho các cơ sở kinh doanh mới phát sinh và tiến hành đóng mã số thuế
đối với các tổ chức, cá nhân chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh đúng theo
quy định. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Phòng TC-KH kiểm tra đưa vào
quản lý thuế kịp thời các cơ sở mới ra đăng ký kinh doanh, trong năm đã kiểm tra
và đưa vào quản lý thuế 775 cơ sở mới ra đăng ký kinh doanh, còn lại 121 trường
hợp có đăng ký kinh doanh nhưng chưa hoạt động đang tiếp tục theo dõi kiểm tra.
Hiện Chi cục thuế đang quản lý mã số thuế của 14.012 đối tượng nộp thuế,
trong đó: 965 công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, các chi nhánh; 120 đơn vị sự
nghiệp; 9.166 hộ cá thể và 3.761 mã số thuế TNCN.
- Về công tác kê khai, lập bộ thuế: Tăng cường quản lý, giám sát kê khai,
hướng dẫn đôn đốc tổ chức, cá nhân kê khai thuế đúng theo thời gian quy định và
nghiêm khắc xử lý các trường hợp nộp tờ khai không đúng hạn, chậm nộp tờ khai.
Từ đó, tác động việc nộp tờ khai thuế đúng hạn hàng tháng của người nộp thuế
tăng lên cả về mặt chất lượng và số lượng. Tổng số lượt tờ khai thuế phải nộp cả
năm 16.198, đã nộp 16.045 tờ khai, đạt 99,99% trên tổng số tờ khai; số tờ khai
không nộp 153, chiếm tỷ lệ 0,01% trên tổng số tờ khai. Số lượt tờ khai nộp đúng
hạn là 15.705 tờ khai, chiếm tỷ lệ 97,8%; số tờ khai lỗi số học là 669 tờ khai,
chiếm tỷ lệ 4,1%.
Đẩy mạnh công tác kê khai thuế qua mạng nhằm tiết kiệm thời gian và chi
phí cho doanh nghiệp, tính đến nay đã có 141 doanh nghiệp gửi tờ khai qua mạng.
dựng quy chế đối thoại với doanh nghiệp; giải đáp các vướng mắc cho người nộp
thuế kịp thời, thông suốt, đúng chính sách; những khó khăn do cơ chế chính sách
phải được tập hợp đầy đủ, qua đó đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách thuế nhằm
tháo gỡ từng bước cho doanh nghiệp. Trong năm 2012 Chi cục thuế đã hướng dẫn
giải đáp hỗ trợ về chính sách pháp luật thuế với 3.154 lượt hỗ trợ, trong đó hỗ trợ
trực tíêp tại cơ quan thuế 1.428 lượt, hỗ trợ qua điện thọai 1.698 lượt, trả lời bằng
văn bản 28 lượt.
Phối hợp chặt chẽ với báo đài, Ban Tuyên giáo và Mặt trận tổ quốc trong
công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật mới, về thực hiện Nghị định
số 51/2010/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện chế độ hóa đơn chứng từ, về chính sách
miễn, giảm, gia hạn nộp thuế để hỗ trợ cho tổ chức, cá nhân vượt qua khó khăn,
thúc đẩy phát triển kinh tế theo chi đạo của Chính phủ.
Chi cục thuế đã tổ chức các cuộc hội nghị tập huấn để tuyên truyền, phổ
biến, triển khai cập nhật kịp thời các văn bản chính sách pháp luật thuế mới cho
người nộp thuế với 1.005 lượt doanh nghiệp tham dự.
Bốn là, Chất lượng đội ngũ quản lý:
Chi cục Thuế đã sắp xếp bố trí tổ chức bộ máy gọn nhẹ đảm bảo thực hiện
đầy đủ chức năng, nhiệm vụ đúng theo quy định của Tổng cục thuế và Cục thuế,
tập trung cán bộ cho các khâu quan trọng quản lý thuế theo chức năng như: kiểm
tra, quản lý nợ thuế, kê khai kế toán thuế, tuyên truyền hỗ trợ.
Tất cả cán bộ, công chức đều qua đào tạo nghiệp vụ chuyên môn, có hơn
60% cán bộ có trình độ nghiệp vụ từ đại học trở lên và có 42 đảng viên có trình độ
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
18
lý luận chính trị. Số lượng nhân sự này tương đối đáp ứng được yêu cầu quản lý
của Cục Thuế, Thành Ủy, UBND thành phố; sự phối hợp hỗ trợ tích cực của các
ban ngành, UBND phường xã trong việc tăng cường các biện pháp quản lý thu thuế,
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
19
nhất là các biện pháp tăng thu, chống thất thu, các giải pháp về chống gian lận thương
mại, kiểm soát chuyển giá, trốn thuế, ẩn lậu thuế.
Chi cục Thuế đã chủ động triển khai áp dụng đồng bộ và quyết liệt các biện
pháp quản lý thu, khai thác nguồn thu và chống thất thu ngân sách đi đôi với thực hiện
cải cách thủ tục hành chính thuế. Tăng cường sự phối hợp với các ban ngành chức
năng có liên quan, các cơ quan đoàn thể, Cấp ủy, UBND phường xã để quản lý và
khai thác có hiệu quả các nguồn thu trên địa bàn như: theo dõi kiểm tra các cơ sở
mới ra đăng ký kinh doanh đưa vào quản lý thuế kịp thời kịp thời, tăng cường
công tác thu nợ, kiểm tra chống thất thu thuế, chống gian lận thương mại, chống
buôn lậu, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp; kiểm tra thực hiện bình ổn giá,
Ý thức của người nộp thuế ngày càng cao, tự chịu trách nhiệm trong kê khai
thuế và tự giác trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
2.2.3. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế:
2.2.3.1. Hạn chế:
Công tác rà soát, kiểm kê mã số thuế, cập nhật quản lý thuế đối với người
nộp thuế bước đầu đã phối hợp được với Phòng Tài chính- Kế hoạch; Chi cục
Thống kê để phân loại doanh nghiệp không còn hoạt động, không tìm thấy để đóng
mã số thuế. Tuy nhiên, công tác đóng mã số thuế còn chậm thực hiện chưa kịp
thời.
Công tác kiểm tra giám sát hồ sơ khai thuế chỉ đạt về số lượng, chất lượng
kiểm tra giám sát còn hạn chế, số tờ khai kê khai bổ sung thêm còn rất thấp;
nhất là ở địa bàn phường xã do bộ phận ủy nhiệm thu đang quản lý.
Chưa cập nhật đầy đủ kịp thời chính xác trên danh bạ đối tượng nộp thuế các
trường hợp tự giải thể, phá sản, tự bỏ địa điểm chấm dứt hoạt động kinh doanh để
thực hiện đóng mã số thuế.
Việc chọn lọc đối tượng kiểm tra giám sát rủi ro phần lớn dựa vào kinh
nghiệm, cán bộ kiểm tra chưa chủ động thu thập đầy đủ thông tin về hoạt động của
người nộp thuế để đối chiếu với kết quả kê khai, nên hiệu quả đạt được từ công tác
kiểm tra giám sát hồ sơ khai thuế, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế đạt được chưa
cao
Một số ít các tổ chức, cá nhân vẫn chưa chủ động phối hợp trong việc cung
cấp thông tin,chia sẽ trách nhiệm với cơ quan thuế thực hiện đúng theo quy định
của Luật Quản lý thuế trong công tác kiểm tra chống thất thu.
Một bộ phận công chức, viên chức chưa thật sự nêu cao tinh thần trách nhiệm;
không thường xuyên cập nhật thông tin, trao dồi kiến thức để tự bồi dưỡng bản thân,
nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện phẩm chất đạo đức nhằm đáp ứng yêu cầu
công việc ngày càng cao.
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
21
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
22
Hoàn thành các chương trình cải cách hành chính hiện đại hoá ngành thuế, đề
án 30CP của Chính phủ. Rà soát lại những thủ tục hành chính còn gây phiền hà
người nộp thuế, đề nghị sửa đổi, bãi bỏ, thay thế để đảm bảo đạt được mục tiêu
giảm tối thiểu 30% thủ tục hành chính thuế hiện hành.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN-
NQD ở Chi cục Thuế thành phố Long Xuyên đến năm 2015:
3.2.1. Quản lý tốt đối tƣợng nộp thuế:
Kết hợp chặt chẽ đăng ký kinh doanh với đăng ký thuế, đảm bảo đưa vào
quản lý tất cả các đối tượng mới phát sinh; theo dõi, giám sát sự biến động tăng
giảm ngưng nghĩ kinh doanh, đóng mã số thuế kịp thời các trường hợp chấm dứt
hoạt động, làm rõ doanh nghiệp bỏ trốn, chuyển địa bàn; kiểm tra đưa vào quản lý
thuế các trường hợp doanh nghiệp có hoạt động nhưng không đăng ký với cơ quan
thuế.
Tăng cường công tác quản lý đối tượng nộp thuế, phối hợp chặt chẽ với
UBND phường xã tiến hành tổng kiểm tra các cơ sở kinh doanh hiện có trên địa
bàn đưa vào quản lý thuế kịp thời; tổ chức tốt công tác kiểm tra thu thuế môn bài
hộ nhỏ.
Đối chiếu kết quả thống kê đối tượng nộp thuế lập bộ quản lý thuế với số
liệu đang quản lý cấp mã số thuế, với liệu thống kê đăng ký kinh doanh, thuyết
minh làm rõ số liệu còn chênh lệch, kiểm tra đưa vào quản lý thuế ngay các trường
hợp còn sót lọt.
Hướng dẫn, đôn đốc các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp tờ khai
thuế đầy đủ, kịp thời đúng theo quy định; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp
3.2.3. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, chống thất thu thuế:
Kết hợp chặt chẽ đăng ký kinh doanh với đăng ký thuế, đảm bảo đưa vào
quản lý tất cả các đối tượng mới phát sinh; theo dõi, giám sát sự biến động tăng
giảm ngưng nghĩ kinh doanh, đóng mã số thuế kịp thời các trường hợp chấm dứt
hoạt động, làm rõ doanh nghiệp bỏ trốn, chuyển địa bàn; kiểm tra đưa vào quản lý
thuế các trường hợp doanh nghiệp có hoạt động nhưng không đăng ký với cơ quan
thuế.
Tăng cường công tác quản lý đối tượng nộp thuế, phối hợp chặt chẽ với
UBND phường xã tiến hành tổng kiểm tra các cơ sở kinh doanh hiện có trên địa
bàn đưa vào quản lý thuế kịp thời; tổ chức tốt công tác kiểm tra thu thuế môn bài
hộ nhỏ.
Đối chiếu kết quả thống kê đối tượng nộp thuế lập bộ quản lý thuế với số
liệu đang quản lý cấp mã số thuế, với liệu thống kê đăng ký kinh doanh, thuyết
minh làm rõ số liệu còn chênh lệch, kiểm tra đưa vào quản lý thuế ngay các trường
hợp còn sót lọt.
Tiểu luận cuối khóa Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế CTN NQD
GVHD: TS. Trần Văn Hiển Học viên: Phạm Thị Diễm Thúy; lớp TCCT-HC B64
24
Hướng dẫn, đôn đốc các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp tờ khai
thuế đầy đủ, kịp thời đúng theo quy định; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp
không nộp tờ khai thuế hoặc nộp chậm tờ khai; phấn đấu có 100% tổ chức, cá nhân
kê khai nộp thuế đúng hạn; tổ chức tốt công tác đôn đốc thu nộp phấn đấu thu
90% số thuế phát sinh lập bộ hàng tháng vào ngân sách nhà nước.
Tổ chức tốt công tác kê khai thuế môn bài, kê khai thuế khoán hộ ổn định
ngay từ đầu năm, đảm bảo kết quả lập bộ thuế cân đối với nhiệm vụ thu.
Thực hiện tốt công tác nhập liệu theo dõi quản lý chặt chẽ số liệu thu nộp
điều chỉnh trên sổ bộ thuế.
Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, UBND phường xã tổ chức nhiều đợt
cao điểm thu nợ trong năm tập trung vào các địa bàn, đối tượng còn nợ thuế lớn.
Lập hồ sơ đủ điều kiện đề nghị xóa nợ tiền thuế, tiền phạt đúng theo quy
định đối với doanh nghiệp bị phá sản, cá nhân đã được pháp luật coi là đã chết, mất
tích, mất hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt.
3.2.5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý thuế:
Trang bị phương tiện và xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ để phục vụ tốt cho
công tác quản lý của ngành.
Có kế hoạch tập huấn, triển khai cho cán bộ, công chức của ngành, khai thác, sử
dụng tốt phần mềm ứng dụng quản lý như: phần mềm Quản lý kê khai, Quản lý ấn
chỉ, Quản lý thu nợ,… nhẳm nâng cao hiệu lực quản lý của ngành, giảm bớt thời
gian, đảm bảo 100% cán bộ sử dụng thành thạo máy tính, khai thác và sử dụng
thông tin trên mạng và các ứng dụng chuyên ngành.
3.2.6. Cải tiến, nâng cao hoạt động của cơ quan thuế thành phố Long
Xuyên:
Không ngừng kiện toàn nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy tổ chức, tổ
chức bố trí sắp xếp bộ máy phủ hợp với tình thực tế của đơn vị theo hướng gọn nhẹ,
nhưng đảm bảo thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ đúng theo quy định của
ngành
Thực hiện quản lý biên chế, lao động đảm bảo đúng theo chỉ tiêu được Cục
Thuế giao; làm tốt công tác đánh giá phân loại cán bộ, thực hiện tốt việc luân phiên,
luân chuyển cán bộ vào đúng vị trí, chức năng, sở trường công tác; chú trọng rà soát đi
đôi với xét quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ đúng theo quy định.
Tập trung tăng cường bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng, quy trình quản lý
thuế cho công chức theo các chức năng, lĩnh vực công tác; Thực hiện chủ trương
đẩy mạnh bồi dưỡng nghiệp vụ thuế cho các ngạch công chức chuyên ngành Thuế
theo Thông tư số 09/2010/TT-BNV ngày 11/9/2010 về việc ban hành tiêu chuẩn
nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành kế toán, thuế, hải quan, dự trữ của
Bộ Tài chính.