Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong các kỳ thi - Pdf 44

TIỂU LUẬN

CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HIỆN TƯỢNG
QUAY CÓP CỦA SINH VIÊN

1


Hà Nội - 2017

2


DANH SÁCH NHÓM 5

STT

Họ & tên

Lớp

1

Phạm Thị Huyền

K61KTNNA

2

Tạ Thanh Huyền



K61KTB

8

Lưu Diệp Linh

K61QTKDB

9

Nguyễn Thị Linh

K61KTA

10

Nguyễn Thị Mỹ Linh

K61KTB

Mã SV

3


NHẬN XÉT & ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN




4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………….….. 6
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................7
Chương 1 – Tổng quan và cơ sở lí luận…………………………………….. 7
1.1 Giới thiệu tổng quan Học viện Nông nghiệp…………………………… 7
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu……………………. 8
1.3 Thực trạng gian lận trong học tập, thi cử của sinh viên………………… 9
1.4 Những hiện tượng tiêu cực trong thi cử từ cán bộ coi thi………………11
Chương 2 – Phương pháp & quy trình nghiên cứu ……………………….. 12
2.2 Phương pháp nghiên cứu …………………………..
2.2 Quy trình nghiên cứu
Chương 3 – Khảo sát thực tế
1. Nội dung
2. Đối tượng
3. Thời gian
4. Phương pháp xử lí
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT
TỔNG QUAN VỀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TIỄN
Chương 4 – Đề ra giải pháp
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THAM GIA HỌP NHÓM
BẢNG ĐIỂM TỰ ĐÁNH GIÁ
5


6


I. MỞ ĐẦU


Tìm hiểu thực trạng gian lận trong học tập, thi cử của sinh viên hiện nay
tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Khảo sát và tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp
của sinh viên trong thi học kỳ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Đưa ra giải pháp nhằm giải thiểu hiện tượng gian lận.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu





Khách thể nghiên cứu: Sinh viên của Học viên Nông nghiệp Việt Nam.
Khách thể khảo sát: 100 sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng gian lận của
sinh viên trong các đợt thi học kỳ tại Học viện Nông nghiệp.

4. Phương pháp nghiên cứu


Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Những cơ sở lý luận khoa học, các khái



niệm liên quan vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng trong phân tích làm rõ các
nguyên nhân dẫn đến gian lận trong học tập, thi cử của sinh viên Học viện



chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong từng
thời kì: Trường Đại học Nông lâm (1956), Học viện Nông lâm
(1958), Trường Đại học Nông nghiệp (1963), Trường Đại học Nông
nghiệp I (1967), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2008) và Học
viện Nông nghiệp Việt Nam (2014).
1.1.1. Chức năng, nhiệm vụ của Học viện





Đào tạo cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học và sau đại học
trong lĩnh vực nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan.
Thực hiện các nghiên cứu khoa học và hợp tác nghiên cứu
với các đơn vị trong và ngoài nước.
Chuyển giao kỹ thuật tiến bộ đến người sản xuất.

1.1.2. Đội ngũ cán bộ, giảng viên
Học viện có gần 1.400 cán bộ viên chức đang giảng dạy,
nghiên cứu khoa học và phục vụ tại 15 khoa, 11 phòng ban, 01
Nhà xuất bản, 23 viện, trung tâm, công ty; trong đó có trên 700
9


cán bộ giảng dạy, gần 300 nghiên cứu viên, 83 giáo sư, phó
giáo sư, gần 600 cán bộ giảng dạy có học vị tiến sĩ và thạc sĩ,
hầu hết số tiến sĩ và thạc sĩ này được đào tạo từ các nước có
nền giáo dục và khoa học tiên tiến.

1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Sai lệch chuẩn mực hành vi cá nhân có thể chia làm hai loại: Một là sai
lệch chuẩn mực hành vi thụ động, hai là sai lệch chuẩn mực hành vi chủ động.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những sinh viên có hành
vi lệch chuẩn, tức là những hành vi sai trái với nội quy, quy định của nhà
trường. Có rất nhiều các nội quy, quy định của nhà trường đề ra, nhưng hành vi
sai trái của sinh viên mà đề tài đề cập ở đây là hành vi quay cóp của sinh viên
trong khi thi học kỳ.
1.3 Thực trạng gian lận trong học tập, thi cử của sinh viên - Học viện Nông
nghiệp Việt Nam hiện nay
1.3.1. Trao đổi, hỏi bài nhau trong phòng thi:
- Hiện tượng này xảy ra thường rơi vào trường hợp giáo viên coi thi quá dễ
dãi, học sinh trao đổi quay cóp, thậm chí di chuyển vị trí chỗ ngồi nên việc đánh
số báo danh không có tác dụng.
- Trao đổi, hỏi bài nhau trong phòng thi được thể hiện bằng các hình thức
khác nhau như: Thí sinh làm được câu hỏi, bài tập nào xong, để bài trên bàn của
mình ở khoảng trống giữa hai thí sinh không cần phải che dấu, tạo điều kiện cho
bạn quay cóp một cách dễ dàng
- Thí sinh làm xong bài, tranh thủ thời điểm không có giáo viên coi thi
trong phòng thi hoặc lợi dụng sự sơ hở của giáo viên coi thi đọc cho bạn vừa đủ
nghe và chép lại bài của mình

11


- Bằng các tín hiệu khác nhau, thí sinh thông báo mã số đề thi trắc nghiệm
của nhau, sau đó, dù ngồi ở vị trí nào vẫn biết được phương án lựa chọn của
nhau nếu giáo viên coi thi rời phòng thi hoặc không để ý giám sát...vv. .

1.3.2. Mang tài liệu và sử dụng tài liệu trong phòng thi:
Hiện tượng này xảy ra khá phổ biến được che dấu bởi các hình thức khác

Nếu không xem xét một cách kỹ lưỡng ranh giới này thì sẽ xảy ra nhiều vấn đề
liên quan khác không thể nào lường hết được. Từ khi có ngân hàng đề thi thì
hiện tượng này đã giảm.
1.3.5. Thi hộ
Là hiện tượng xảy ra trong trường hợp thi lại lần thứ nhất hoặc lần thứ hai,
học sinh, sinh viên không có khả năng để làm bài thi đạt kết quả để vượt “rào”
thì lập tức nhờ bạn khác học lực khá thi hộ để lấy điểm cho mình. Trong trường
hợp này học sinh, sinh viên thường lợi dụng sự buông lỏng kỷ luật phòng thi
của giáo viên coi thi. Song các trường hợp thi hộ giáo viên coi thi đều phát hiện
được.
1.4. Những hiện tượng tiêu cực trong thi cử từ phía cán bộ coi thi:
Tiêu cực từ phía cán bộ coi thi được biểu hiện cụ thể ở những mức độ khác
nhau, cho từng đối tượng mà cán bộ coi thi giám sát cũng khác nhau, có những cán
bộ coi thi làm việc chưa hết hoặc chưa đúng trách nhiệm đã góp phần “vô hiệu
hóa” hoặc làm giảm hiệu lực của quy chế thi. Biểu hiện của tiêu cực này vô cùng
đa dạng ở các khía cạnh sau:
- Trong giờ coi thi, cả hai hoặc một trong hai cán bộ coi thi cố tình làm ngơ
trước những tiêu cực từ phía thí sinh

13


- Hai cán bộ coi thi vô tình hay ngẫu hứng nói chuyện trao đổi trong phòng
thi về những vấn đề cùng quan tâm trong đời sống cá nhân gia đình, xã hội,.. mà
không cần chú ý đến sự giám sát và yên tĩnh để thí sinh làm bài.
- Một trong hai cán bộ coi thi ra khỏi phòng thi không có lý do.
- Cán bộ coi thi gửi số báo danh cho nhau nhờ giúp đỡ...vv. Có thể nói rằng
tiêu cực trong thi cử rất đa dạng, tinh vi và là căn bệnh kinh niên, nó như một loại
bệnh truyền nhiễm chưa có một loại thuốc nào để phòng ngừa đạt hiệu quả cao.


gian lận trong học tập & thi cử hiện nay
1. Nội dung khảo sát
Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong
thi học kỳ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
2. Đối tượng khảo sát



Đối tượng khảo sát là sinh viên các khóa K58, K59, K60, K61 của Học
viện Nông nghiệp Việt Nam.



Số phiếu được khảo sát được là 100.

3.Thời gian khảo sát: Ngày 7 Tháng 4 năm 2017
4.Phương pháp xử lí số liệu điều tra: Vì phiếu điều tra có sử dụng kết hợp cả hai
loại câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi mở nên chúng tôi xử lí số liệu điều tra bằng
phương pháp thống kê.

15


KẾT QUẢ KHẢO SÁT

ST
T
1

Cán bộ coi thi


Làm việc riêng trong phòng thi
Cán bộ coi thi chưa thật nghiêm
túc
Đề thi có câu vượt ngoài khả
năng của sinh viên
Nội dung đề thi ít có phần thực
tiễn
Đạt điểm số cao
Học và thi là khác nhau
Cố gắng vượt qua môn thi bằng
mọi cách
Việc học là để có tấm bằng xin
việc
Việc học củng cố địa vị xã hội

41/100
59/100

41%
59%

37/100

37%

63/100

63%



Thời gian làm bài chưa phù hợp 34/100
34%
7
Cách thức quay
Coi bài của bạn
87/100
87%
cóp
Sử dụng các phương tiện quay
9/100
9%
cóp
8
Phương tiện
Tài liệu photo nhỏ
58/100
58%
dùng để quay
Sử dụng điện thoại di động
27/100
27%
cóp
Ghi ra tay
7/100
7%
Sử dụng tai nghe kết nối điện
4/100
4%
thoại



viên cho rằng ”đề thi có câu vượt ngoài khả năng SV”. Không chỉ vậy, nội dung
phần câu hỏi ứng dụng thực tiễn cũng chưa được giảng viên chú trọng đánh giá.
Như vậy đề thi chưa phù hợp chính là một nhân tố có ảnh hưởng đến hành vi quay
cóp của SV.
3. Quan niệm về học tập cho hiện tại của sinh viên
Từ kết quả khảo sát cho thấy, quan niệm về học tập cho hiện tại của sinh
viên có ảnh hưởng đến hành vi quay cóp. Phân tích sâu cho thấy: với SV, đạt điểm
số cao là mục tiêu hàng đầu (chiếm 76%). Nhiều SV cũng có quan niệm ”học và
thi là khác nhau” (chiếm 4%) và cố gắng vượt qua môn thi bằng mọi cách (chiếm
20%). Điều này cho thấy phần lớn SV đều có quan niệm đạt điểm số cao là quan
trọng nhất. Chính quan điểm sai lầm này đã phần nào thúc đẩy một số SV thực
hiện hành vi quay cóp khi các em chưa chuẩn bị tốt cho kỳ thi.
4. Quan niệm về học tập cho tương lai của sinh viên
Theo kết quả điều tra cho thấy, đa số SV cho rằng việc học chủ yếu là để có
tấm bằng xin việc (chiếm 93%) sau đó thì mới đến việc củng cố địa vị xã hội
(chiếm 7%).
Quan niệm này thể hiện khá rõ về dự tính sau khi tốt nghiệp của SV chủ yếu
là chỉ để xin việc chứ không thiên nhiều về học thuật. Chính vì thế mà các em đặt
nặng vấn đề điểm số. Quan niệm sai lệch này dẫn các em đi đến những cách thức
đạt điểm số cao nhưng không bằng lực học của chính mình, trong đó có hành vi
quay cóp.
5. Kế hoạch thi
Từ số liệu điều tra cho thấy công tác tổ chức thi của trường còn khá nhiều
tồn tại. Trong đó nổi bậc là lịch thi sắp xếp chưa hợp lý ( chiếm 54% số phiếu) và
thời gian ôn tập để thi kết thúc học phần chưa hợp lí (chiếm 46% số phiếu). Ngoài
ra còn có một số yếu tố như lịch thi thường bị thông báo trễ và hay bị thay đổi.
6. Khó khăn về nội dung đề thi
18

19


gian tới trường cần phải có những biện pháp mạnh và thích hợp để phát hiện, ngăn
chặn và xử lý việc thực hiện quay cóp sinh viên.
8. Kết quả điều tra về nhóm môn học thường quay cóp
Kết quả thống kê cho thấy nhóm môn học mà các sinh viên thường quay
cóp nhất đó là các môn cơ bản với 86 ý kiến chiếm tỉ lệ 86% so với tổng phiếu
điều tra. Có thể do nhóm môn cơ bản khó, ít liên quan và hứng thú đối với nghề
nghiệp của sinh viên.
Các môn chuyên ngành, có lẽ vì liên quan đến chuyên môn nghề nghiệp,
sinh viên chịu khó học hơn nên tỉ lệ sinh viên quay cóp ít hơn chiếm khoảng 10%
so với tổng phiếu điều tra. Từ kết quả trên cho thấy khi thi các môn cơ bản, khả
năng sinh viên của trường thực hiện quay cóp lớn; để hạn chế và ngăn chặn sinh
viên vi phạm quy chế thì trường cần tăng cường hơn nữa kỷ luật phòng thi.

TỔNG KẾT VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
Tiêu cực trong thi cử là sự biểu hiện tiêu cực trong giáo dục. Nguyên
nhân của sự tiêu cực này có cả các yếu tố chủ quan từ phía người dạy, người học
và các yếu tố khách quan từ xã hội.
1. Về nguyên nhân chủ quan
1.1. Do ý thức của người học: học sinh, sinh viên chưa xác định đúng
mục tiêu của việc học đó là: học để biết, học để làm việc, học để làm người và
học để cùng chung sống. Do vậy một số học sinh, sinh viên vào trường học quá
lười biếng, chơi nhiều, dựa dẫm vào khả năng tài chính của gia đình cung cấp để
xin điểm, mua điểm bằng mọi cách để có kết quả học tập cao. Mặt khác do xã hội
vẫn còn thói quen đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên qua bằng cấp chứ
không phải là năng lực thực có của học sinh, sinh viên nên nhiều học sinh, sinh
20




- Hầu hết giảng viên trẻ đánh giá điểm của học sinh, sinh viên không
chính xác, phàn nàn học sinh, sinh viên học kém nhưng điểm kiểm tra không có
học sinh, sinh viên bị điểm 4. Vì vậy học sinh, sinh viên lười học là tất yếu
1.5. Xây dựng kế hoạch giảng dạy chưa có tính logic, khoa học:
- Học phần phải học trước làm cơ sở để học các học phần sau nhưng thực
tế vẫn có tình trạng xảy ra ngược lại quy trình đó
- Các học phần thi trong một kỳ quá nhiều
1.6. Do thiếu sự theo dõi, kiểm tra, giám sát của Ban Giám Hiệu, Khoa,
Tổ chuyên môn, Các phòng ban chức năng:
- Lãnh đạo nhà trường chưa thường xuyên nắm bắt tình hình giảng dạy
và các hoạt động khác của giáo viên thông qua ý kiến thăm dò học sinh.
- Chưa xử lý nghiêm những học sinh, sinh viên cũng như giáo viên vi
phạm quy chế thi, bỏ giờ giảng hoặc chậm giờ, chấm điểm thi thiếu chính xác...
2. Nguyên nhân khách quan:
2.1. Sự khiếm khuyết từ chương trình đào tạo và cơ sở vật chất phục vụ cho
quá trình dạy và học
Chương trình đào tạo một số ngành và chuyên ngành chưa phù hợp với sự
chuyển đổi của nền kinh tế hiện nay, nhiều môn học kiến thức còn chung chung,
chưa gắn kết với thực tiễn của nền kinh tế, chủ yếu mang tính lý luận nên học
sinh không thể nhớ hết lượng kiến thức đó. Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và
học còn thiếu thốn đặc biệt về việc thực hành môn học, cả khối kỹ thuật và khối
kinh tế còn thiếu và rất hạn chế nên học sinh, sinh viên học xong lý thuyết không
vận dụng vào thực tế. Do đó kiến thức chóng quên.
2.2. Do thói quen sính bằng cấp:
Thực trạng hiện nay do việc tuyển dụng làm công chức, viên chức hoặc
giáo viên giảng dạy còn mang nặng về bằng cấp, chưa căn cứ vào năng lực thực
tế của người dự tuyển. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho người học
22

 Đối với sinh viên – đặc biệt sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Cần xác định lại quan điểm về học tập của mình phù hợp với bản thân
mình; không ngừng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người sinh viên;
học tập, tìm tòi và sáng tạo để chiếm lĩnh kiến thức; thi cử nghiêm túc, đúng
quy định của trường.
 Đối với Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phải xây dựng kế hoạch thi học kỳ khoa học, hợp lý với kế hoạch học
tập của các lớp sinh viên. Lịch thi cần phải ổn định không nên thay đổi nhiều.
Số môn thi trong kỳ phải hợp lý, không nhiều quá gây áp lực học tập lên các em
sinh viên. Thời gian ôn thi các môn cần bảo đảm đủ để các em sinh viên ôn tập,
nhưng vẫn không ảnh hưởng đến tổng thời gian của chương trình đào tạo.
Xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ và sinh viên vi phạm quy chế
thi. Đối với các sinh viên có số lần vi phạm quy trong năm học nhiều, ngoài các
hình thức xử lý theo quy chế thi là đình chỉ, cảnh cáo và khiển trách có thể áp
dụng thêm Quy chế học sinh sinh viên để thi hành kỷ luật hình thức: dừng học
hoặc thôi học tuỳ theo mức độ vi phạm của sinh viên để nâng tính răng đe.
Nên tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong các hoạt động dạy và
học, việc tổ chức thi và chấm thi của trường, để ngăn ngừa các vi phạm.
Cần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kỷ luật và khen thưởng tạo sự
công minh và động lực thi đua trong cán bộ và sinh viên của trường.
24


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Những hiện tượng tiêu cực trong thi cử trên phản ánh thực trạng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Qua bài viết này rất mong Lãnh đạo Nhà
trường, các thầy cô giáo cần có những giải pháp hữu hiệu nhất để không ngừng
nâng cao chất lượng đào tạo của trường ngày một tốt hơn, giữ vững uy tín
truyền thống của trường đã được vun đắp hơn nửa thế kỷ qua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status