các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ - Pdf 22

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
   HUỲNH THỊ MAI HOA

CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HIỆN TƯỢNG QUAY CÓP
CỦA SINH VIÊN TRONG THI HỌC KỲ
(Nghiên cứu trường hợp tại trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa)

LUẬN VĂN THẠC SỸ Hà Nội, Năm 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI



Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn TS. Lê Văn Hảo đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Viện Đảm bảo Chất lượng Giáo
dục - ĐHQG Hà Nội, Ban Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng
Đào tạo ĐHQG Tp.HCM đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành khoá học và
trình bày luận văn này.
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các giảng viên đã tham gia giảng dạy khoá
học vì đã cung cấp, chia sẽ những kiến thức quý báu về Đo lường và Đánh giá trong
Giáo dục cho tôi cũng như các học viên khác.
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy (Cô), các anh chị đồng nghiệp và các bạn
sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hoà đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập
dữ liệu và đóng góp ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề: “Các nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ (nghiên cứu trường hợp tại trường
Cao đẳng Y tế Khánh Hoà)” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân
tôi và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào của người
khác. Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc
đạo đức nghiên cứu, các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu,
khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn
đều được trích dẫn tường minh theo đúng quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội
dung khác trong luận văn của mình

2.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9
3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 10
3.1. Câu hỏi nghiên cứu 10
3.2. Giả thuyết nghiên cứu 10
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11
4.1. Khách thể nghiên cứu 11
4.2. Đối tượng nghiên cứu 11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 12
6. Phương pháp nghiên cứu 12
6.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng 12
6.2. Phương pháp nghiên cứu định tính 12
6.3. Phương pháp chọn mẫu 12
6.4. Phương pháp thống kê toán học 13
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 13
8. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn 13
8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận 13
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn 13
2

Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.2. Các phương pháp tiếp cận chính 21
1.3. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 24
1.4. Một số cơ sở pháp lý liên quan đến nội dung nghiên cứu 30
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Nội dung nghiên cứu của đề tài 33
2.2. Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Bối cảnh nghiên cứu và thực trạng 33
a. Bối cảnh 33
a.1. Sơ lược lịch sử ra đời của Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa 33

3.4.8. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 75
KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý GIẢI PHÁP 80
1. Kết luận của nghiên cứu 80
2. Hạn chế của nghiên cứu 81
3. Một số gợi ý giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng quay cóp 81
4. Hướng phát triển đề tài 83
Tài liệu tham khảo 85
PHỤ LỤC 89

4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Stt Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
1

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
2

BM Bộ môn
3

BHG Ban Giám hiệu
4

BM ĐĐ Nhi Bộ môn điều dưỡng Nhi
5

BM ĐĐ Nội Bộ môn điều dưỡng Nội
6


HVQC Hành vi quay cóp
17

Phòng ĐT-NCKH-HTQT Phòng Đào tạo-Nghiên cứu Khoa học-Hợp tác
Quốc tế
18

Phòng TC-HC-TH Phòng Tổ chức-Hành chính-Tổng hợp
19

Phòng CTCT-HSSV Phòng Công tác Chính trị-Học sinh sinh viên
20

Tổ KT-KĐCL GD Tổ Khảo thí - Kiểm định Chất lượng giáo dục
21

Trường CĐYT KH Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa
22

Trường THCS Trường Trung học Cơ sở
23

SV sinh viên
24

HSSV Học sinh sinh viên
25

HS Học sinh

3.11 Thống kê kết quả khảo sát quan điểm về học tập cho hiện tại 68
3.12 Thống kê kết quả khảo sát quan điểm về học tập cho tương lai 69
3.13 Thống kê kết quả đánh giá về kế hoạch thi 70
3.14 Khó khăn trong nội dung đề thi 71
3.15 Các nguyên nhân dẫn đến hành vi quay cóp của sinh viên 72
3.16 Thống kê số lượng sinh viên thực hiện hành vi quay cóp 74
3.17 Kiểm định sự khác biệt giữa SV nam và SV nữ trong quay cóp 76
3.18 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm môn cơ bản và nhóm môn
chuyên ngành trong quay cóp
77
3.19 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm SV có học lực giỏi-khá và trung
bình-yếu
78
3.20 Kiểm định tương quan tuyến tính giữa hành vi quay cóp và quan
điểm cho điểm số là quan trọng nhất
79
6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình

Tên hình Trang
1.1 Mô hình nghiên cứu 24
2.1 Thống kê số lượng SV vi phạm quy chế thi 42
2.2 Thống kê mức vi phạm quy chế thi (2009-2012) 44
2.3 Quy trình nghiên cứu 48
3.1
Biểu đồ phân tán phần dư và giá trị dự đoán của mô hình hồi qui
tuyến tính

trẻ), đã nêu lên hiện tượng quay cóp của sinh viên trong kỳ thi liên thông đại học. Sinh
viên thoải mái sử dụng tài liệu, chép bài của bạn, thậm chí tụm lại thành từng nhóm
trao đổi trong phòng thi. Hay bài viết tại ngày 7 tháng 7 năm 2006 có
tên “Gian lận thi cử thời hi-tech” (Theo VietNamNet). Bài viết này đề cập đến công
cụ dùng để quay cóp mà sinh viên sử dụng trong khi thi: điện thoại di động, máy MP3
hay máy ghi âm bài viết cũng đề cập đến vấn đề “Chống gian lận như thế nào?”.
Bài viết “Xã hội chưa chú trọng xây dựng lòng tự trọng cho học sinh” của tác
giả M.Hà trên trang web />dung-long-tu-trong-cho-hoc-sinh/10864941/478/ (02/06/2004) cho rằng nguyên nhân
chính của hiện tượng quay cóp trở nên phổ biến như hiện nay là giáo dục của chúng ta
chưa chú trọng đến việc xây dựng lòng tự trọng cho HSSV. Nếu hiện tượng quay cóp
8

của HSSV được xem là “bình thường” thì xã hội sẽ chưa có nhiều hi vọng vào thế hệ
mai sau.
Ở một khía cạnh khác của hiện tượng quay cóp cũng đã đề cập đến nhân cách
của sinh viên qua bài phỏng vấn của Hà Mỹ - Thu Thảo trên
(19/04/2011) có tên: “Gian lận trong thi cử: Ảnh hưởng hình thành nhân cách”.
Thầy Nguyễn Quốc Bình (Hiệu trưởng Trường THPT Việt Đức - Hà Nội) thì cho rằng
hiện tượng quay cóp là hình thức ăn cấp kiến thức, được HSSV thể hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau, và việc này cứ lập đi lập lại sẽ hình thành trong các em những
mánh khóe. Theo Thầy có lẽ HSSV chưa thấy hết giá trị của việc học, các em học để
đối phó, học để được cái gì đó chứ không phải là tìm kiếm kiến thức cho bản thân
Còn theo cô giáo Ứng Bình Loan (giảng viên Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội) nhận
định “Thực chất là các em không tự nhận thức được mục đích quan trọng nhất của việc
học là lấy kiến thức cho mình. Nhiều em có lối học hình thức, đối phó với thầy cô,
muốn được điểm cao nhưng lười học, còn thiếu lòng tự trọng với thầy cô và chính bản
thân mình”.
Tình trạng quay cóp của SV Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa cũng đang là một
trong những vấn đề mà Nhà trường rất quan tâm. Mặc dù nội dung đề thi bám sát nội
dung chương trình học, thế nhưng hiện tượng quay cóp của SV trong thi học kỳ vẫn

Nghiên cứu này nhằm:
Đánh giá được thực trạng về hiện tượng quay cóp của sinh viên tại trường Cao đẳng
Y Tế Khánh Hòa.
Xác định các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ.

1
Theo nguồn cung cấp của Phòng Đào tạo - NCKH - HTQT Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa

10

3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi chính:
Những nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ?
Câu hỏi phụ:
1. Trong số những nguyên nhân được chỉ ra, những nguyên nhân nào là chủ yếu?
2. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa hai nhóm sinh viên nam và nữ?
3. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm môn cơ bản và nhóm môn
chuyên ngành?
4. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa các nhóm sinh viên có học lực khác
nhau (Giỏi-Khá, Trung bình-Yếu).
3.2. Giả thuyết nghiên cứu
Để có thể đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài tập trung hướng đến nhằm
kiểm chứng các giả thuyết sau:
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các tác giả McCabe Trevino (1993) và Crown,
Spiller (1998) cho rằng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên là
ngoài yếu tố cá nhân còn có thêm yếu tố môi trường giáo dục. Dựa vào cơ sở này,
nghiên cứu đưa ra giải thuyết sau:
GT
1

GT
4
: Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm môn cơ bản
với nhóm môn chuyên ngành và giữa các nhóm sinh viên có học lực giỏi và khá với
nhóm trung bình và yếu.
GT
5
:
Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm sinh viên có
học lực giỏi và khá với nhóm trung bình và yếu.
GT
6
: Hiện tượng quay cóp chủ yếu gắn với số HSSV xem điểm số là kết quả quan
trọng nhất trong học tập.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên hệ cao đẳng và giảng viên, cán bộ tham gia các đợt thi học kỳ tại
Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên hệ cao đẳng trong
các đợt thi học kỳ tại Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa.
12

5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tổng quan về hiện tượng quay cóp của sinh viên ở các trường đại học,
cao đẳng trên thế giới.
Tìm hiểu thực trạng quay cóp tại trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.
Khảo sát và tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh
viên trong thi học kỳ tại trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.
Gợi ý một số giải pháp nhằm giải thiểu hiện tượng quay cóp.

8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Đề tài thành công sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ các nguyên nhân dẫn đến
hành vi quay cóp của HSSV, đồng thời cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về
lĩnh vực này.
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần, làm sáng tỏ thực trạng hiện tượng quay cóp của
SV tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa. Từ việc xác định được nguyên nhân dẫn
đến hiện tượng quay cóp của SV, chúng tôi gợi ý đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế
hiện tượng quay cóp của SV tại Trường, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại
Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.

14

Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo như chương trình đào tạo, đội ngũ
giảng viên, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, các phương pháp dạy học, và một
trong những yếu tố cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục là hiện tượng quay cóp
của SV trong thi cử, nó có ảnh hưởng không nhỏ đến việc đánh giá kết quả học tập của
SV cũng như là chất lượng đào tạo của mỗi trường.
Trong những năm qua, vấn đề gian lận trong thi cử luôn là đề tài được công luận
báo chí quan tâm và đề cập nhiều. Quay cóp đã trở nên khá phổ biến trong sinh viên ở
các trường đại học, cao đẳng trong cũng như là ngoài nước. Vậy nguyên nhân của
hiện tượng này bắt nguồn từ đâu?. Và do đâu mà hiện tượng này lại trở nên khá phổ
biến trong giới SV ngày nay?.

Tác giả Crown, Spiller (1998) [31] và McCabe, Trevino (1993) [37] lại cho
rằng ngoài yếu tố cá nhân còn có thêm một yếu tố nữa đó là yếu tố của môi trường học
tập chẳng hạn như văn hóa giáo dục tại trường học, danh hiệu của trường,
Whitley (1998) [41], khi đánh giá hơn 40 nghiên cứu về hành vi quay cóp của
sinh viên thấy rằng 70% sinh viên đại học có hành vi quay cóp. Trong số những sinh
viên này, có 43% quay cóp trong các kỳ thi, 41% sao chép của người khác, và thêm
41% sao chép bài tập về nhà.
Báo cáo của Schab (1969, 1979, 1989) cho rằng hành vi quay cóp đang ngày
càng gia tăng. Cụ thể, hành vi quay cóp của sinh viên vào năm 1969 là 33%, 60% vào
năm 1979 và 67% vào năm 1989. Điều này cho thấy, hành vi quay cóp của sinh viên
không hề suy giảm theo thời gian.
16

Theo kết quả khảo sát của một số trường đại học ở Mỹ thì thấp nhất là 15-20%,
nhiều nhất là 81% sinh viên thừa nhận có quay cóp trong khi thi (Maramark and
Maline, 1993).
Haines et al. (1996) đã tìm thấy mối quan hệ giữa năm học và hiện tượng quay
cóp, Nowell và Laufer (1997) báo cáo rằng các sinh viên năm thứ ba và thứ tư có
nhiều khả năng quay cóp hơn so với sinh viên năm đầu và năm thứ hai.
David A.Rettinger (Đại học Yeshiva) và Augus E. Jordan (Trường Cao đẳng
Middllebury) thuộc khoa Tâm lý nghiên cứu về mối liên hệ giữa hiện tượng quay cóp,
tôn giáo, động lực và thái độ đối với hiện tượng này. Nghiên cứu trong lớp học về tôn
giáo thì cho rằng hiện tượng quay cóp của sinh viên hầu như rất ít xảy ra.
Bài viết của các tác giả Matthew Fawkner & Greta Keremidchieva [36] thảo luận
về hiện tượng quay cóp, thiếu trung thực học tập và nguồn gốc của hành vi sai trái này.
Hầu như các thông tin cần tìm kiếm đều có thể tìm thấy trên Internet, chính vì thế mà
việc sao chép thông tin một cách tràn lan là điều khó có thể cưỡng lại được. Có thể coi
đây là sự cám đỗ dẫn đến hành vi sao chép tài liệu. Bên cạnh đó, áp lực để thành công
cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thiếu trung thực của sinh
viên. Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến vấn đề sinh viên lạm dụng công nghệ hiện

cóp (nam giới có hành vi quay cóp nhiều hơn nữ giới). Trong khi đó, Diekhoff, LaBeff,
Clark, Williams, Francis, Haines (1996) lại cho rằng không có mối tương quan giữa
giới tính và hành vi quay cóp.
1.1.2. Một số kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu “Một số chỉ báo về vấn đề học tập của sinh viên hiện nay” của tác
giả Đặng Vũ Cảnh Linh, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông (2008) [11] cho
rằng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên là do bài vở nhiều, quan
niệm học và thi là khác nhau, không có thời gian học bài. Bên cạnh đó, một số sinh
viên cho rằng quay cóp để được điểm cao, vì không bị xử lý, vì không làm ảnh hưởng
18

đến ai và không phải việc xấu. Tác giả cho rằng hiện tượng quay cóp có quan hệ tỷ lệ
thuận với sự lỏng lẽo về tính kỷ luật trong môi trường giáo dục. Ngoài ra, tác giả cũng
kết luận là có sự khác biệt biểu hiện về giới tính, đó là nhóm sinh viên nữ có tỷ lệ ít
quay cóp hơn so với nhóm sinh viên nam.
Một nghiên cứu khác đáng quan tâm là nghiên cứu về “Thực trạng biểu hiện
hành vi lệch chuẩn của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội”, thực hiện năm
2003-2005, chủ nhiệm đề tài là tác giả Hoàng Gia Trang [18]. Nhóm tác giả đi sâu vào
nghiên cứu thực trạng biểu hiện hành vi lệch chuẩn của học sinh trên bốn trường THCS
trên địa bàn Hà Nội bao gồm: trường THCS Quang Trung, trường THCS Huy Văn,
trường THCS Xuân Đỉnh và trường THCS Cổ Nhuế. Từ kết quả nghiên cứu của nhóm
tác giả đã đưa ra kết luận: Hành vi lệch chuẩn của học sinh THCS là kết quả tác động
của rất nhiều yếu tố khác nhau. Do học sinh phải học căng thẳng, phải chịu áp lực lớn
về điểm số và kết quả học tập từ phía gia đình, nhà trường. Điều này dẫn đến các em có
phản ứng tiêu cực, xuất hiện hành vi lệch chuẩn, vi phạm nội quy, kỷ luật của nhà
trường Tác giả cho rằng: về phía gia đình chúng ta không nên gây áp lực hay gây
căng thẳng cho các em về điểm số cũng như là kết quả học tập; về phía nhà trường phải
đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú, đồng thời giảm áp lực học
tập cho học sinh
Nghiên cứu “Khảo sát, đánh giá thực trạng tiêu cực trong thi cử, làm luận văn

bệnh thành tích trong giáo dục”; hưởng ứng cuộc vận động lớn của toàn ngành “Nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, bên cạnh đó các
trường cần tăng cường tự thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy và học, việc tổ chức thi và
chấm thi. [21]
Qua các nội dung trình bày trên cho thấy nghiên cứu về biểu hiện hành vi lệch
chuẩn của nhóm tác giả Hoàng Gia Trang (2003-2005) cho rằng học sinh có hành vi
lệch chuẩn (không tuân thủ theo nội quy, quy định của nhà trường) một phần là học
20

sinh phải học quá nhiều, áp lực về điểm số cao. Nghiên cứu của Đặng Nguyễn Cảnh
Linh cho rằng hành vi quay cóp tỷ lệ thuận với sự lỏng lẽo về công tác tổ chức thi của
nhà trường. Nghiên cứu về khảo sát, đánh giá thực trạng tiêu cực trong thi cử, làm luận
văn thuộc hệ thống giáo dục quốc dân: nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục của
Phạm Ngọc Trúc thì cho rằng nguyên nhân dẫn đến hành vi gian lận trong thi cử là do
ý thức của người học, do thái độ của người dạy và do sự buông lỏng quản lý của các
trường, ngoài ra còn có các nguyên nhân khách quan như ảnh hưởng của cơ chế thị
trường; ảnh hưởng của bệnh thành tích; do sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật cao;
do áp lực cạnh tranh; do chưa thực hiện nghiêm các quy định về quản lý giáo dục; do
công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu. Ngoài ra tác giả còn cho rằng hành vi gian lận phổ
biến xảy ra khi thi các môn cơ bản, và theo đặc điểm ngành nghề. Khối ngành kinh tế,
xã hội và nhân văn có biểu hiện gian lận trong thi cử nhiều hơn khối ngành kỹ thuật.
1.1.3. Nhận định chung về các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua các phần đã trình bày ở trên cho thấy các nghiên cứu về hiện tượng quay
cóp của SV ở nước ngoài rất phong phú và đa dạng cả về nguyên nhân lẫn công cụ sử
dụng để thực hiện hành vi quay cóp, trong khi đó các nghiên cứu về vấn đề này trong
nước còn rất hạn chế, mặc dù vấn đề này không mới đối với ở giáo dục Việt Nam.
Ở đây chúng ta có thể thấy, hầu như các nghiên cứu đều tập trung vào các
nguyên nhân như: áp lực của gia đình về điểm số, thời gian tham gia các hoạt động
ngoại khóa nhiều, thiếu sự chuẩn bị cho kỳ thi, và gần như các nghiên cứu nước ngoài
đều cho rằng nam giới thực hiện hành vi quay cóp nhiều hơn nữ giới, bên cạnh đó họ

đòi hỏi phải đấu tranh với chính bản thân, hoặc cũng có thể do giám thị coi thi dễ dãi,
đề thi thiên về học thuộc quá lớn, phòng thi quá nhỏ mà số lượng thi thì quá đông,
mà điều này dễ dẫn đến SV vi phạm quy chế thi, lơ là trong việc học Động cơ học tập
không có sẵn hay tự phát, mà được hình thành dần dần trong quá trình học tập của học
sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.

Trích đoạn Thiết kế cơng cụ khảo sát THƠNG TIN VỀ BẢN THÂN Phân tích nhân tố khám phá với thành phần các biến độc lập Phân tích hồi quy tuyến tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status