Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ (Nghiên cứu trường hợp tại trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
   HUỲNH THỊ MAI HOA

CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HIỆN TƯỢNG QUAY CÓP
CỦA SINH VIÊN TRONG THI HỌC KỲ
(Nghiên cứu trường hợp tại trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa)

LUẬN VĂN THẠC SỸ Hà Nội, Năm 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài 9
2.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9
3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 10
3.1. Câu hỏi nghiên cứu 10
3.2. Giả thuyết nghiên cứu 10
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11
4.1. Khách thể nghiên cứu 11
4.2. Đối tượng nghiên cứu 11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 12
6. Phương pháp nghiên cứu 12
6.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng 12
6.2. Phương pháp nghiên cứu định tính 12
6.3. Phương pháp chọn mẫu 12
6.4. Phương pháp thống kê toán học 13
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 13
8. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn 13
8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận 13
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn 13
2

Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 14

3.4. Kết quả khảo sát 65
3.4.1. Nhân tố cán bộ coi thi 66
3.4.2. Nhân tố nội dung đề thi 67
3.4.3. Quan niệm về học tập cho hiện tại của sinh viên 68
3.4.4. Quan niệm về học tập cho tương lai của sinh viên 69
3.4.4. Kế hoạch thi 69
3.4.5. Khó khăn về nội dung đề thi 70
3.4.6. Kết quả điều tra về phương tiện sử dụng quay cóp 72
3.4.6. Kết quả điều tra về nhóm môn học thường quay cóp 73
3.4.7. Đánh giá chung về kết quả nghiên cứu thực tiễn 74
3.4.8. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 75
KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý GIẢI PHÁP 80
1. Kết luận của nghiên cứu 80
2. Hạn chế của nghiên cứu 81
3. Một số gợi ý giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng quay cóp 81
4. Hướng phát triển đề tài 83
Tài liệu tham khảo 85
PHỤ LỤC 89

4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Stt Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
1

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
2

BM Bộ môn

13

CĐKTXN Cao đẳng Kỹ thuật Xét nghiệm
14

CT-GDTC-QP Chính trị- Giáo dục thể chất-Quốc phòng
15

Khoa ĐĐ-KTYH Khoa điều dưỡng-Kỹ thuật y học
16

HVQC Hành vi quay cóp
17

Phòng ĐT-NCKH-HTQT Phòng Đào tạo-Nghiên cứu Khoa học-Hợp tác
Quốc tế
18

Phòng TC-HC-TH Phòng Tổ chức-Hành chính-Tổng hợp
19

Phòng CTCT-HSSV Phòng Công tác Chính trị-Học sinh sinh viên
20

Tổ KT-KĐCL GD Tổ Khảo thí - Kiểm định Chất lượng giáo dục
21

Trường CĐYT KH Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa
22


3.1 Thống kê số lượng sinh viên điều tra chính thức 54
3.2 Bảng ma trận nhân tố xoay lần 1 57
3.3 Bảng ma trận nhân tố xoay lần 2 59
3.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 61
3.5 Kết quả hồi qui của mô hình 62
3.6 Phân tích phương sai ANOVA 62
3.7 Các hệ số hồi qui trong mô hình 63
3.8 Kết quả kiểm định Pearson của phần dư chuẩn hoá và 7 nhân tố 66
3.9 Cán bộ coi thi 66
3.10 Sự phù hợp của nội dung đề thi 68
3.11 Thống kê kết quả khảo sát quan điểm về học tập cho hiện tại 68
3.12 Thống kê kết quả khảo sát quan điểm về học tập cho tương lai 69
3.13 Thống kê kết quả đánh giá về kế hoạch thi 70
3.14 Khó khăn trong nội dung đề thi 71
3.15 Các nguyên nhân dẫn đến hành vi quay cóp của sinh viên 72
3.16 Thống kê số lượng sinh viên thực hiện hành vi quay cóp 74
3.17 Kiểm định sự khác biệt giữa SV nam và SV nữ trong quay cóp 76
3.18 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm môn cơ bản và nhóm môn
chuyên ngành trong quay cóp
77
3.19 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm SV có học lực giỏi-khá và trung
bình-yếu
78
3.20 Kiểm định tương quan tuyến tính giữa hành vi quay cóp và quan
điểm cho điểm số là quan trọng nhất
79
6

DANH MỤC CÁC HÌNH


cao chất lượng giáo dục.
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu rất quan trọng trong công tác
đào tạo. Nếu công tác đánh giá không được phát triển đúng đắn, công bằng sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả học tập cũng như vốn kiến thức mà sinh viên được trang bị
trong quá trình học tập. Theo chúng tôi, một trong những lý do góp phần làm cho việc
đánh giá kết quả học tập hiện nay chưa chính xác là hiện tượng quay cóp hay nói cách
khác là hiện tượng gian lận trong thi cử của sinh viên.
Hiện tượng quay cóp hay hành vi gian lận trong thi cử đã và đang được rất nhiều
báo chí đề cập đến. Chẳng hạn như, trên trang web ngày 24 tháng
10 năm 2011 có bài “Một kỳ thi lạ: Thoải mái quay cóp, chép bài bạn” (theo báo Tuổi
trẻ), đã nêu lên hiện tượng quay cóp của sinh viên trong kỳ thi liên thông đại học. Sinh
viên thoải mái sử dụng tài liệu, chép bài của bạn, thậm chí tụm lại thành từng nhóm
trao đổi trong phòng thi. Hay bài viết tại ngày 7 tháng 7 năm 2006 có
tên “Gian lận thi cử thời hi-tech” (Theo VietNamNet). Bài viết này đề cập đến công
cụ dùng để quay cóp mà sinh viên sử dụng trong khi thi: điện thoại di động, máy MP3
hay máy ghi âm bài viết cũng đề cập đến vấn đề “Chống gian lận như thế nào?”.
Bài viết “Xã hội chưa chú trọng xây dựng lòng tự trọng cho học sinh” của tác
giả M.Hà trên trang web />dung-long-tu-trong-cho-hoc-sinh/10864941/478/ (02/06/2004) cho rằng nguyên nhân
chính của hiện tượng quay cóp trở nên phổ biến như hiện nay là giáo dục của chúng ta
chưa chú trọng đến việc xây dựng lòng tự trọng cho HSSV. Nếu hiện tượng quay cóp
8

của HSSV được xem là “bình thường” thì xã hội sẽ chưa có nhiều hi vọng vào thế hệ
mai sau.
Ở một khía cạnh khác của hiện tượng quay cóp cũng đã đề cập đến nhân cách
của sinh viên qua bài phỏng vấn của Hà Mỹ - Thu Thảo trên
(19/04/2011) có tên: “Gian lận trong thi cử: Ảnh hưởng hình thành nhân cách”.
Thầy Nguyễn Quốc Bình (Hiệu trưởng Trường THPT Việt Đức - Hà Nội) thì cho rằng
hiện tượng quay cóp là hình thức ăn cấp kiến thức, được HSSV thể hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau, và việc này cứ lập đi lập lại sẽ hình thành trong các em những

dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ (nghiên cứu trường hợp
tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa)” vừa cần thiết, vừa có ý nghĩa thiết thực
nhằm tìm ra các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp để giảm thiểu tối đa hiện tượng
quay cóp của SV hiện nay.
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học
kỳ để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu hiện tượng quay cóp của
sinh viên, từ đó nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu này nhằm:
Đánh giá được thực trạng về hiện tượng quay cóp của sinh viên tại trường Cao đẳng
Y Tế Khánh Hòa.
Xác định các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ.

1
Theo nguồn cung cấp của Phòng Đào tạo - NCKH - HTQT Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa

10

3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi chính:
Những nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ?
Câu hỏi phụ:
1. Trong số những nguyên nhân được chỉ ra, những nguyên nhân nào là chủ yếu?
2. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa hai nhóm sinh viên nam và nữ?
3. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm môn cơ bản và nhóm môn
chuyên ngành?
4. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa các nhóm sinh viên có học lực khác

ra giải thuyết GT
3
.
GT
3
: Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp đối với hai nhóm sinh viên
nam và nữ.
Căn cứ vào thực trạng trong thi học kỳ tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa về các
yếu tố tác động vào hiện tượng quay cóp cũng như là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
quay cóp. Trên cơ sở này nghiên cứu đưa ra giả thuyết 4, 5, 6:
GT
4
: Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm môn cơ bản
với nhóm môn chuyên ngành và giữa các nhóm sinh viên có học lực giỏi và khá với
nhóm trung bình và yếu.
GT
5
:
Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm sinh viên có
học lực giỏi và khá với nhóm trung bình và yếu.
GT
6
: Hiện tượng quay cóp chủ yếu gắn với số HSSV xem điểm số là kết quả quan
trọng nhất trong học tập.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên hệ cao đẳng và giảng viên, cán bộ tham gia các đợt thi học kỳ tại
Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên hệ cao đẳng trong

Phương pháp chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
theo tỷ lệ.
6.4 . Phương pháp thống kê toán học
Trong nghiên cứu, chúng tôi thực hiện việc xử lý và phân tích các kết quả nghiên
cứu bằng phần mềm SPSS, Excel 2007.
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào sinh viên hệ cao đẳng chính qui thuộc khoá
học 2011-2012 gồm năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba hiện đang học tập tại
trường Cao đẳng Y tế Khánh Hoà.
8. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Đề tài thành công sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ các nguyên nhân dẫn đến
hành vi quay cóp của HSSV, đồng thời cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về
lĩnh vực này.
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần, làm sáng tỏ thực trạng hiện tượng quay cóp của
SV tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa. Từ việc xác định được nguyên nhân dẫn
đến hiện tượng quay cóp của SV, chúng tôi gợi ý đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế
hiện tượng quay cóp của SV tại Trường, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại
Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.

14

Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới

cho kỳ thi cũng như là thời gian tham gia các hoạt động ngoại khóa của sinh viên nhiều.
Nghiên cứu của Genereux và McLeod (1995) thì có đến 85% nam giới và 79%
nữ giới tại một trường cao đẳng cộng đồng thừa nhận rằng có ít nhất một lần thực hiện
hành vi quay cóp; hơn 25% sinh viên thực hiện nhiều hơn một lần như: chia sẻ các câu
hỏi thi, danh sách tài liệu tham khảo, cho phép người khác sao chép bài,
Trong khi đó, Diekhoff, LaBeff, Clark, Williams, Francis, Haines, (1996) [33]
lại cho rằng: không có mối tương quan giữa giới tính và hành vi quay cóp.
Pincus và Schmelkin (2003) [39] cho rằng, có nhiều hình thức quay cóp, nhưng
một trong những hình thức đơn giản nhất là sao chép bài của người khác và lấy điểm
cho mình.
Tác giả Crown, Spiller (1998) [31] và McCabe, Trevino (1993) [37] lại cho
rằng ngoài yếu tố cá nhân còn có thêm một yếu tố nữa đó là yếu tố của môi trường học
tập chẳng hạn như văn hóa giáo dục tại trường học, danh hiệu của trường,
Whitley (1998) [41], khi đánh giá hơn 40 nghiên cứu về hành vi quay cóp của
sinh viên thấy rằng 70% sinh viên đại học có hành vi quay cóp. Trong số những sinh
viên này, có 43% quay cóp trong các kỳ thi, 41% sao chép của người khác, và thêm
41% sao chép bài tập về nhà.
Báo cáo của Schab (1969, 1979, 1989) cho rằng hành vi quay cóp đang ngày
càng gia tăng. Cụ thể, hành vi quay cóp của sinh viên vào năm 1969 là 33%, 60% vào
năm 1979 và 67% vào năm 1989. Điều này cho thấy, hành vi quay cóp của sinh viên
không hề suy giảm theo thời gian.
16

Theo kết quả khảo sát của một số trường đại học ở Mỹ thì thấp nhất là 15-20%,
nhiều nhất là 81% sinh viên thừa nhận có quay cóp trong khi thi (Maramark and
Maline, 1993).
Haines et al. (1996) đã tìm thấy mối quan hệ giữa năm học và hiện tượng quay
cóp, Nowell và Laufer (1997) báo cáo rằng các sinh viên năm thứ ba và thứ tư có
nhiều khả năng quay cóp hơn so với sinh viên năm đầu và năm thứ hai.
David A.Rettinger (Đại học Yeshiva) và Augus E. Jordan (Trường Cao đẳng

rằng nguồn gốc của hành vi quay cóp là do thông tin có sẵn trên Internet, tài liệu tham
khảo ở thư viện của các trường và áp lực để thành công quá lớn. Nghiên cứu của tác
giả Saeeda, Batllo, Anam Abbas, Zahra Naremi (2011) thì nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng này phần lớn là do thiếu sự chuẩn bị trong thi cử và thời gian hoạt động ngoại
khóa của HSSV quá nhiều, ngoài ra nghiên cứu còn cho biết nam giới quay cóp nhiều
hơn nữ giới. Bên cạnh việc đi tìm nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp thì Waller
(2002) đi tìm hiểu về công cụ mà SV sử dụng để thực hiện hành vi quay cóp của mình,
đó chính là điện thoại di động hỗ trợ nhiều chức năng như văn bản, chụp hình, email,
một số tác giả như Kerkvliet (1994), Saeeda Batool, Anam Abbas (2011), Lama M. Al-
Qaisy (2008) đều có chung một kết luận có sự khác biệt về giới tính trong hành vi quay
cóp (nam giới có hành vi quay cóp nhiều hơn nữ giới). Trong khi đó, Diekhoff, LaBeff,
Clark, Williams, Francis, Haines (1996) lại cho rằng không có mối tương quan giữa
giới tính và hành vi quay cóp.
1.1.2. Một số kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu “Một số chỉ báo về vấn đề học tập của sinh viên hiện nay” của tác
giả Đặng Vũ Cảnh Linh, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông (2008) [11] cho
rằng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên là do bài vở nhiều, quan
niệm học và thi là khác nhau, không có thời gian học bài. Bên cạnh đó, một số sinh
viên cho rằng quay cóp để được điểm cao, vì không bị xử lý, vì không làm ảnh hưởng
18

đến ai và không phải việc xấu. Tác giả cho rằng hiện tượng quay cóp có quan hệ tỷ lệ
thuận với sự lỏng lẽo về tính kỷ luật trong môi trường giáo dục. Ngoài ra, tác giả cũng
kết luận là có sự khác biệt biểu hiện về giới tính, đó là nhóm sinh viên nữ có tỷ lệ ít
quay cóp hơn so với nhóm sinh viên nam.
Một nghiên cứu khác đáng quan tâm là nghiên cứu về “Thực trạng biểu hiện
hành vi lệch chuẩn của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội”, thực hiện năm
2003-2005, chủ nhiệm đề tài là tác giả Hoàng Gia Trang [18]. Nhóm tác giả đi sâu vào
nghiên cứu thực trạng biểu hiện hành vi lệch chuẩn của học sinh trên bốn trường THCS
trên địa bàn Hà Nội bao gồm: trường THCS Quang Trung, trường THCS Huy Văn,

là những lý do mà khiến cho hiện tượng gian lận trong thi cử ngày càng gia tăng. Tác
giả cho rằng, chúng ta nên tuyên truyền, giáo dục ý thức học tập đúng đắn cho người
học, nâng cao ý thức trách nhiệm của người thầy, tuyên truyền, vận động sự tham gia
của toàn xã hội; ngoài ra chúng ta cũng cần hoàn thiện việc phân công, phân cấp quản
lý giáo dục, xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý đào tạo, ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục và nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra và giám
sát nhân dân đồng thời cải tiến chế độ tiền lương, phụ cấp ngành giáo dục, đổi mới
công tác thi đua khen thưởng. Cần phối hợp các tổ chức đoàn thể phát động phong trào
hưởng ứng cuộc vận động lớn của toàn ngành “Nói không với tiêu cực trong thi cử và
bệnh thành tích trong giáo dục”; hưởng ứng cuộc vận động lớn của toàn ngành “Nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, bên cạnh đó các
trường cần tăng cường tự thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy và học, việc tổ chức thi và
chấm thi. [21]
Qua các nội dung trình bày trên cho thấy nghiên cứu về biểu hiện hành vi lệch
chuẩn của nhóm tác giả Hoàng Gia Trang (2003-2005) cho rằng học sinh có hành vi
lệch chuẩn (không tuân thủ theo nội quy, quy định của nhà trường) một phần là học
20

sinh phải học quá nhiều, áp lực về điểm số cao. Nghiên cứu của Đặng Nguyễn Cảnh
Linh cho rằng hành vi quay cóp tỷ lệ thuận với sự lỏng lẽo về công tác tổ chức thi của
nhà trường. Nghiên cứu về khảo sát, đánh giá thực trạng tiêu cực trong thi cử, làm luận
văn thuộc hệ thống giáo dục quốc dân: nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục của
Phạm Ngọc Trúc thì cho rằng nguyên nhân dẫn đến hành vi gian lận trong thi cử là do
ý thức của người học, do thái độ của người dạy và do sự buông lỏng quản lý của các
trường, ngoài ra còn có các nguyên nhân khách quan như ảnh hưởng của cơ chế thị
trường; ảnh hưởng của bệnh thành tích; do sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật cao;
do áp lực cạnh tranh; do chưa thực hiện nghiêm các quy định về quản lý giáo dục; do
công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu. Ngoài ra tác giả còn cho rằng hành vi gian lận phổ
biến xảy ra khi thi các môn cơ bản, và theo đặc điểm ngành nghề. Khối ngành kinh tế,

hành động ấy, hoạt động ấy là sự tặng thưởng cho mình, là niềm tin và mong đợi của mình.
Động cơ học tập của SV dưới góc độ của tâm lý học họat động và động cơ học
tập được phân thành hai loại: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội.
Với hướng nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ quan tâm đến động cơ quan hệ xã hội,
nghĩa là SV học bởi sự lôi cuốn hấp dẫn của các yếu tố khác như: đáp ứng mong đợi
của cha mẹ, cần có bằng cấp vì lợi ích tương lai, lòng hiếu danh hay sự khâm phục của
bạn bè, …
Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở mức độ nào đó
mang tính cưỡng bức, có những lực chống đối nhau chẳng hạn như kết quả học tập
không đáp ứng mong muốn của gia đình. Và vì thế nó dẫn đến sự căng thẳng tâm lý,
đòi hỏi phải đấu tranh với chính bản thân, hoặc cũng có thể do giám thị coi thi dễ dãi,
đề thi thiên về học thuộc quá lớn, phòng thi quá nhỏ mà số lượng thi thì quá đông,
mà điều này dễ dẫn đến SV vi phạm quy chế thi, lơ là trong việc học Động cơ học tập
không có sẵn hay tự phát, mà được hình thành dần dần trong quá trình học tập của học
sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.
22

Ở đây rõ ràng động cơ luôn gắn liền với nhu cầu của bản thân. Hành vi quay cóp
của người học xuất phát từ việc thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người học. Để có điểm
số cao trong học tập, cũng như là có bằng cấp tốt khi tốt nghiệp thì nhiều SV đã phải tự
nổ lực rất nhiều trong quá trình học tập, trong khi đó một số SV lười biếng không chịu
học nhưng vẫn muốn mình có điểm số cao và bằng cấp tốt sau khi tốt nghiệp. Ở đây
cho thấy hai nhóm SV cùng đi thực hiện một mục đích để thỏa mãn nhu cầu của bản
thân, nhưng hành vi thực hiện của hai nhóm là khác nhau.
1.2.2. Thuyết Hành vi
Thuyết hành vi cho rằng học tập là một quá trình đơn giản mà trong đó những
mối liên hệ phức tạp sẽ được làm cho dễ hiểu và rõ ràng thông qua các bước học tập
nhỏ được sắp xếp một cách hợp lý. Thông qua những kích thích (về nội dung, phương
pháp), học sinh có những phản ứng tạo ra những hành vi học tập và qua đó thay đổi
hành vi của mình.

(động cơ). Các yếu tố kích thích dẫn đến hành vi quay cóp của SV có thể là do cán bộ
coi quá dễ, phòng thi nhỏ nhưng số lượng thí sinh đông, thời gian chuẩn bị cho môn thi
ít, nội dung câu hỏi thi thiên về học thuộc quá nhiều, hay môn học không phải là môn
chuyên ngành, hoặc có thể do học lực của SV, cũng có thể do yếu tố gia đình tạo áp lực
quá lớn cho các em,
Hành vi quay cóp xuất phát từ sự sai lệch hành vi xã hội. Sự sai lệch này có thể
do nhiều nguyên nhân. Có thể do nhận thức sai hoặc không đầy đủ về quan niệm học
tập, nên đã dẫn đến việc vi phạm. Cũng có thể cá nhân không tự kiềm chế được bản
thân, đồng thời do khâu tổ chức thi chưa tuân thủ các quy định một cách chặt chẽ và
hình thức xử phạt SV vi phạm qui chế thi còn nhẹ, do đó SV có điều kiện để vi phạm.
Do vậy, để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của SV trong thi
học kỳ, đề tài sẽ sử dụng mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình học tập của thuyết hành vi.

Trích đoạn THƠNG TIN VỀ BẢN THÂN Quan niệm về học tập cho hiện tại của sinh viên Đánh giá chung về kết quả nghiên cứu thực tiễn Kết luận của nghiên cứu Hướng phát triển đề tài
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status