Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
  

VƯU THỊ THÙY TRANG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA –
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC

Tp.Hồ Chí Minh,
2012Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
3

MỤC
LỤC
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài: 7
2. Mục đích nghiên cứu: 9
3. Phạm vi nghiên cứu: 9
4. Phương pháp nghiên cứu: 9
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 10
Chương 1: TỔNG QUAN 11
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước: 11
1.2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước: 13
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
2.1. Khái niệm: 17
2.2. Khung lý thuyết của đề tài: 22
2.3. Mô hình lý thuyết của đề tài: 26
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1. Các bước thực hiện nghiên cứu: 28
3.2. Thực hiện nghiên cứu: 29
3.3. Xây dựng thang đo: 31
3.4. Thiết kế nghiên cứu định lượng: 35

Phụ lục 7: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ANOVA PHÂN NHÓM THEO THÀNH QUẢ
NGHIÊN CỨU 82
Phụ lục 8: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ANOVA – PHÂN NHÓM THEO LĨNH VỰC
NGHIÊN CỨU 91

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 – Kết quả nghiên cứu định tính 28
Bảng 3.2 – Thang đo Thái độ đối với việc thực hiện nghiên cứu
30

Bảng 3.3 – Thang đo các biến nằm ngoài tầm kiểm soát
30

Bảng 3.4 – Thang đo Nhận thức về kiểm soát hành vi nghiên cứu
31

Bảng 3.5 – Thang đo thành tích nghiên cứu
32
Bảng 3.6 – Cấu trúc bảng hỏi………………………………………………… 33
Bảng 4.1 – Mẫu khảo sát………………………………………………. 36
Bảng 4.2 – Kết quả EFA thang đo Thái độ đối với nghiên cứu khoa học 37
Bảng 4.3 – Kết quả EFA thang đo các ràng buộc xã hội 38
Bảng 4.4 – Kết quả EFA thang đo Nhận thức về kiểm soát hành vi nghiên cứu 39
Bảng 4.5 – Kết quả KMO & Bartlett’s Test
40

Bảng 4.6 – Kết quả phân tích nhân tố tổng hợp
40



Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề nghị
24Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Diễn giải
CBGD Cán bộ giảng
dạy

CGCN Chuyển giao công
nghệ

ĐHQG-HCM Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
GV
Giảng

viên

NCKH Nghiên cứu khoa học
Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
7


trường nâng cao chất lượng đào tạo. Một học viện được xếp vào hàng các trường
đại
học
mạnh về nghiên cứu khoa học thường được cho rằng có chất lượng chương trình, ban
giảng
huấn và sinh viên tốt (Hu &
Gill,
2000).
Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong thì hoạt động khoa học công
nghệ là một
trong
những lĩnh vực quan trọng của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt trong
giai đoạn quan trọng, có tính
bước
ngoặc của dân tộc. Những năm qua, đội ngũ tham
gia nghiên cứu khoa học khá đông đảo, chất
lượng
khá đảm bảo. Tuy nhiên, so với
nhịp độ phát triển nhanh như hiện nay, lực lượng làm công tác
khoa
học tuy đông
nhưng vẫn chưa đủ. Đội ngũ làm công tác khoa học chưa được thống kê và chăm
lo,

thúc đẩy phát triển như mong muốn. Muốn đưa được khoa học công nghệ vào cuộc
sống, tác động
vào
nên kinh tế, đây phải là lực lượng quan trọng, là chủ thể và trung
tâm của công tác nghiên cứu
khoa

này

trong việc nghiên cứu khoa học là rất cần
thiết.
Đề tài nghiên cứu “các yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học Bách Khoa –
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm tìm ra các yếu tố tác
động đến giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học và đề xuất các kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giảng viên trường đại học Bách
Khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nghiên cứu khoa học,
thông qua đó so sánh đánh giá của giảng viên giữa các nhóm ngành khoa học khác
nhau, giảng viên giữa các nhóm có nâng suất nghiên cứu khác nhau; từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm cải tiến công tác nghiên cứu khoa học tại trường.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu này tiến hành khảo sát các giảng viên đang giảng dạy ở các lĩnh vực
khoa học: cơ bản, kỹ thuật và quản lý tại trường đại học Bách Khoa – ĐHQG-HCM.
4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài
nghiên
cứu sẽ giúp trả lời cho các câu hỏi
sau:

(1) Các yếu tố nào ảnh hưởng đến giảng viên Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM
thực hiện nghiên cứu khoa học
?

(2) Có hay không sự khác biệt về đánh giá của giảng viên giữa các nhóm ngành

11
Chương 1: TỔNG QUAN

Chương này tác giả sẽ trình bày các công trình nghiên cứu, bài báo, hội nghị/hội
thảo, các nhận định của chuyên gia về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn.
Để có thể
khuyến
khích cán bộ giảng dạy tích cực tham gia vào hoạt động
NCKH cần phải nhận biết các nhân tố
tạo
động lực thúc đẩy việc thực hiện nghiên
cứu. Các nhân tố này có thể là nhân tố bên ngoài như
thu
nhập, thăng tiến, học hàm
, cũng có thể là các yếu tố ảnh hưởng từ bên trong mỗi cá nhân như sự
yêu
thích
nghiên cứu, sự tò mò muốn tìm hiểu tri thức mới, nhu cầu được sự tôn trọng, ngưỡng
mộ từ
sinh
viên, đồng nghiệp.
Cho đến nay, tại Việt Nam rất ít các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Trên
thế giới đã có một số nghiên cứu liên quan như: Behymer (1974), Finkelstein (1984)
đã khẳng định tác động của các yếu tố bên ngoài và bên
trong
đến năng suất nghiên
cứu trong các khoa giảng dạy, Bulter và Cantrell (1991) đã chứng minh
tác
động của 6
yếu tố bên ngoài đến việc thực hiện NCKH, hay Chen, Gupta và Hoshower

khoa học sau khi họ hoàn tất chương trình học. Bài nghiên cứu đã tiến hành khảo sát
các nguyên nhân cho việc công tác nghiên cứu hiện nay chưa được tập trung chú ý và
đã nhận được các ý kiến phản hồi như sau: 68 % giáo viên cho rằng nguyên nhân chính
của việc họ ít/không tham gia nghiên cứu khoa học là do không có thời gian.
Tại hội thảo “Giải pháp tạo động lực cho giảng viên ĐH tham gia nghiên cứu
khoa học (NCKH) và chuyển giao công nghệ” do Bộ GD& ĐT tổ chức 2010. Tại hội
thảo các chuyên gia cho rằng hoạt động NCKH chưa gắn kết chặt chẽ với đào tạo, đặc
biệt là đào tạo tiến sỹ. Hoạt động chuyển giao kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất và
đời sống chưa được đẩy mạnh. Ông Lê Minh Tiến (ĐH Mở TPHCM), cho rằng nguồn
thu nhập chính yếu của các giảng viên ĐH hiện nay đến từ việc giảng dạy trong khi đó
NCKH vừa tốn nhiều thời gian, công sức, trong khi thu nhập lại ít ỏi. Thực tế, nhiều
giảng viên dạy vượt quá 200%-300% số giờ quy định để tăng thêm thu nhập. Như vậy,
không có động lực tài chính từ việc NCKH nên giảng viên “lười” NCKH cũng là điều
dễ hiểu. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, để tạo động lực cho giảng viên NCKH, các
trường nên quy định nghiên cứu khoa học như một hoạt động bắt buộc đối với giảng
viên. Bên cạnh đó, nhà trường cũng cần thường xuyên cử giảng viên dự các hội nghị
nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
Theo GS. Đào Trọng Thi: “Phải thay đổi cách nghĩ, cách làm thì nghiên cứu khoa
học trong trường ĐH mới có được chất lượng. Ở Việt Nam, công tác quản lý rất yếu. Khi
xét duyệt đề tài, không chỉ xem dự toán có đúng yêu cầu không mà còn cần phải tính chi
trả nhân công một cách xứng đáng. Từ trước tới nay, ta vẫn coi cán bộ như là người ăn
lương nên khi duyệt kinh phí cho đề tài, chỉ tính đến phần mua cơ sở vật chất, thiết bị. Cán
bộ không được trả công thì người ta phải lấy lẹm vào phần mua nguyên vật liệu, vào phần

Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
13
thực địa khảo sát, thậm chí phải trả tiền thuê sinh viên làm thêm, cứ thế thì nghiên cứu
khoa học làm sao có chất lượng được”.
Giảng viên và công tác nghiên cứu khoa
học:

nhịp độ phát triển nhanh như hiện nay, lực lượng làm công tác
khoa
học tuy đông
nhưng vẫn chưa đủ. Đội ngũ làm công tác khoa học chưa được thống kê và chăm
lo,

thúc đẩy phát triển như mong muốn. Muốn đưa được khoa học công nghệ vào cuộc
sống, tác động
vào
nên kinh tế, đây phải là lực lượng quan trọng, là chủ thể và trung
tâm của công tác nghiên cứu
khoa

học.

Tại Việt Nam các công trình nghiên cứu về vấn đề động lực thúc đẩy giảng viên
thực hiện nghiên cứu khoa học trong trường đại học còn rất hạn chế. Chủ yếu là tổ
chức các hội thảo/hội nghị để bàn luận về vấn đề này.
1.2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước:
Nghiên cứu của Blackburn & Lawrence (1995) đã nghiên cứu và đưa ra mô hình
về động cơ, sự mong đợi và
sự
thỏa mãn trong công việc của các giảng viên. Nền tảng lý
thuyết của nghiên cứu này là các

thuyết về nhu cầu, thuyết về các giai đoạn của cuộc
đời (life-stage theory), thuyết xã hội hoá

thuyết tăng cường; mẫu được khảo sát từ học
viện Carnegie (Carnegie Foundation) năm

cho nghiên cứu, vị trí địa lí, hệ thống khen thưởng, hệ thống đánh giá
năng lực làm việc
của

khoa,
viện đối với cá
nhân.

4) Các biến cố không thể kiểm soát (social contingencies): bao gồm các biến cố xảy ra
với
từng
cá nhân như sinh con, vợ/chồng bị bệnh, các xung đột trong gia đình, Nghiên cứu của Sax và ctg (2002) khảo sát mức độ ảnh hưởng của giới tính và các
yếu tố
thuộc
nhóm các ảnh hưởng từ gia đình đến năng suất nghiên cứu. Mô hình nghiên
cứu đề xuất 5
nhóm
yếu tố tác động đến năng suất nghiên cứu, bao gồm:
1/
Các biến nhân
khẩu học; 2/ Đặc điểm của nơi công tác (loại hình viện nghiên cứu, loại hợp
đồng


kết
với cơ quan ); 3/ Đặc điểm cá nhân (như học hàm, lương bổng, định hướng nghiên
cứu,


nghiên
cứu về
các yếu tố chính thúc đẩy các giảng viên khoa kinh doanh thực hiện nghiên cứu
khoa
học. Với 670 bảng câu hỏi gởi đến 10 trường Đại
học,
320 giảng viên đã phản

Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
15
hồi lại và cho ra kết quả như sau: các giảng viên đánh giá cao
phần

thưởng
có giá
trị cả về vật chất và tinh thần đều có năng suất nghiên cứu cao hơn nhóm còn
lại.

Qua
phân tích dữ liệu thu thập được, nghiên cứu của Chen, Gupta & Hoshower
(2006) đã cho
các

kết
quả
sau:
Các giảng viên chưa vào biên chế (untenured) được
động viên nhiều hơn bởi các
phần

Không có mối liên hệ giữa năng suất
nghiên cứu và giới
tính.
Như vậy, trong nghiên cứu này, Chen, Gupta & Hoshower
(2006) đã tìm ra được các yếu tố
bên
trong và các ảnh hưởng từ xã hội bên
ngoài đến động cơ thực hiện nghiên cứu. Tuy nhiên,
nghiên
cứu không có bước
kiểm chứng từ động cơ đến hành vi, trong khi trong thực tế các ý định muốn
trở

thành hành vi phải có thêm các điều kiện thuận lợi. Các yếu tố về môi trường làm
việc, năng
lực,
nguồn lực để thực hiện nghiên cứu đều được bỏ qua, xem như các
giảng viên đều có điều
kiện,
năng lực như nhau để thực hiện nghiên cứu.
Nghiên cứu của Azad & Seyyed (2007), áp dụng khung lý thuyết được xây
dựng bởi Blackburn & Lawrence (1995), qua phân tích dữ liệu từ 233 hồi đáp bằng
cách so sánh giữa 2 nhóm: nhóm có năng
suất
nghiên cứu cao và có năng suất nghiên
cứu thấp đã đưa ra các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến năng
suất
nghiên cứu tại các
nước GCC (các tiểu vương quốc Ả Rập) như sau: 1/ Nhóm các biến nhân
khẩu

là các lý
thuyết
động viên – chủ yếu là thuyết mong đợi (Expectancy Theory), giải
thích các yếu tố tạo nên
động
cơ thực hiện nghiên cứu của các giảng viên, nghiên
cứu viên tại các trường, viện nghiên cứu.
Các
kết quả nghiên cứu đều cho thấy sự
ảnh hưởng của các nhóm yếu tố môi trường bên ngoài
(các
thuận lợi hay khó khăn
đến từ cơ chế quản lý, cơ sở vật chất, sự hỗ trợ về nguồn lực, nhân lực);
các
nguyên
nhân đến từ bên trong cá nhân (về năng lực, thái độ, quan niệm về hành vi mình sẽ
thực

hiện,
hay nói cụ thể là việc thực hiện nghiên cứu); ngoài ra, các nhóm yếu tố
về nhân khẩu học

các mối quan tâm, ràng buộc bên ngoài xã hội cũng có nhiều
ảnh hưởng đến việc thực hiện
nghiên
cứu của các giảng viên, nghiên cứu
viên.

Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu trình bày ở trên chỉ mới dừng ở mức “các
yếu tố thúc đẩy

2.1. Khái niệm:
Nghiên cứu khoa học:
Nghiên cứu là quá trình có hệ thống thu thập và phân tích thông tin để tăng sự
hiểu biết của chúng ta về hiện tượng này được nghiên cứu. Đây là chức năng của nhà
nghiên cứu đóng góp vào sự hiểu biết về hiện tượng này và để truyền đạt sự hiểu biết
cho người khác.
Ngoài ra, gần giống với nghiên cứu, giải quyết vấn đề (problem solving) cũng
dựa trên các
phương
pháp thử và sai, quy nạp, diễn dịch để tìm ra giải pháp cho một
vấn đề nào đó. Tuy nhiên, các
giải
pháp này được dựa trên nền các thông tin và
kiến thức khoa học có sẵn để đưa ra giải pháp
cụ

thể
cho một vấn đề cụ thể trong
thực tiễn. Hay nói cách khác, giải quyết vấn đề là khi chúng ta đã

đủ mọi thông tin,
và việc chúng ta phải làm là tìm ra mối liên hệ giữa các thông tin đã có.
Nghiên

cứu khác với giải quyết vấn đề ở điểm: nghiên cứu là tìm ra những thông tin mà
người khác
chưa
tìm
thấy.



đạt
tiêu chuẩn là một nghiên cứu tìm ra được tri thức mới và

Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
18
có ý nghĩa, đóng góp
được

vào
kho tàng tri thức chung của nhân loại. Chính vì vậy,
yêu cầu cơ bản nhất của
nghiên
cứu cơ bản là việc công bố quốc tế, nghĩa là kết
quả nghiên cứu phải được kiểm định

công bố trên các tạp chí khoa học trong
nước hoặc quốc tế và hội nghị quốc tế có uy tín
(Hồ
Tú Bảo, 2008)
.

Nghiên cứu ứng dụng (applied research): đây là các nghiên cứu nhằm tìm ra các tri
thức
khoa học để giải quyết các vấn đề đặt ra từ thực tế. Do vậy, các kết quả của nghiên
cứu

thông thường chỉ phù hợp với các đặc tính tự nhiên, địa lí, xã hội của các vùng khác nhau



phải được kiểm định và tự điều
chỉnh.

Sản phẩm của hoạt động nghiên
cứu:

Sản phẩm chính của hoạt động nghiên cứu là kiến thức mới. Các kiến thức đó
sẽ
được sử dụng theo 2
cách:
Làm lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu
sau.
Ứng
dụng các kiến thức đó vào hoạt động sản xuất, xã hội góp phần thúc đẩy sự phát
triển

của đất
nước.
Cụ thể, các sản phẩm của hoạt động nghiên cứu được thể hiện thông
qua:
Các báo cáo nghiên cứu, bài báo công bố trên tạp chí khoa học có uy tín, báo cáo
tại
hội

nghị
chuyên ngành, các bài báo cáo này thực hiện việc truyền bá kiến thức
mới tạo ra
từ
hoạt động nghiên cứu đến cho toàn xã hội nói chung và giới khoa học-
kỹ thuật nói riêng,

Đối với giảng viên trường đại học, ngoài nhiệm vụ giảng dạy thì nghiên cứu khoa
học là nhiệm vụ quan trọng mà giảng viên phải thực hiện. Vì đối với công việc giảng
dạy đòi hỏi giảng viên không ngừng nâng cao kiến thức, cập nhật tri thức mới và giảng
viên phải thực sự là chuyên gia về một chuyên ngành nhất định.
Điều này chỉ có thể
hình thành qua thực tiễn nghiên cứu và triển khai ứng dụng kết
quả
nghiên
cứu.

Ngoài việc thực hiện nghiên cứu là một trách nhiệm, nghĩa vụ phải thực hiện với
trường và

hội, một cá nhân khi đã chọn con đường trở thành giảng viên đại học có
nghĩa là cá nhân đó phải

niềm đam mê mãnh liệt với nghiên cứu, đam mê với việc
tìm kiếm, sáng tạo ra tri thức mới và
mong
muốn được truyền đạt các tri thức, kinh
nghiệm đến cho sinh viên, đội ngũ trí thức tương
lai.
Như vậy, một cá nhân thực hiện
nghiên cứu không phải chỉ vì đó là những quy định bắt buộc tại
nơi
làm việc hay tiêu
chuẩn cơ bản để được thăng tiến, vì học hàm, học vị, mà còn vì các lí do cá
nhân
như
niềm say mê khám phá, sự hiếu kỳ với kiến thức mới, lòng mong mỏi được đóng góp

suất nghiên cứu là một thước đo các nỗ lực
trong

hoạt
động của giới học thuật.
Gaston (1970) chỉ ra
rằng

khái
niệm này bao gồm hai yếu tố cấu thành: sự sáng tạo tri
thức (tính bằng số
nghiên
cứu và sự phân phối tri thức (tức là mức độ phổ biến của tri
thức nghiên cứu
được).

Theo đó, thành quả nghiên cứu được thể hiện thông qua số lượng những công
trình trên các tạp
chí
khoa học chuyên ngành; kỷ yếu hội nghị; viết sách; hướng dẫn
luận văn hoặc các nghiên cứu của
học
viên cao học, nghiên cứu sinh; được các thừa
nhận của giới nghiên cứu; chịu trách nhiệm chủ
nhiệm
đề tài; nhận các bằng sáng
chế và bản quyền; thực hiện các khảo sát chuyên sâu; phát triển các
thiết
kế, thí
nghiệm ra thực tế; tham gia các hội thảo và bình luận chuyên môn


thể được đo dựa trên số lượng công trình trên các
tạp chí chuyên ngành; kỷ yếu hội nghị; sách
xuất
bản; hướng dẫn luận văn
hoặc
các
nghiên cứu của học viên cao học, nghiên cứu sinh; được các thừa nhận của giới nghiên
cứu;
các đề tài chịu trách nhiệm chủ nhiệm; các bằng sáng chế và bản quyền; các khảo
sát
chuyên

sâu;
phát triển các thiết kế, thí nghiệm ra thực tế; việc tham gia các hội thảo
và bình luận
chuyên

môn.Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
21

Về
chất lượng: hiện nay có 2 chỉ tiêu đánh
giá:

Chất lượng nghiên cứu được đánh giá qua hệ thống bình chọn của một hội
đồng khoa học,


rằng
kết quả đó không có giá trị.
Hơn nữa, việc đếm số lần trích dẫn cũng có một số hạn chế
đáng

kể
như: (1) một
công trình được phổ biến rộng rãi trên nhiều tạp chí thì sẽ được biết đến nhiều


đuợc trích dẫn nhiều; (2) hoặc các nhà nghiên cứu mới vào nghề, có các bài báo viết
chung khi
được
trích dẫn bài báo của mình thường bị bỏ sót tên; (3) việc trích dẫn vẫn
còn tiếp tục vô hạn trong
tương
lai trong khi thời gian khảo sát là hữu
hạn

Ngoài ra, để đánh giá năng suất nghiên cứu theo cả 2 khía cạnh số lượng và chất
lượng, Smith
&
ctg (2008) đã đưa ra quá trình đánh giá thông qua 4 bước như
sau:

Bước 1: xác định số lượng của các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí có
uy

tín.


từ
lúc nhà nghiên cứu nhận bằng tiến sĩ đến lúc thực hiện khảo sát
(theo Fogarty &
Ruhl,

1997).
Ngoài ra, cách đánh giá thành quả khoa học cũng được dựa trên chỉ số H (trích
nguồn: GS. Nguyễn Văn Tuấn – “Chi số H trong nghiên cứu Khoa học”): Các nhà
quản lí đánh giá thành quả của một nhà khoa học thường chủ yếu dựa vào 3 chỉ số: Số
lượng bài báo khoa học công bố; Tổng số lần trích dẫn các bài báo; và Hệ số ảnh
hưởng của tập san khoa học.

2.2. Khung lý thuyết của đề tài:
Theo như các nghiên cứu tác giả đã tìm hiểu có liên quan đến đề tài thì các lý
thuyết về hành vi được sử dụng để giải thích động cơ thực hiện nghiên cứu khoa học
của giảng viên như: Thuyết mong đợi (Expectancy Theory)
(V’room,
1964); Thuyết
công bằng (Equity Theory) (Adam, 1962), Thuyết tăng cường (Re
inforcement

Theory) (Skinner, 1953) Trong luận văn này, lý thuyết Hành vi hoạch định
(Azjen, 1991) -
phát
triển dựa trên nền tảng của các lý thuyết động
viên
- được áp
dụng để phân tích hành vi thực hiện nghiên cứu khoa học của các giảng viên tại
trường

đó.

Thuyết mong đợi bao gồm 3 cặp khái niệm: mong đợi giữa sự nỗ lực – thành
tích, mong đợi
giữa
thành tích – lợi ích, giá trị của phần thưởng
(valence).

Mong đợi giữa sự nỗ lực – thành tích (EP) có nghĩa là mức độ mà một người
đánh
giá
khả năng của mình và nhận thức của cá nhân đó về những yếu tố trong
môi trường
công
việc mà họ xứng đáng nhận được (Bateman &
Zeithaml,
1993). Sự
mong đợi là niềm tin rằng khi một cá nhân nỗ lực (E) thì họ sẽ đạt được các
kết

quả (P) mong muốn. Niềm tin này dựa trên kinh nghiệm quá khứ của cá nhân, sự tự
tin,

sự đánh giá về độ khó của mục tiêu (Bartol & ctg, 1998). Đối với các mục
tiêu, cá
nhân
phải tự tin rằng khả năng của mình cao hơn mục tiêu kỳ vọng. Ngược
lại, nếu một
người
nhận thấy rằng khả năng của mình không thể với tới mục tiêu thì

Ba nhóm cặp khái niệm trên được Staw (1984) kết hợp theo công thức
sau:

EP * PO * Giá trị của phần thưởng = Động cơ thúc
đẩy

V’room (1964) cho rằng các cá nhân được động viên khi thoả mãn 3 điều kiện
sau:
họ
thoả mãn với phần thưởng sẽ đạt được; họ tin rằng hành động của họ
sẽ
mang đến kết
quả/ phần thưởng đó; họ tin rằng họ có khả năng để thực hiện hành
vi.

Lý thuyết hành vi hoạch định
(TPB):Luận văn Thạc sĩ HV: Vưu Thị Thùy Trang
24
Lý thuyết hành vi hoạch định TPB (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết
hành động hợp

(TRA, Ajzen & Fishbein, 1975), lý thuyết này giả định rằng, một
hành vi có thể được dự báo
hoặc
giải thích bởi các ý định (động cơ) để thực hiện
hành vi đó. Các ý định được giả sử bao gồm
các

Hình 2.1 Mô hình Lý thuyết hành vi hoạch định TPB (I. Azjen, 1991)
Thái độ
dẫn
đến hành vi
(A):
Thái độ dẫn đến hành vi là mức độ mà biểu
hiện của hành vi đó được chính bản thân cá
nhân
đánh giá là tích cực hoặc tiêu cực.
Dựa trên mô hình kỳ vọng – giá trị, thái độ dẫn đến hành vi
được
định nghĩa là toàn
bộ niềm tin có thể dẫn đến hành vi liên hệ hành vi đó với những hậu quả và
các

thuộc tính khác nhau.
Chuẩn chủ quan
(SN):
Chuẩn chủ quan là sức ép xã hội về mặt nhận thức để tiến
hành hoặc không tiến hành hành
vi
nào đó. Tương tự như mô hình kỳ vọng – giá trị về thái
độ dẫn đến hành vi, giả định rằng Chuẩn chủ quan được định nghĩa là toàn bộ những niềm
Thái độ đối với

hoặc cản
trở sự thực hiện hành vi.
Ý định
(I):
Ý định là sự biểu thị về sự sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một
hành vi đã qui định, và nó
được
xem như là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi. Ý định
dựa trên các ước lượng bao gồm Thái độ
dẫn
đến hành vi, Chuẩn chủ quan và Nhận
thức
kiểm
soát hành vi và các trọng số được gán cho mỗi ước lượng này tùy vào
tầm quan trọng của
chúng.

Hành vi
(B):
Hành vi là sự phản ứng hiển nhiên có thể nhận thấy được thực hiện
trong tình huống đã qui định
cùng
với mục tiêu đã qui định trước đó. Những quan sát
hành vi đơn lẻ có thể được tổng hợp nhiều
lần
trong các phạm vi để tạo ra một phép
đo tiêu biểu về hành vi mang tính bao quát. Theo TPB,
Hành
vi là một hàm bao
gồm các ý định thích hợp và Nhận thức kiểm soát hành vi. Về mặt khái

năng
kiểm soát hành vi thực tế của mình cao thì họ sẽ
có khuynh hướng thực hiện các ý định của
mình
ngay khi có cơ
hội.

Trích đoạn Xây dựng thang đo: Thảo luận kết quả nghiên cứu:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status