BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN ANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP TẠO SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI DÂN
VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP - NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Đồng NaiHà Nội,
2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN ANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP TẠO SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI DÂN VÙNG
ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP - NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS. PHẠM XUÂN HOÀN
Hà NôiĐồng Nai, 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào khác.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ 17
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1. MỤC TIÊU: 17
2.1.1. Mục tiêu tổng thể: 17
2.1.2. Mục tiêu cụ thể: 17
- PHÂN TÍCH XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN 17
- ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH VÀ SỰ PHỤ THUỘC CỦA HỌ VÀO TÀI NGUYÊN RỪNG ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP.
17
2.2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 17
2.2.1. Về nội dung 17
2.2.2. Về Thời gian : 17
2.2.3. Về đối tượng nghiên cứu: 17
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 18
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.4. 2. Phương pháp nghiên cứu 18
- Kế thừa các tài liệu hiện có 18
- Điều tra ngoại nghiệp: Các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)
được sử dụng để thu thập số liệu. Cụ thể: 19
Xử lý nội nghiệp 20
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI 22
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 22
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 22
3.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI 23
3.3 SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG 25
iv
CHƯƠNG 4 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1. PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN PHỤC VỤ SINH KẾ CỦA CỘNG ĐỒNG 27
4.1.1 Tài sản tự nhiên 27
4.1.2. Tài sản vật chất 35
NATIONAL PARK, LAM DONG PROVINCE - VIETNAM, MINISTRY OF
AGRICULTURE AND RURAL DEVELOPMENT - VIETNAM
CONSERVATION FUND X
v
PHỤ LỤC 1. BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN THÔN 12
17
17
PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH 18
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CDM Cơ chế phát triển sạch
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GDP Tổng thu nhập quốc dân
IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
vi
PES/PFES Chi trả dịch vụ môi trường/ Chi trả dịch vụ môi trường rừng
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
REDD Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng
UBND Ủy ban nhân dân
VQG Vườn quốc gia
DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG 4.1 ĐẤT CANH TÁC TRONG CÁC THÔN ĐIỀU TRA 28
BẢNG 4.2 NGUỒN NƯỚC SỬ DỤNG CHO SINH HOẠT 31
BẢNG 4.3. DIỆN TÍCH GIAO KHOÁN BẢO VỆ RỪNG Ở CÁC THÔN 32
BẢNG 4.4. NHÀ Ở CỦA CÁC HỘ Ở BA THÔN 36
BẢNG 4.5. TÀI SẢN SINH HOẠT 36
BẢNG 4.6. TÀI SẢN SẢN XUẤT 37
BẢNG 4.8 . HỆ THỐNG GIAO THÔNG 40
HÌNH 4.7 CHĂN THẢ GIA SÚC 56
HÌNH 4.8. NHẬN KHOÁN BẢO VỆ RỪNG 57
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng có hoàn cảnh giống đa số các cộng đồng sống gần rừng khác ở Việt Nam,
cộng đồng các dân tộc sống ở vùng đệm Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà (VQG
Bidoup-Núi Bà) có cuộc sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Họ vừa
là tác nhân, vừa là nạn nhân của sự xuống cấp cơ sở tài nguyên mà họ phụ thuộc,
nhất là ở khu vực đang có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang nền kinh
tế hàng hóa. Sự nghèo đói của họ không chỉ là do việc thiếu nguồn tài chính mà còn
do nhiều nguyên nhân khác như rào cản ngôn ngữ, thiếu thông tin – kỹ thuật, bệnh
tật, bùng nổ dân số. Ngoài ra, việc thiếu đất sản xuất và quyền sở hữu đất cũng là
nguyên nhân gây ra sự bấp bênh về sinh kế.
Việc tìm hiểu sinh kế của người dân dựa vào tài nguyên thiên nhiên là tiền đề
để thực hiện các nỗ lực quản lý tài nguyên bền vững. Chính phủ Việt Nam đã nhấn
mạnh các nỗ lực cải thiện sinh kế của người nghèo trên cơ sở duy trì các tiến trình
chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác (Đặng
Kim Sơn, 2001) [7]. Chính phủ đã ban hành một số chính sách về tài chính và tín
dụng; về khuyến khích đầu tư; về định canh định cư; về y tế giáo dục nhằm giúp đỡ,
hỗ trợ người dân địa phương có được những nguồn lực để tạo ra sinh kế bền vững
1
.
Theo Báo cáo sàng lọc xã hội VQG Bidoup-Núi Bà năm 2009, các xã nằm
trong vùng lõi và vùng đệm của VQG Bidoup-Núi Bà có 78,8 % dân số là đồng bào
dân tộc bản địa. Trong đó dân tộc K’ho chiếm ưu thế nhất với gần 74,3% tổng dân
số. Nguồn thu nhập chính của các hộ chủ yếu là từ nông nghiệp với cà phê và bắp
(ngô) là hai nguồn thu nhập chính, nhưng hầu hết các hộ có diện tích đất nông
nghiệp rất ít nên đã mở rộng đất canh tác trên diện tích đất lâm nghiệp. Cuộc sống
của các hộ phụ thuộc khá lớn vào tài nguyên thiên nhiên [26].
Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp, khả năng nói tiếng phổ thông kém, ít khi
Nghiên cứu sử dụng tài nguyên giữa người dân và chính quyền tại Papua
New Guinea cho thấy người dân sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên cùng với
tăng trưởng kinh tế kém trong hai thập niên qua mà nguyên nhân do hệ thống quản
lý kém, chính sách không phù hợp với thực tiễn nên đã tạo ra xung đột trong phát
triển tài nguyên ở nước này. Có rất nhiều xung đột giữa người dân và các công ty tư
nhân trong sở hữu đất đai dẫn đến biểu tình. Rõ ràng là nhà nước Papua New
Guinea có nhiểu điểm yếu trong quá trình thực thi pháp luật của mình trong việc
trung gian hòa giải các xung đột và phân chia công bằng (Glenn Banks, 2008) [18].
Qua nghiên cứu này cho thấy cần phải hiểu biết về bản chất các tranh chấp và quy
trình giải quyết tranh chấp trong xã hội. Khi người dân bị mất đất sản xuất dưới
nhiều hình thức khác nhau thì sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của họ và hình thức đền bù
chính là tạo ra sự cân bằng nhằm duy trì mối quan hệ giữa các cá nhân và các nhóm
lợi ích.
Theo kết quả nghiên cứu của Midori Yajima (2010) [21] tại Malawi là một
trong những nước nghèo nhất trên thế giới với mật độ dân số cao cho thấy phần lớn
dân số sống ở vùng nông thôn và bắp (ngô) là cây lương thực chính. Nghiên cứu
được tiến hành ở vùng Chilumba, huyện Karonga nằm ở phía Bắc Malawi là vùng
nông thôn có mức đói nghèo và tỉ lệ người lây nhiễm HIV cao. Sản lượng bắp phụ
4
thuộc vào nước trời và phân vô cơ do đó nạn thiếu lương thực xảy ra phổ biến ở
nước này. Từ thập niên 1970 của thế kỷ XX, cây khoai mì (sắn) trở thành cây
lương thực quan trọng vì chất lượng nguồn lao động giảm do bị AIDS. Sự lây
nhiễm HIV trở nên phổ biến làm ảnh hưởng đến kinh tế xã hội và là thách thức
chính đến an ninh lương thực ở một phần châu Phi bởi không có công lao động nên
người ta chuyển việc trồng bắp sang trồng cây khoai mì mặc dù khoai mì có nguồn
dinh dưỡng thấp hơn. Chính quyền sở tại đã tổ chức nhiều lớp học đồng ruộng
(Farmer Field Schools- FFS), quản lý dịch bệnh tổng hợp, phân tích và đánh giá hệ
thống nông nghiệp. Mặc dù có một số thành công trong biện pháp sinh học để
phòng trừ sâu bệnh hại như sử dụng thiên địch nhưng người dân vẫn không chọn nó
để làm giải pháp ưu tiên trong quản lý dịch bệnh hại. Đây cũng là lý do cần phải
Messer & Philip Townsley, 2003). Để giải quyết các mục tiêu đề ra thì đề tài tập
trung vào năm thứ “tài sản” như là phương tiện để tạo ra sinh kế như hình dưới đây:
Hình 1.1. Các nguồn tài sản tạo sinh kế (nguồn: Norman Messer & Philip
Townsley, 2003)
Sự phân chia thành năm loại tài sản cho sinh kế là một cách thức thuận tiện
để phân tích các tài sản cho sinh kế vì bao gồm tất cả các yếu tố tài sản khác nhau
6
góp phần ảnh hưởng đời sống của hộ gia đình. Đây cũng là cơ sở để đánh giá sự
phụ thuộc vào rừng nhằm tìm ra giải pháp phù hợp cho đề tài.
Theo Sổ tay thực địa trong Chương trình Phân tích Kinh tế-xã hội và giới
(SEAGA) của FAO thì có ba vấn đề cần quan tâm là:
Các liên kết trong các dạng thức kinh tế, môi trường, xã hội và định chế làm
thành bối cảnh phát triển và phải xác định được các cơ hội và các hạn chế
của sự phát triển đó.
Cơ sở để tìm hiểu các chiến lược sinh kế và phát triển các ưu tiên thông qua
tìm hiểu về giới, mức sống, dân tộc, đẳng cấp và những sự khác biệt về xã
hội khác trong các cộng đồng.
Sử dụng một số công cụ như công cụ đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và
đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) để hỗ trợ tiến trình có sự tham gia
nhằm tập trung phân tích tình hình hiện tại và lập kế hoạch cho sự phát triển
trong tương lai. Ngoài ra, các công cụ điều tra đánh giá như phân tích
SWOT, sơ đồ Venn, lát cắt, bảng phỏng vấn, lập bảng ma trận cũng là phần
không thể thiếu trong điều tra.
Điều này đặc biệt đúng đối với những người thiếu tiếp cận các tài nguyên
then chốt vì các yếu tố liên quan đến giới, dân tộc hay đẳng cấp của họ. Cách thức
duy nhất để đảm bảo tránh được các sai lầm, hay các tác động tiêu cực, là thông qua
một tiến trình có sự tham gia trong đó phụ nữ và nam giới nông thôn được tạo điều
kiện để làm sáng tỏ các nhu cầu và tài nguyên cũng như các hạn chế và cơ hội của
họ. Nhưng muốn cho các nỗ lực phát triển dài hạn nhằm mang lại lợi ích thực sự
trong tương lai thì các nhu cầu và ưu tiên của người dân địa phương cũng phải được
William D. Sunderline và Huỳnh Thu Ba (2005) cho rằng các nguyên nhân
chính của nạn phá rừng ở Việt Nam là do sức ép dân số đã làm gia tăng nhu cầu về
các sản phẩm rừng, đất nông nghiệp và do việc các Lâm trường Quốc doanh khai
thác gỗ từ các diện tích rừng lớn. Bốn yếu tố cơ bản gây ra nạn phá rừng của Việt
Nam: (1) việc một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư; (2) mở
8
rộng đất làm nông nghiệp; (3) khai thác gỗ, cả hợp pháp lẫn không hợp pháp; và (4)
thu hoạch các loại sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống. [14]
Phần lớn các vùng có tỉ lệ đói nghèo cao là những nơi có độ che phủ rừng
lớn tập trung vùng Tây Bắc và Tây Nguyên. Bên cạnh đó, giữa đói nghèo và rừng
có mối liên hệ mật thiết với nhau, phần lớn các vùng có rừng với tỉ lệ che phủ cao
thì nơi đó có nhiều người nghèo vì người dân tộc thiểu số ở các vùng cao của Việt
Nam đã và đang sống trong rừng và phụ thuộc vào rừng từ nhiều thế kỷ nay. Họ
nghèo do khó tiếp cận thị trường, cơ sở hạ tầng yếu kém, đất đai xấu mặc dù Việt
Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ để phát triển những vùng sâu vùng xa nhất của
đất nước. Người nghèo thường có khuynh hướng tập trung vào các vùng còn rừng
tự nhiên vì không có nhiều cơ hội sinh sống ở các vùng đồng bằng đông đúc.
Những người này không chỉ là những người dân tộc thiểu số mà còn có cả người
Kinh (Sunderlin and Thu-Ba-Huynh, 2005). [14]
Theo nghiên cứu của FAO, có một số phương thức giảm nghèo dựa vào tài
nguyên rừng là: chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp, khai thác gỗ, thu hái
lâm sản ngoài gỗ, việc làm từ các hoạt động lâm nghiệp và chi trả dịch vụ môi
trường (FAO, 2003). Tuy nhiên, có một số hoạt động giảm nghèo bền vững và tuân
theo pháp luật là thu nhập từ các hoạt động lâm nghiệp và chi trả dịch vụ môi
trường rừng. Nhà nước không khuyến khích việc chuyển đổi đất rừng thành đất
nông nghiệp cũng như các hoạt động khai thác gỗ& lâm sản ngoài gỗ của người
dân. Để giải quyết vấn đề giảm nghèo bền vững theo hướng thân thiện với môi
trường thì các giải pháp trong đề tài cần hướng đến việc hạn chế tình trạng vi phạm
lâm luật, tăng cường hỗ trợ cho cộng đồng tiếp cận với thị trường ,cải thiện cơ sở hạ
tầng và phát triển đồng bộ các dịch vụ chi trả môi trường rừng như đang thực hiện
vì thông qua tôn giáo, văn hóa và truyền thống, các cộng đồng bản địa đã tạo ra một
vành đai bảo vệ xung quanh rừng nhằm duy trì sự ổn định và thịnh vượng cho cộng
đồng [13]. Như vậy, việc thừa nhận và hiểu rõ giá trị của tài nguyên rừng có thể
giúp mang lại các cơ hội kiếm sống, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, sức khỏe và
nước sinh hoạt cho người nghèo. Nhìn chung, giá trị của tài nguyên rừng được đánh
10
giá thông qua các chức năng mà chúng cung cấp. Chức năng của môi trường nói
chung và tài nguyên rừng nói riêng được chia thành các nhóm sau: (1) chức năng
sản xuất; (2) chức năng tải; (3) chức năng điều hòa; và (4) chức năng văn hóa và
thông tin (Tran, 2005).
Trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của khả năng tiếp cận đến sự lựa chọn sinh kế
đối với các nông hộ ở miền núi phía Bắc Việt Nam” Alther và các cộng sự (2002)
kết luận: hệ thống giao thông thuận tiện cùng với việc tiếp cận thị trường dễ dàng
có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế nông hộ. Nông dân ở những nơi tiếp cận tốt sẽ có
nhiều khả năng tăng thu nhập hơn là ở những vùng hẻo lánh, và theo đó có chiều
hướng giàu hơn. Tuy nhiên, đường giao thông đem lại nhiều lợi ích cho người dân
nhưng cũng có cái giá của nó. Người dân có cảm giác là khi ở gần đường, sự tự chủ
của họ bị đe dọa vì chính quyền có thể giám sát họ chặt chẽ hơn. Họ có thể không
thấy việc ở gần đường có lợi ích gì nếu như họ cảm thấy lối sống và hệ thống sản
xuất truyền thống của mình đang bị đe dọa [1]. Như vậy, việc tiếp cận tốt đến chợ,
thông tin và các cơ quan nhà nước có thể là những lợi ích rất lớn cho nông dân,
nhưng cần phải làm cho họ tin tưởng vào chính sách.
Tuy nhiên, không phải tất cả các chương trình hay dự án liên quan đến sự
tham gia đều thành công, và lâm nghiệp xã hội nói chung hay lâm nghiệp cộng
đồng nói riêng không phải là một thứ thuốc bách bệnh (Bùi Việt Hải, 2007)
Trong nghiên cứu giao rừng tại Việt Nam, Nguyễn Quang Tân (2006) đã
nghiên cứu về phân phối lợi ích tài nguyên rừng. Qua nghiên cứu cho thấy người
dân sống gần rừng có 2 nguồn thu từ rừng là tiền giao khoán quản lý bảo vệ và từ
việc khai thác lâm sản. Đắc Lắc với lợi thế là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất Tây
Nguyên với khoảng 40 dân tộc sinh sống đã được chọn làm nơi thí điểm giao rừng
trên địa bàn cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% theo
chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm
2005 của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu cụ thể của chương trình này là:
- Về phát triển sản xuất: nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản xuất
mới cho đồng bào các dân tộc, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
12
nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững. Phấn đấu trên 70% số hộ đạt được mức
thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm vào năm 2010.
- Về phát triển cơ sở hạ tầng: các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hợp
quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất bảo đảm phục vụ có hiệu quả nâng cao đời
sống và phát triển sản xuất tăng thu nhập. Các chỉ tiêu cụ thể: phấn đấu trên 80% xã
có đường giao thông cho xe cơ giới (từ xe máy trở lên) từ trung tâm xã đến tất cả
thôn, bản; trên 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản
xuất cho trên 85% diện tích đất trồng lúa nước; 100% xã có đủ trường, lớp học kiên
cố, có lớp bán trú ở nơi cần thiết; 80% số thôn, bản có điện ở cụm dân cư; giải
quyết và đáp ứng yêu cầu cơ bản về nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% xã có trạm y tế
đúng tiêu chuẩn.
- Về nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó
khăn thì phấn đấu trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trên
80% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh dịch nguy
hiểm; tăng tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên trên 50%; trên 95% số học sinh tiểu
học, 75% học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường; trên 95% người dân có
nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn phí.
- Về phát triển nâng cao năng lực: trang bị, bổ sung những kiến thức về
chuyên môn nghiệp vụ, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao nhận thức pháp luật, nâng
cao kiến thức quản lý đầu tư và kỹ năng quản lý điều hành để hoàn thành nhiệm vụ
cho cán bộ, công chức cấp xã và trưởng thôn, bản. Nâng cao năng lực của cộng
đồng, tạo điều kiện cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc giám sát hoạt động về
đầu tư và các hoạt động khác trên địa bàn.
Trong Báo cáo phân tích điều tra đường cơ sở của chương trình 135 giai
thần của cộng đồng thông qua đài báo và Nhà văn hóa- bưu điện cấp xã (Phạm Thái
Hưng và cộng sự, 2008).
Theo Bảo Huy (2002), Quản lý dự án lâm nghiệp xã hội và quản lý tài
nguyên thiên nhiên bền vững là một yêu cầu quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển
bền vững, hướng đến quản lý phát triển tài nguyên thiên nhiên và sinh kế cho người
dân [4].
14
Vào tháng 1 năm 2007, WWF Việt Nam tiến hành phối hợp với cán bộ Hợp
phần Sinh kế bền vững cho các Khu bảo tồn biển (LMPA) thuộc Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, nhằm xây dựng một Kế hoạch Sinh kế Bền vững mà: 1)
mang tính hệ thống, đưa ra một hệ thống hướng dẫn sinh kế chung cho các KBTB
trong mạng lưới ; và 2) có khả năng thích nghi, thiết thực, và có thể áp dụng tại các
KBTB – tất cả những gì thể hiện đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, và quản lý của
từng địa phương. Thông qua việc tổng hợp các “bài học kinh nghiệm” quốc tế và tại
Việt Nam về nhiều loại hình dự án liên kết bảo tồn với phát triển sinh kế, và đánh
giá cụ thể tại các địa điểm KBTB Việt Nam, nhóm tác giả đã đưa ra các nhận xét về
kết quả thu thập được, kết luận và khuyến nghị. Quan trọng nhất, nhóm nghiên cứu
nhận thấy sinh kế và các kế hoạch KBTB cần phải nắm bắt rõ hơn sự năng động và
biến đổi của môi trường kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển, nơi mà người
nghèo thường thiếu kỹ năng, kiến thức, hiểu biết về kinh doanh, thời gian, sự tự tin,
mạng lưới mua bán v.v… để có thể tận dụng các cơ hội tăng trưởng kinh tế và đầu
tư kinh doanh. Chỉ khi nào nhận thức được rõ nét tính chất biến đổi này cũng những
hạn chế và khó khăn nó gây ra, lúc đấy “sinh kế thay thế” mới thực sự tạo ra sự
khích lệ để người dân ngừng các hoạt động sinh kế không bền vững của mình và
chuyển sang các hoạt động khác bền vững hơn.
Theo Rodolphe De Koninck (2000) trong “Lý thuyết và thực hành biên giới
phát triển với đóng góp của Việt Nam” đã trình bày một số ý tưởng chủ yếu và các
giải thích liên quan đến cơ sở, quy trình và hậu quả của phát triển biên giới và việc
mở rộng đất nông nghiệp liên quan đến địa chính trị, nhân văn và dân tộc học. Có
nhiều ảnh hưởng đến mở rộng đất nông nghiệp của người dân di cư ở cao nguyên
Xóa đói giảm nghèo, tìm kiếm sinh kế bền vững cho cộng đồng ở các khu
vực nghèo đói, nhất là ở vùng đệm các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia là vấn đề được
đặc biệt quan tâm không những ở Việt Nam mà ở trên toàn thế giới. Có thể thấy đã
có rất nhiều công trình, chương trình nghiên cứu về chủ đề này. Căn cứ trên kết quả
nghiên cứu, các công trình đã đưa ra những giải pháp rất thiết thực để góp phần xóa
đói giảm nghèo, tăng sinh kế cho các cộng đồng địa phương nhằm hướng tới mục
tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, có một thực tế là vấn đề đói nghèo và xung đột