ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
•
VƯU THỊ THÙY TRANG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BÁCH KHOA - ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC
•
VƯU THỊ THÙY TRANG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
Tp.Hồ Chí Minh, 2012
CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BÁCH KHOA - ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
3.4.2.Công cụ thu thập dữ liệu:...............................................................................................29
3.4.3.Phương pháp thu thập dữ liệu........................................................................................30
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................................................30
4.1.Mẫu khảo sát:....................................................................................................................31
4.1.1.Đặc điểm mẫu khảo sát:.................................................................................................31
4.1.2.Mô tả mẫu nghiên cứu:...................................................................................................31
4.2.2.Thang đo các biến cố không thể kiểm soát (hay các ràng buộc xã hội):........................33
3
4.2.5.Mô tả phân phôi mẫu......................................................................................................42
Luận
Thạc
HV:
Vưuquả
Thịnghiên
Thùy Trang
4.3.Sovăn
sánh
mứcsĩ độ đánh giá của giảng viên về các yếu tô theo
thành
cứu:........42
4.4.Đánh giá của giảng viên về các yếu tố theo lĩnh vực nghiên cứu:....................................48
Bảng 4.11 - Kết quả phân tích ANOVA theo lĩnh vực nghiên cứu:........................................48
4.5.Thảo luận kết quả nghiên cứu:..........................................................................................48
4.5.2.Nếu tính thành quả nghiên cứu chỉ là bài báo trong nước, ta có kết quả như................50
KHUYỂN NGHỊ VÀ KÉT LUẬN.........................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................55
PHỤ LỤC................................................................................................................................56
DANH MỤC HÌNH
Cùng với xu hướng hội nhập và phát triển của đất nước ngày càng sâu rộng với thế giới,
giáo dục đại học cũng đang đứng trước những thời cơ và thách thức không nhỏ. Chúng ta có
nhiều cơ hội để tiếp cận với những thành tựu trong lĩnh vực giáo dục của các nước trên thế giới
và đó cũng là thách thức đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải đổi mới để đáp ứng ngày càng cao
yêu cầu của xã hội và quá trình hội nhập.
Trong những năm gần đây, giáo dục Việt Nam luôn đưa ra các mục tiêu phát triển ngang
tầm với các nước trong khu vực và thế giới, đã có nhiều trường đại học xây mới và các chính
sách nhằm phát triển một số trường đại học đẳng cấp quốc tế. Theo hệ thống xếp hạng trường
đại học trên thế giới, hai hệ thống được nhiều người
4 biết đến nhất là Bảng xếp hạng học thuật
các trường đại học trên thế giới (tiếng Anh là Academic Ranking of World Universities, viết tắt
Luận văn Thạc sĩ
HV: Vưu Thị Thùy Trang
là ARWU) của Viện Giáo dục đại học thuộc trường Đại học Giao thông Thượng Hải (tiếng Anh
là Shanghai Jiao Tong University, viết tắt là SJTU) và bảng xếp hạng các trường đại học quốc
tế của THES. Cả 2 hệ thống này đều có đặt vấn đề về chỉ số nghiên cứu khoa học. Một trường
đại học phải có các công trình nghiên cứu công bố trên tạp chí quốc tế có uy tính, được nhiều
người trích dẫn.
Theo giải pháp chiến lược giáo dục đại học Việt Nam: “Tổ chức một số trường đại học
theo định hướng nghiên cứu. Đến năm 2020 có khoảng 30 trường đại học theo định hướng
nghiên cứu cơ bản. Tăng cường găn kết giữa nghiên cứu khoa học với nhu cầu xã hội thông
qua việc hình thành các liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với các doanh
nghiệp. Nguồn thu từ các hoạt động khoa học công nghệ sẽ chiếm giữ một tỉ lệ quan trọng
trong tổng nguồn thu của một cơ sở giáo dục đại học, đạt 20% vào năm 2020”.
Như vậy, một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của trường đại học là hiệu quả
hoạt động nghiên cứu khoa học. Từ đó vấn đề được đặt ra là đội ngũ giảng viên của nhà trường
phải thực sự đủ mạnh, là những người có năng lực chuyên môn tốt để giúp nhà trường nâng
cao chất lượng đào tạo. Một học viện được xếp vào hàng các trường đại học mạnh về nghiên
Việc thực hiện nghiên cứu khoa học còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
bản thân người nghiên
cứu là yếu tố quan trọng nhất để có thể có một
công trình
nghiên cứu khoa học tốt. Vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân thúc đẩy các cá nhân này trong việc
nghiên cứu khoa học là rất cần thiết. Đề tài nghiên cứu “các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến giảng viên tham gia
nghiên cứu khoa học và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu
khoa học của nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giảng viên trường đại học Bách Khoa Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nghiên cứu khoa học, thông qua đó so
sánh đánh giá của giảng viên giữa các nhóm ngành khoa học khác nhau, giảng viên giữa các
nhóm có nâng suất nghiên cứu khác nhau; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến công tác
nghiên cứu khoa học tại trường.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu này tiến hành khảo sát các giảng viên đang giảng dạy ở các lĩnh vực khoa
học: cơ bản, kỹ thuật và quản lý tại trường đại học Bách Khoa - ĐHQG-HCM.
4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1. Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu sẽ giúp trả lời cho các câu hỏi sau:
(1)
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến giảng viên Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM
thực hiện nghiên cứu khoa học ?
(2)
nghiên cứu khoa học.
Chương 1: TỔNG QUAN
Chương này tác giả sẽ trình bày các công trình nghiên cứu, bài báo, hội nghị/hội thảo, các
nhận định của chuyên gia về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn.
Để có thể khuyến khích cán bộ giảng dạy tích cực tham gia vào hoạt động NCKH cần
phải nhận biết các nhân tố tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện nghiên cứu. Các nhân tố này có
thể là nhân tố bên ngoài như thu nhập, thăng tiến, học hàm .., cũng có thể là các yếu tố ảnh
hưởng từ bên trong mỗi cá nhân như sự yêu thích nghiên cứu, sự tò mò muốn tìm hiểu tri thức
mới, nhu cầu được sự tôn trọng, ngưỡng mộ từ sinh viên, đồng nghiệp.
Cho đến nay, tại Việt Nam rất ít các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Trên thế giới đã
có một số nghiên cứu liên quan như: Behymer (1974), Finkelstein (1984) đã khẳng định tác
động của các yếu tố bên ngoài và bên trong đến năng suất nghiên cứu trong các khoa giảng dạy,
Bulter và Cantrell (1991) đã chứng minh tác động của 6 yếu tố bên ngoài đến việc thực hiện
NCKH, hay Chen, Gupta và Hoshower (2006) cũng đã công bố nghiên cứu của mình về những
yếu tố thúc đẩy đến từ môi trường bên ngoài và từ bên trong cá nhân trong việc thực hiện
nghiên cứu khoa học.
7
Luậnquan
văn Thạc
sĩ
1.1. Tổng
các nghiên
cứu trong nước:
HV: Vưu Thị Thùy Trang
Theo GS. Đào Trọng Thi: “Phải thay đổi cách nghĩ, cách làm thì nghiên cứu khoa học
trong trường ĐH mới có được chất lượng. Ở Việt Nam,
8 công tác quản lý rất yếu. Khi xét duyệt
đề tài, không chỉ xem dự toán có đúng yêu cầu không mà còn cần phải tính chi trả nhân công
Luận văn Thạc sĩ
HV: Vưu Thị Thùy Trang
một cách xứng đáng. Từ trước tới nay, ta vẫn coi cán bộ như là người ăn lương nên khi duyệt
kinh phí cho đề tài, chỉ tính đến phần mua cơ sở vật chất, thiết bị. Cán bộ không được trả công
thì người ta phải lấy lẹm vào phần mua nguyên vật liệu, vào phần
thực địa khảo sát, thậm chí phải trả tiền thuê sinh viên làm thêm, cứ thế thì nghiên cứu khoa
học làm sao có chất lượng được”.
Giảng viên và công tác nghiên cứu khoa học: Giảng viên trường đại học ngoài nhiệm
vụ giảng dạy còn phải tham gia nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên việc trong quá trình giảng
dạy phải luôn tiếp cận với kiến thức mới để cập nhật vào bài giảng và sử dụng phương pháp
giảng dạy mới. Điều đó yêu cầu một giảng viên đại học thực thụ phải là một chuyên gia về
một chuyên ngành nhất định. Do đó, giảng viên đại học bắt buộc phải tham gia công việc
nghiên cứu khoa học, vận dụng những kiến thức mới mẻ vào hoạt động thực tiễn, đồng thời
có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức sinh viên trong những hoạt động nghiên cứu khoa học, xem
đó là một trong những nhiệm vụ chính của mình.
Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong thì hoạt động khoa học công nghệ là
một trong những lĩnh vực quan trọng của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt trong giai đoạn quan
trọng, có tính bước ngoặc của dân tộc. Những năm qua, đội ngũ tham gia nghiên cứu khoa
học khá đông đảo, chất lượng khá đảm bảo. Tuy nhiên, so với nhịp độ phát triển nhanh như
hiện nay, lực lượng làm công tác khoa học tuy đông nhưng vẫn chưa đủ. Đội ngũ làm công
tác khoa học chưa được thống kê và chăm lo, thúc đẩy phát triển như mong muốn. Muốn đưa
được khoa học công nghệ vào cuộc sống, tác động vào nên kinh tế, đây phải là lực lượng
quan trọng, là chủ thể và trung tâm của công tác nghiên cứu khoa học.
Tại Việt Nam các công trình nghiên cứu về vấn đề động lực thúc đẩy giảng viên thực
Các biến nhân khẩu - xã hội học (socio-demographic variables) như: giới tính,
chủng tộc, tuổi tác.
2)
Các biến liên quan đến chuyên môn nghề nghiệp (professional career variables) như:
trường đào tạo, thành tích nghiên cứu, tuổi nghề, cấp bậc trong sự nghiệp
3)
Môi trường làm việc (enviromental variables): văn hóa nghiên cứu tại nơi làm việc, kinh
phí cho nghiên cứu, vị trí địa lí, hệ thống khen thưởng, hệ thống đánh giá năng lực làm việc
của khoa, viện đối với cá nhân.
4)
Các biến cố không thể kiểm soát (social contingencies): bao gồm các biến cố xảy ra với
từng cá nhân như sinh con, vợ/chồng bị bệnh, các xung đột trong gia đình, ...
Nghiên cứu của Sax và ctg (2002) khảo sát mức độ ảnh hưởng của giới tính và các yếu tố
thuộc nhóm các ảnh hưởng từ gia đình đến năng suất nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu đề xuất 5
nhóm yếu tố tác động đến năng suất nghiên cứu, bao gồm: 1/ Các biến nhân khẩu học; 2/ Đặc
điểm của nơi công tác (loại hình viện nghiên cứu, loại hợp đồng kí kết với cơ quan...); 3/ Đặc
điểm cá nhân (như học hàm, lương bổng, định hướng nghiên cứu, stress trong công việc); 4/
Lĩnh vực nghiên cứu (tuỳ theo cách phân loại, các lĩnh vực nghiên cứu được chia thành 3 cặp:
hard/ soft, cơ bản/ ứng dụng, life/ nonlife); 5/ Nhóm yếu tố liên quan đến gia đình, bao gồm tình
trạng hôn nhân, con cái, tress ở nhà, áp lực tài chính, thời gian dành cho việc nhà, chăm sóc con
cái... Với 8544 phản hồi từ các giảng viên toàn thời gian tại 57 trường đại học trên toàn Hoa Kỳ,
kết quả hồi quy đa biến cho thấy các biến liên quan đến tình trạng gia đình có tác động không
đáng kể, 2 nhóm yếu tố có tác động mạnh nhất là nhóm về đặc điểm môi trường làm việc và đặc
HV: Vưu Thị Thùy Trang
hài lòng vì những cống hiến của mình cho nền khoa học ..). Năng suất nghiên cứu có tương
quan dương với tình trạng hợp đồng với trường đại học (giảng viên được kí hợp đồng dài hạn
với trường có năng suất cao hơn), tỉ lệ % thời gian dành cho nghiên cứu trên tổng thời gian làm
việc (tỉ lệ % dành cho nghiên cứu càng cao thì năng suất càng cao), nhưng lại có tương quan âm
với số năm làm việc trong lĩnh vực giáo dục. Không có tương quan giữa năng suất nghiên cứu
với lĩnh vực mà giảng viên đang làm việc. Không có mối liên hệ giữa năng suất nghiên cứu và
giới tính. Như vậy, trong nghiên cứu này, Chen, Gupta & Hoshower (2006) đã tìm ra được các
yếu tố bên trong và các ảnh hưởng từ xã hội bên ngoài đến động cơ thực hiện nghiên cứu. Tuy
nhiên, nghiên cứu không có bước kiểm chứng từ động cơ đến hành vi, trong khi trong thực tế
các ý định muốn trở thành hành vi phải có thêm các điều kiện thuận lợi. Các yếu tố về môi
trường làm việc, năng lực, nguồn lực để thực hiện nghiên cứu đều được bỏ qua, xem như các
giảng viên đều có điều kiện, năng lực như nhau để thực hiện nghiên cứu.
Nghiên cứu của Azad & Seyyed (2007), áp dụng khung lý thuyết được xây dựng bởi
Blackburn & Lawrence (1995), qua phân tích dữ liệu từ 233 hồi đáp bằng cách so sánh giữa 2
nhóm: nhóm có năng suất nghiên cứu cao và có năng suất nghiên cứu thấp đã đưa ra các nhóm
yếu tố ảnh hưởng đến năng suất nghiên cứu tại các nước GCC (các tiểu vương quốc Ả Rập) như
sau: 1/ Nhóm các biến nhân khẩu học; 2/ Nhóm các biến về Sự tự biết mình và năng lực cá nhân
(Selfknowledge & individual competencies) thể hiện các động cơ dẫn đến việc thực hiện nghiên
cứu, các quan niệm của cá nhân về ý nghĩa của việc thực hiện nghiên
cứu đối với bản thân và việc đánh giá về các năng lực của bản thân để có thể thực hiện nghiên
cứu; 3/ Nhóm yếu tố về môi trường làm việc (work environment) thể hiện về những kỳvọng,
quy
địnhcủa nơi làm việc,
trợ vềnguồn lực
.. từ nơi làm việc để có
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Khái niệm:
Nghiên cứu khoa học:
Nghiên cứu là quá trình có hệ thống thu thập và phân tích thông tin để tăng sự hiểu biết
của chúng ta về hiện tượng này được nghiên cứu. Đây là chức năng của nhà nghiên cứu đóng
góp vào sự hiểu biết về hiện tượng này và để truyền đạt sự hiểu biết cho người khác.
Ngoài ra, gần giống với nghiên cứu, giải quyết vấn đề (problem solving) cũng dựa trên các
phương pháp thử và sai, quy nạp, diễn dịch để tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó. Tuy
nhiên, các giải pháp này được dựa trên nền các thông tin và kiến thức khoa học có sẵn để đưa ra
giải pháp cụ thể cho một vấn đề cụ thể trong thực tiễn. Hay nói cách khác, giải quyết vấn đề là
khi chúng ta đã có đủ mọi thông tin, và việc chúng ta phải làm là tìm ra mối liên hệ giữa các
thông tin đã có. Nghiên cứu khác với giải quyết vấn đề ở điểm: nghiên cứu là tìm ra những
thông tin mà người khác chưa tìm thấy.
Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa
trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,... đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra
những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và
phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
Tóm lại, nghiên cứu khoa học là quá trình áp dụng các ý tưởng, phương pháp và chuẩn
mực khoa học để tạo ra kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hoặc dự đoán các sự việc hay hiện
tượng (Cooper & Schindler, 2006).
Phân loại nghiên c ứu: Nghiên cứu được phân chia thành 2 loại:
Nghiên cứu cơ bản (basic research, pure research, fundamental research): đây là các
nghiên cứu nhằm tìm ra những tri thức khoa học làm12nền tảng cho các nghiên cứu cơ bản hay
nghiên cứu ứng dụng khác (theo định nghĩa của wikipedia). Một nghiên cứu cơ bản đạt tiêu
Luận văn Thạc sĩ
chuẩn là một nghiên cứu tìm ra được tri thức mới và
HV: Vưu Thị Thùy Trang
có
các
đặc
điểm
sau
(Dolhenty,
2003,
http://www.radicalacademy.com/essayscience3.htm):
Tính khách quan: các ý kiến và nhận định chủ quan của cá nhân không được ảnh hưởng
đến quá trình và kết quả nghiên cứu.
Sự chính xác: các thuật ngữ phải được định nghĩa chính xác, các khái niệm được giải thích
rõ ràng và sử dụng nhất quán, kết luận đưa ra phải chính xác. Các kết quả phải được kiểm định
và tự điều chỉnh.
Sản phẩ m của hoạt động nghiên cứu:
Sản phẩm chính
của hoạt
động nghiên cứu là kiến thức mới.
Cáckiến thức đó
các tri thức, kinh
nghiệm đến cho sinh viên, đội ngũ trí thức tương lai. Như vậy, một cá nhân thực hiện nghiên
cứu không phải chỉ vì đó là những quy định bắt buộc tại nơi làm việc hay tiêu chuẩn cơ bản để
được thăng tiến, vì học hàm, học vị, mà còn vì các lí do cá nhân như niềm say mê khám phá, sự
hiếu kỳ với kiến thức mới, lòng mong mỏi được đóng góp và kho tàng tri thức của nhân loại...
Thành quả (nâng suất) nghiên cứu khoa học:
Năng suất là thước đo hiệu quả hoạt động của một quá trình sản xuất, là tỉ lệ giữa sản
phầm đầu ra và các nguyên liệu đầu vào, hoặc được tính bằng mức tiêu thụ trong cùng một thời
gian (Witzel, 1999). Vì sản phẩm của việc nghiên cứu khoa học là các công bố mang tính học
thuật, năng suất nghiên cứu được Print & Hatie (1997) định nghĩa là tổng số các nghiên cứu
mang tính học thuật tại trường đại học trong một khoảng thời gian nhất định.
Các quan điểm khác như Jacobs và ctg, 1986; Kurz & ctg, 1989 cho rằng năng suất nghiên
cứu là một thước đo các nỗ lực trong hoạt động của giới học thuật. Gaston (1970) chỉ ra rằng
khái niệm này bao gồm hai yếu tố cấu thành: sự sáng tạo tri thức (tính bằng số nghiên cứu và sự
phân phối tri thức (tức là mức độ phổ biến của tri thức nghiên cứu được).
Theo đó, thành quả nghiên cứu được thể hiện thông qua số lượng những công trình trên
các tạp chí khoa học chuyên ngành; kỷ yếu hội nghị; viết sách; hướng dẫn luận văn hoặc các
nghiên cứu của học viên cao học, nghiên cứu sinh; được các thừa nhận của giới nghiên cứu;
chịu trách nhiệm chủ nhiệm đề tài; nhận các bằng sáng chế và
các khảo sát chuyên sâu; phát
triển
bản quyền;
thựchiện
các thiết
bình luận bởi hội đồng, (2) Tiêu chí đăng tải của các tạp chí khác nhau, có tạp chí chú trọng vào
sự đóng góp, củng cố vào kiến thức nền tảng, có tạp chí lại chú trọng vào việc sáng tạo ra tri
thức mới,
(3) Chất lượng nghiên cứu có thể được nhìn nhận khác nhau theo các hội đồng khác nhau.
Cách đánh giá thứ hai dựa trên số lần được trích dẫn. Thực tế là một công trình được nhiều
người trích dẫn chứng tỏ công trình đó có tác động lớn đến các nghiên cứu sau và đó là công
trình có giá trị. Tuy nhiên, cũng không phải không có trường hợp trích dẫn một kết quả để
chứng minh rằng kết quả đó không có giá trị. Hơn nữa, việc đếm số lần trích dẫn cũng có một số
hạn chế đáng kể như: (1) một công trình được phổ biến rộng rãi trên nhiều tạp chí thì sẽ được
biết đến nhiều và đuợc trích dẫn nhiều; (2) hoặc các nhà nghiên cứu mới vào nghề, có các bài
báo viết chung khi được trích dẫn bài báo của mình thường bị bỏ sót tên; (3) việc trích dẫn vẫn
còn tiếp tục vô hạn trong tương lai trong khi thời gian khảo sát là hữu hạn..
Ngoài ra, để đánh giá năng suất nghiên cứu theo cả 2 khía cạnh số lượng và chất lượng,
Smith & ctg (2008) đã đưa ra quá trình đánh giá thông qua 4 bước như sau:
Bước 1 : xác định số lượng của các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí có uy tín.
15
Bước 2: xác định phần trăm đóng góp trong công trình, một công trình có càng nhiều đồng tác
Luận văn Thạc sĩ
HV: Vưu Thị Thùy Trang
giả thì phần trăm đóng góp của mỗi cá nhân càng nhỏ (theo Young và ctg, 1996).
Bước 3: xác định trọng số cho các tạp chí. Mỗi một công trình khi được công bố trên các tạp chí
khác nhau sẽ có số điểm khác nhau, trọng số cho các tạp chí được xác định dựa trên cảm nhận
của các chuyên gia về độ uy tín của tạp chí đó, tạp chí càng uy tín thì số điểm càng cao (theo
Malhotra & Kher,1996; Babbar và ctg, 2000).
Bước 4: với mục đích tạo ra sự công bằng cho những nhà nghiên cứu có kinh nghiệ m nhiều và
nhà nghiên cứu có kinh nghiệm ít hơn, số lượng công trình được chia cho thời gian tính từ lúc
nhà nghiên cứu nhận bằng tiến sĩ đến lúc thực hiện khảo sát (theo Fogarty & Ruhl, 1997).
Ngoài ra, cách đánh giá thành quả khoa học cũng được dựa trên chỉ số H (trích nguồn:
Luận văn Thạc sĩ
từ công việc đó.
Thuyết mong đợi bao
HV: Vưu Thị Thùy Trang
gồm3 cặp khái niệm: mong đợi giữa sự nỗ lực - thành
tích, mong đợi giữa thành tích - lợi ích, giá trị của phần thưởng (valence).
Mong đợi giữa sự nỗ lực - thành tích (EP) có nghĩa là mức độ mà một người đánh giá khả
năng của mình và nhận thức của cá nhân đó về những yếu tố trong môi trường công việc mà họ
xứng đáng nhận được (Bateman & Zeithaml, 1993). Sự mong đợi là niềm tin rằng khi một cá
nhân nỗ lực (E) thì họ sẽ đạt được các kết quả (P) mong muốn. Niềm tin này dựa trên kinh
nghiệm quá khứ của cá nhân, sự tự tin, và sự đánh giá về độ khó của mục tiêu (Bartol & ctg,
1998). Đối với các mục tiêu, cá nhân phải tự tin rằng khả năng của mình cao hơn mục tiêu kỳ
vọng. Ngược lại, nếu một người nhận thấy rằng khả năng của mình không thể với tới mục tiêu
thì động cơ thúc đẩy việc thực hiện
của họ sẽ thấp. Mặt khác, nếu mục
tiêu được đặt
quá cao dẫn đến xác suất thành công thấp thì cũng đưa đến sự mong đợi thấp.
Mong đợi giữa thành tích - lợi ích mang lại (PO) được hiểu là khả năng thành tích đạt
được sẽ đem đến những lợi ích nào. Các lợi ích bao gồm các phần thưởng tiềm năng như tiền
thưởng hay sự thăng tiến (các phần thưởng này gọi là phần thưởng mang giá trị vật chất, thể
hiện ra bên ngoài cá nhân), hay cảm giác thành công (phần thưởng mang giá trị tinh thần, thoả
mãn nội tâm bên trong cá nhân.
Giá trị của phần thưởng (Valence) là sự đánh giá của cá nhân về các giá trị của phần
hệhành vi
đóvới
dẫn đến
hành
vi
nhữnghậu quả và các
thuộc tính khác nhau.
Chuẩn chủ quan (SN): Chuẩn chủ quan là sức ép xã hội về mặt nhận thức để tiến hành
hoặc không tiến hành hành vi nào đó. Tương tự như mô hình kỳ vọng - giá trị về thái độ dẫn
đến hành vi, giả định rằng Chuẩn chủ quan được định nghĩa là toàn bộ những niềm tin được
chuẩn hóa liên quan đến mong đợi về những ám chỉ quan trọng.
Nhận thức về kiểm soát hành vi (PBC): Nhận thức về kiểm soát hành vi nói đến nhận thức
của con người về khả năng của họ để thực hiện một hành vi đã qui định. Tương tự như mô hình
kỳ vọng - giá trị về thái độ dẫn đến hành vi, giả định rằng Nhận thức về kiểm soát hành vi được
định nghĩa là toàn bộ niềm tin về sự kiểm soát, ví dụ như, những niềm tin về sự hiện diện của
các yếu tố xúc tiến hoặc cản trở sự thực hiện hành vi.
Ý định (I): Ý định là sự biểu thị về sự sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một hành vi đã
qui định, và nó được xem như là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi. Ý định dựa trên các ước
lượng bao gồm Thái độ dẫn đến hành vi, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi và
các trọng số được gán cho mỗi ước lượng này tùy vào tầm quan trọng của chúng.
Hành vi (B): Hành vi là sự phản ứng hiển nhiên có thể nhận thấy được thực hiện trong tình
huống đã qui định cùng với mục tiêu đã qui định trước đó. Những quan sát hành vi đơn lẻ có thể
được tổng hợp nhiều lần trong các phạm vi để tạo ra một phép đo tiêu biểu về hành vi mang tính
bao quát. Theo TPB, Hành vi là một hàm bao gồm các
19
Thái độ đối với việc thực hiện nghiên cứu: Theo lý thuyết hành vi hoạch định
Luận văn Thạc sĩ
HV: Vưu Thị Thùy Trang
(Azjen,1991), thái độ dẫn đến hành vi là mức độ mà biểu hiện của hành vi đó được chính bản
thân cá nhân đánh giá là tích cực hoặc tiêu cực. Như vậy, thái độ đối với việc thực hiện nghiên
cứu chính là các quan điểm, đánh giá của các giảng viên đối với việc thực hiện nghiên cứu khoa
học. Điều này cũng có nghĩa là việc thực hiện nghiên cứu khoa học đối với mỗi cá nhân sẽ có
một mức ý nghĩa khác nhau; cũng như họ có những cảm nhận khác nhau về các lợi ích mang lại
cho bản thân và xã hội khi thực hiện nghiên cứu khoa học. Và, từ những đánh giá đó đã tạo
động lực cho các giảng viên thực hiện nghiên cứu (Sax và ctg (2002); Chen, Gupta & Hoshower
(2006); Azad & Seyyed, (2007)).
Các biến cố nằm ngoài tầm kiểm soát: Nhóm các yếu tố này đã được kiểm chứng trong các
nghiên cứu trước (Creamer, 1995, 1998; Hamovitch & Morgenstern, 1977; Astin & Davis,
1985; Sax và ctg, 2002; Chen, Gupta & Hoshower, 2006; Azad & Seyyed, 2007) và kết quả là
có ảnh hưởng.
Thực tế hiện nay Giảng viên không chỉ sống nhờ vào việc giảng dạy, nghiên cứu thuần túy mà
còn phải tham gia nhiều vào các hoạt động xã hội, tham gia cố vấn ... để có thể đảm bảo tài
chính gia đình cũng như điều kiện cho bản thân có được các kiến thức thực tế để đem vào bài
giảng thì nhóm yếu tố này cần được đưa vào mô hình để có thể khảo sát mức độ ảnh hưởng đến
thành tích nghiên cứu.
Nhận thức về kiểm soát hành vi nghiên cứu: Theo lý thuyết hành vi hoạch định thì nhận
thức về kiểm soát hành vi được định nghĩa là toàn bộ niềm tin về sự kiểm soát. Áp dụng vào
việc nghiên cứu hành vi thực hiện nghiên cứu khoa học của các giảng viên, được hiểu là sự tự
đánh giá của cá nhân về khả năng thực hiện nghiên cứu khoa học của mình. Các yếu tố cá nhân
dùng để đánh giá khả năng thành công của mình bao gồm năng lực cá nhân (Azad & Seyyed
(2007)), điều kiện và môi trường làm việc (Blackburn & Lawrence, 1995; Sax và ctg, 2002;
với
đối
tượng
trả
lời
là các
giảng viên.
Các bước thực hiện nghiên cứu:
Bước 1: Xây dựng thang đo:
Thang đo sơ bộ được dựa vào các thang đo của các nghiên cứu trước đây tại các nước và
được sắp xếp lại theo mô hình lý thuyết TPB. Để kiểm định lại các thang đo xem có phù hợp
hay chưa, tác giả thực hiện nghiên cứu sơ bộ.
Bước 2: Nghiên cứu sơ bộ:
Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu dựa trên thang đo sơ bộ ban đầu. Mục đích của các cuộc
phỏng vấn này là: (1) khám phá các yếu tố thúc đẩy bản thân đối tượng được phỏng vấn thực
hiện nghiên cứu khoa học. Từ đó đưa ra các điều chỉnh và/ hoặc thêm bớt các câu hỏi cho phù
hợp; (2) tham khảo ý kiến của các đối tượng phỏng vấn về cách thức đo lường khái niệm thành
quả nghiên cứu phù hợp với thực tế hiện nay. Cuộc phỏng vấn được thực hiện đối với giảng
viên có học vị tiến sĩ và có kinh nghiệm nghiên cứu tại trường Đại học Bách Khoa - ĐHQGHCM.
Bước 3: Hoàn chỉnh thang đo chính thức:
Từ các thang đo ban đầu, thang đo chính thức được hiệu chỉnh dựa trên kết quả nghiên
cứu sơ bộ. Các điều chỉnh này bao gồm chỉnh sửa từ ngữ, nội dung câu hỏi, hình thức thang đo
và hình thức bảng câu hỏi.
Bước 4: Thu thập dữ liệu chính thức:
Thu thập dữ liệu chính thức được thực hiện tại các khoa của trường bằng cách gửi bảng
câu hỏi trực tiếp đến các giảng viên. Sau đó loại ra các bảng câu hỏi không hợp lệ và nhập dữ
liệu . Công cụ thu thập là bảng câu hỏi đã được hiệu chỉnh.
Bước 5: Xử lý kết quả:
21
năng lực và nguồn lực).
Công cụ thực hiện phỏng vấn là bảng câu hỏi (phụ lục). Kết quả phỏng vấn định tính được
trình bày trong bảng 3.1 dưới đây.
22
sĩ
BảngLuận
3.1 -văn
KếtThạc
quả phỏng
vấn:
Các chủ đề thảo luận
HV: Vưu Thị Thùy Trang
Ý kiên giảng viên
1. Giảng viên thấy các lợi ích,
a. ýNghiên cứu sẽ giúp cho giảng viên hiêu rõ hơn và sâu hơn
nghĩa của việc thực hiện
về lý thuyết và thực tiễn, từ đó hỗ trợ cho hoạt động giảng
nghiên cứu khoa học như
dạy bằng cách đưa các kết quả nghiên cứu vào trong bài
thế nào?
HV: Vưu Thị Thùy Trang
c. Giảng viên có học vị tiến sĩ thường khối lượng giảng dạy
rất nhiều nên thời gian dành cho nghiên cứu hạn chế.
d. Một số quy định, hướng dẫn còn chưa rõ ràng và hợp lý
gây khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu
3. Để đẩy mạnh hoạt động nghiên Bản thân giảng viên: cần có sự đam mê, nhiệt quyết nghiên
cứu khoa học cần cải tiến vần đề cứu. Cần có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu.
Giảng viên phải giỏi ngoại ngữ và có mối quan hệ tốt với
gì?
các doanh nghiệp. Giảng viên cần dành thời gian hợp lý
cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu.
Cơ sở vật chất: cần có thêm nguồn để truy cập tài liệu
tham khảo, hệ thống phòng thí nghiệm với đầy đủ trang
thiết bị cần thiết cập nhật công nghệ mới.
Tăng nguồn kinh phí cho đề tài.
3.3. Xây dựng thang đo:
3
- -* rp * r•
^ -* Ạ • ĩ • *Ạ 11
_
■