Hà Nội - 2009
1
CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƢỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
MÃ SỐ: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THỊ MINH LOAN
Hà Nội - 2009
2 LỜI CAM ĐOAN
Trang
Trang phụ bìa
1
Lời cam đoan
2
Mục lục
3
Danh mục các chữ viết tắt
5
Danh mục các bảng
6
Danh mục các biểu đồ
7
MỞ ĐẦU
8
1. Lý do chọn đề tài
8
2. Mục đích nghiên cứu
9
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
9
4. Giả thuyết nghiên cứu
9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
10
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
11
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
4
3.6. Thích ứng với các mối quan hệ ở trƣờng cao đẳng
80
3.7. Tổng hợp mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên
84
3.8. Kết quả phỏng vấn sâu một số trƣờng hợp
94
3.9. Một số yếu tố cơ bản tác động đến mức độ thích ứng nghề nghiệp của
sinh viên
97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
106
1. Kết luận
106
2. Kiến nghị
107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
110
PHỤ LỤC
113
HSSV
Học sinh, sinh viên
5
KNNN
Kỹ năng nghề nghiệp
6
KQHT
Kết quả học tập
7
MQH
Mối quan hệ
8
NDHT
Nội dung học tập
9
PPHT
Phƣơng pháp học tập
10
SD
Độ lệch chuẩn
11
TB
Trung bình
12
TTNN
Tâm thế nghề nghiệp
13
TĐHT
Thái độ học tập
14
Bảng 3.7:
Cách lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập của sinh viên
Bảng 3.8:
Cách ghi bài của sinh viên trên lớp
Bảng 3.9:
Cách tìm kiếm tài liệu học tập của sinh viên
Bảng 3.10:
Thích ứng của sinh viên với kỹ năng soạn và giảng bài
Bảng 3.11:
Thích ứng của sinh viên với kỹ năng đặt câu hỏi
Bảng 3.12:
Thích ứng của sinh viên với kỹ năng kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh
Bảng 3.13:
Thích ứng của sinh viên với việc tham gia các hoạt động tập thể
Bảng 3.14:
Thích ứng của sinh viên với việc sử dụng các phƣơng tiện học tập
Bảng 3.15:
Thích ứng của sinh viên với các điều kiện học tập, sinh hoạt
Bảng 3.16:
Thích ứng của sinh viên với các mối quan hệ ở trƣờng CĐSP
Bảng 3.17:
Thích ứng của sinh viên với MQH bạn bè
Bảng 3.18:
Thứ hạng các chỉ số thích ứng với ngành học của sinh viên
Bảng 3.19:
Mối quan hệ giữa mức độ TƢNN và kết quả học tập của sinh viên
Bảng 3.20:
Mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên theo năm học
Bảng 3.21:
Mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên theo vùng miền
Biểu đồ 3.10:
Mức độ TƢNN của sinh viên theo vùng, miền
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bƣớc vào thế kỷ 21, với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, chất
lƣợng nguồn nhân lực là lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia và là động lực
chủ yêú đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi nƣớc. Do đó, nhu cầu cấp
thiết của tất cả các quốc gia là phải không ngừng nâng cao chất lƣợng nguồn
nhân lực, mà trách nhiệm đó trƣớc hết thuộc về giáo dục đào tạo, đặc biệt là
giáo dục đại học, cao đẳng. Trong những năm gần đây, giáo dục nƣớc ta mặc
dù đã có nhiều cố gắng và đạt đƣợc một số kết quả bƣớc đầu, nhƣng chất
lƣợng và hiệu quả giáo dục vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất
một số giải pháp giúp sinh viên có khả năng thích ứng cao hơn với ngành học,
nghề nghiệp tƣơng lai của mình.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trƣờng CĐSP Sơn La.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu mức độ TƢNN của
sinh viên các chuyên ngành sƣ phạm của trƣờng CĐSP Sơn La gồm 231 sinh
viên thuộc 3 chuyên ngành với số lƣợng cụ thể nhƣ sau:
- Ngành CĐSP Toán-Lý: 85 SV
- Ngành CĐSP Văn-Sử: 68 SV
- Ngành CĐSP Mầm non: 78 SV.
Đó là những SV đang học ở 3 khoá: Năm thứ nhất: 69 sinh viên, năm
thứ hai: 83 sinh viên, năm thứ ba: 79 sinh viên.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Nhìn chung mức độ TƢNN của sinh viên trƣờng CĐSP Sơn La còn
thấp. Mức độ TƢNN của sinh viên tƣơng quan thuận với KQHT của sinh viên
và có sự khác biệt về mức độ TƢNN giữa sinh viên các khoá học và sinh viên
các vùng miền khác nhau.
Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hƣởng đến mức độ TƢNN của sinh
viên, nhƣng trong đó yếu tố chủ quan ảnh hƣởng mạnh nhất đó là động cơ,
10
thái độ học tập của sinh viên.
Từ giả thuyết nghiên cứu trên, chúng tôi có các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Liệu những sinh viên có mức độ TƢNN cao có KQHT tốt hơn các sinh
viên có mức độ TƢNN thấp hay không?
- Mức độ TƢNN của sinh viên năm thứ ba có cao hơn sinh viên năm thứ
nhất và năm thứ hai hay không?
- Liệu những sinh viên sống ở khu vực thành thị có mức độ TƢNN cao
và đang nghiên cứu về sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên để xác định
các biểu hiện và tiêu chí đánh giá mức độ TƢNN của sinh viên.
6.6. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kết quả học tập nhƣ là sản phẩm
của hoạt động học tập và so sánh kết quả này với mức độ TƢNN của sinh viên.
6.7. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các kết quả nghiên cứu bằng
phần mềm SPSS 13.0
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
7.1. Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần vào
việc hệ thống hoá các tài liệu, các công trình nghiên cứu về vấn đề thích ứng
nghề nghiệp của sinh viên nói chung và mức độ TƢNN của sinh viên sƣ phạm
nói riêng, qua đó làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu này. Mặt khác,
đề tài góp phần vào việc xây dựng hệ thống các chỉ số để đánh giá mức độ
TƢNN của sinh viên.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở khảo sát mức độ TƢNN của sinh
viên trong quá trình học tập ở trƣờng cao đẳng sƣ phạm Sơn La, đƣa ra các
chỉ số đánh giá cụ thể, rõ ràng để làm rõ thực trạng của vấn đề này. Từ đó, tìm
ra những nguyên nhân, hạn chế và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng
cao mức độ TƢNN của sinh viên, giúp sinh viên nhanh chóng hoà nhập với
hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trƣờng, đáp ứng với yêu cầu của cơ sở tuyển
dụng và xã hội. 12
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
điều kiện mới một cách không gượng ép. Từ đó tác giả đƣa ra định nghĩa về
thích ứng: " là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ƣu có mục đích
của nhân cách, tức là con ngƣời vừa thích nghi với điều kiện mới, vừa phải
chủ động thâm nhập vào những điều kiện đó để xây dựng một chế độ hoạt
động mới, phù hợp và đáp ứng những yêu cầu của điều kiện mới".
Ngoài ra, trong cuốn "Con ngƣời và xã hội ", D.A. Andreeva đã so sánh
khái niệm " thích ứng và xã hội hoá". Bà cho rằng, hai khái niệm này có sự
khác biệt về nội dung: thích ứng phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của
con ngƣời. Thích ứng nhấn mạnh vai trò tích cực của chủ thể với môi trƣờng
mới. Còn "xã hội hoá", về cơ bản phản ánh sự tác động của xã hội tới cá nhân.
A.S. Serbacov và A.B. Mudric đã nghiên cứu "sự thích ứng nghề nghiệp
của ngƣời thầy giáo" và đã nêu lên quan niệm chung về sự thích ứng của
ngƣời thầy giáo. Những yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hƣởng đến
hiệu quả của sự thích ứng đó".
Năm 1980, trong tập chí "Những vấn đề tâm lý học" số 4, A.A. Krintreva
đã trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm lý của sự
thích ứng đối với sản xuất ở những học sinh mới ra trƣờng ở các trƣờng trung
cấp kỹ thuật chuyên nghiệp và trƣờng phổ thông trung học. Tác giả cho rằng:
thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần vào sản
xuất. A.A. Krintreva cũng đƣa ra một số chỉ số đặc trƣng của sự thích ứng nghề
nghiệp đó là:
- Sự thích ứng nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất, các
chuẩn mực kỹ thuật.
- Sự phát triển tay nghề.
- Vị trí xã hội trong tập thể.
- Sự hài lòng đối với công việc và vị thế của mình trong tập thể.
Năm 1925, Harvey Carr cho rằng học tập là một công cụ quan trọng
đƣợc con ngƣời sử dụng để thích nghi với môi trƣờng, nghề nghiệp. Ông đã
14
15
Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung trong đề tài luận văn thạc sỹ "Bƣớc
đầu tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lý giáo dục" đã đƣa
ra một số tiêu chí để đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp của giáo viên
tâm lý - giáo dục.
Nguyễn Ngọc Bích (1982), khoa Tâm lý - giáo dục trƣờng đại học sƣ
phạm Hà Nội có đề tài nghiên cứu mang tên: "Thích ứng học đƣờng của sinh
viên sƣ phạm".
Nguyễn Thị Trang (1982), trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội "Bƣớc đầu
tìm hiểu sự thích ứng học tập của sinh viên khoa Tâm lý - giáo dục".
Hoàng Trần Doãn (1983), luận văn thạc sỹ "Sự thích ứng với hoạt động
học tập của sinh viên khoa Văn và Toán trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội I".
Phạm Thị Ngần (1986), Luận văn tốt nghiệp cử nhân "Tìm hiểu sự thích ứng
học tập ở nữ sinh năm thứ nhất trƣờng đại học Khoa học xã hội và Nhân văn".
Trịnh Ngọc Tân (1986) với đề tài "Bƣớc đầu tìm hiểu kết quả của một số
biện pháp nâng cao tốc độ thích ứng học tập của sinh viên năm thứ nhất".
Lê Thị Hƣơng (1998) với luận văn thạc sỹ Tâm lý học "Nghiên cứu sự
thích ứng với hoạt động học tập ở sinh viên năm thứ nhất trƣờng CĐSP
Thanh Hoá".
Đỗ Mạnh Tôn với luận án PTS: "Sự thích ứng của sinh viên đối với học
tập và rèn luyện của học viên các trƣờng sỹ quan quân đội".
Năm 2003, Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ đã tiến hành nghiên cứu đề
tài "Nghiên cứu sự TƢ của sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Hà Nội
với môi trƣờng đại học" do PGS.TS. Trần Thị Minh Đức là chủ nhiệm đề tài.
Vũ Mộng Đoá (2006) với luận văn thạc sỹ Tâm lý học " Sự thích ứng
với hoạt động học tập của sinh viên khoa Công tác xã hội và phát triển cộng
đồng trƣờng đại học Đà Lạt"
Dƣơng Thị Nga (2007), với luận văn thạc sỹ "Hình thành khả năng thích
ứng nghề cho sinh viên CĐSP qua giảng dạy học phần: Tâm lý học lứa tuổi
ứng là không học đƣợc hoặc hành vi học đƣợc không đáp ứng đƣợc yêu cầu
của môi trƣờng. Việc học tập đƣợc J. Watson xem xét dƣới góc độ hành thành
kinh nghiệm và hành vi cá thể (tập nhiễm) … Với lý luận hành vi, ông coi con
ngƣời là một cơ thể sống với một hệ thống kỹ xảo đã đƣợc học đáp ứng với
17
những đòi hỏi của môi trƣờng xung quanh [7].
Sau này lý thuyết Hành vi còn có một xu hƣớng phát triển khác là tâm lý
học hành vi nhận thức mà tiêu biểu là W. Mischel. Trƣờng phái này chú trọng
vai trò nhận thức của con ngƣời trong quá trình thích ứng. Ông đã nhìn nhận
hành vi thích ứng một cách đầy đủ toàn diện hơn. Cùng với việc chú ý đến vai
trò của yếu tố bên trong, W. Mischel đã phát hiện ra tính tích cực của chủ thể
thích ứng.
Mặc dù chƣa vạch ra đƣợc bản chất đích thực của sự thích ứng tâm lý ở
ngƣời, nhƣng chủ nghĩa hành vi đã có những đóng góp nhất định vào việc giải
quyết vấn đề này.
*) Tâm lý học nhân văn về vấn đề thích ứng
Đại diện tâm lý học Nhân văn là A. Maslow. Ngƣợc lại với chủ nghĩa
Hành vi, trƣờng phái này lấy nhân cách là đối tƣợng nghiên cứu, xem nhân
cách là một hiện tƣợng chỉ có ở ngƣời, là một hệ thống mở nhƣng trọn vẹn và
tự thể hiện. Đó là năng lực bộc lộ tiềm năng sáng tạo, tin vào bản thân và
tƣơng lai. Động lực thực sự của hành vi thích ứng là nhu cầu hƣớng thiện, vị
tha, vì xã hội. Thích ứng là những ứng xử tích cực của cá nhân với tƣ cách là
chủ thể với thế giới xung quanh và với chính mình.
A. Maslow coi thích ứng là sự thể hiện đƣợc những cái vốn có của cá
nhân trong những điều kiện sống nhất định. Sự không thích ứng chính là sự
không đƣợc tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hƣởng tới sự phát triển nhân
cách. Tiền đề tạo ra sự thích ứng là một hệ thống nhu cầu của nhân cách,
đƣợc sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu
bẩm sinh nhƣng có tính chất nhân văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp
môi trƣờng.
J. Piaget đã có những đóng góp quan trọng vào lý luận về sự thích ứng
tâm lý ở con ngƣời và cơ chế phát triển của thích ứng nhận thức, về những
yếu tố ảnh hƣởng đến nó. Tuy nhiên, J. Piaget đã nhìn nhận sự phát triển tâm
lý dƣới góc độ thích nghi sinh học, ông chủ yếu chú ý tới mặt hình thức của
sự thích ứng mà chƣa quan tâm đúng mức đến bản chất, nội dung xã hội - lịch
sử của sự thích ứng tâm lý ngƣời. Ông đã đánh giá quá cao yếu tố thành thục
trong sự thích ứng và sự thích ứng diễn ra nhƣ thế nào chứ chƣa coi trọng vấn
19
đề làm thế nào để phát triển sự thích ứng ở trẻ em cũng nhƣ các giai đoạn lứa
tuổi khác.
*) Phân tâm học về vấn đề thích ứng
Phân tâm học là do S. Freud (ngƣời Áo) khởi xƣớng. Xuất phát từ cách
nhìn sinh vật học đối với nhân cách, cho rằng nhân cách là một cấu trúc tổng
thể trọn vẹn với 3 thành tố "cái nó" (Id), "cái tôi" (ego) và "cái siêu tôi"
(superego) có vai trò và chức năng khác nhau đối với đời sống con ngƣời.
Theo S.Freud, hành vi sống của con ngƣời có hình thức căn bản và đƣợc thúc
đẩy bởi bản năng, mà quyết định là bản năng tính dục và bản năng xâm chiếm
… Tuy nhiên, cái bản năng này luôn bị cấm đoán bởi cái xã hội (cái siêu tôi).
Để tồn tại, con ngƣời phải đạt đƣợc sự cân bằng, sự hài hoà giữa hai cái đối
lập "cái nó" và "cái siêu tôi" - đó chính là sự thích ứng. Sự thích ứng là sự
thoả mãn hợp lý các bản năng tình dục trong những điều kiện xã hội nhất
định. Sự phát triển "cái tôi" nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai
đoạn khác nhau của đời sống cá thể. Lý thuyết Phân tâm cổ điển của S. Freud
xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên không phát hiện đƣợc bản chất xã
hội - lịch sử của sự thích ứng ở con ngƣời.
Sau này, những ngƣời kế tục S. Freud đã xây dựng nên trƣờng phái Phân
tâm hiện đại nhƣ: C. Jung, E. Fromm và E. Erikson. Các ông cho rằng S.
Freud quá đề cao "cái nó", cái bản năng trong hành vi con ngƣời. Theo họ,
Động lực của sự thích ứng là "lo hãi" bản năng của cá nhân trƣớc các
tình huống mới lạ, cái mà con ngƣời thƣờng xuyên gặp phải và "lo hãi" là cái
không thể loại trừ. Vấn đề là con ngƣời thƣờng xuyên phải đối phó với "lo
hãi" bằng sự thích nghi và thích ứng để có hành vi phù hợp vơí tình huống.
Để có chúng, bên cạnh sự thích nghi, ở cá nhân phải có sự thích ứng mà thực
chất là sự đối phó với tình huống bằng các phƣơng thức tâm lý khác nhau
gồm có: Phóng chiếu, chuyển dịch, huyễn tƣởng, thoái lui, né tránh, thăng
hoa… Nhờ các phƣơng thức này, con ngƣời giảm nhẹ lo hãi, tạo thế cân bằng
động với môi trƣờng và tạo ra sự hài hoà trong quan hệ giữa bản thân với
ngƣời khác. Mỗi hành vi ứng xử đặc thù của cá nhân trƣớc một tình huống
mới là kết quả tổng hoà của cuộc sống và thoả mãn các nhu cầu của chính
mình. Sự không thích ứng sẽ tạo ra những stress và là căn nguyên của đa số
21
các trƣờng hợp bệnh lý tâm căn.
Mặc dù chƣa giải thích đƣợc bản chất sự thích ứng của con ngƣời, Phân
tâm học chứa đựng những điểm hợp lý cần đƣợc chú ý về mặt lý luận và thực
tiễn của vấn đề. Đó là vai trò của vô thức, bản năng xung đột tâm lý trong quá
trình thích ứng, hậu quả của việc thích ứng và cách thức giải toả hậu quả này.
*) Tâm lý học Mác xít về vấn đề thích ứng
Cùng với việc phê phán cách tiếp cận sai lầm trên, tâm lý học Mác-xít
giải quyết vấn đề theo một hƣớng hoàn toàn khác. Một mặt, thừa nhận con
ngƣời phải thích nghi với môi trƣờng sống nhƣ là một sinh vật "vì con ngƣời
là một tồn tại tự nhiên, nên đƣơng nhiên nó không thể đứng ngoài sự tác động
của môi trƣờng". Mặt khác, khẳng định con ngƣời là một thực thể xã hội nên
"phải đặt vấn đề" một cách khác: khi nói về con ngƣời, tức là vấn đề quan hệ
"ngƣời xã hội" trở thành vấn đề chủ yếu, thì cái gì là nội dung mới của vấn đề
"cơ thể - môi trƣờng".
L.X. Vƣgôtxki đã chỉ rõ "Quá trình một đứa trẻ bình thƣờng ăn nhập nền
văn minh thƣờng thống nhất với các quá trình cơ thể chín muồi. Hai bình
"cuộc sống xã hội tạo ra tất yếu buộc hành vi cá thể phải tuân thủ các yêu cầu
xã hội"[8, tr.138]. Đó là loại hành vi đặc thù đƣợc quy định bởi xã hội. Để có
chúng, cá nhân cần phải lĩnh hội từ xã hội. Mặt khác, để điều khiển những
hành vi này cần có những nguyên tắc chuyên biệt ngƣời, đó là nguyên tắc tự
kích thích và làm chủ bản thân. Nguyên tắc này có đƣợc ở cá nhân cũng nhờ
sự chuyển hoá từ tác động xã hội bên ngoài thành tác động xã hội bên trong
con ngƣời. L.X. Vƣgôtxki viết: "Mọi chức năng trong phát triển văn hoá của
trẻ xuất hiện trên vũ đài hai lần, trong hai bình diện - lúc đầu trong bình diện
xã hội rồi sau đó trong bình diện tâm lý, lúc đầu giữa con ngƣời với con
ngƣời, rồi sau ở bản thân trẻ, tức là có sự chuyển hoá từ ngoài vào trong, dần
dần thay đổi cấu trúc và chức năng" [8, tr.156]. Với việc phát hiện ra dạng
thức cấp cao của hành vi ngƣời, cơ chế của sự hình thành và điều khiển nó ở
cá nhân. L.X. Vƣgôtxki đã thấy sự khác biệt cơ bản của sự thích ứng tâm lý -
xã hội ở ngƣời và sự thích nghi sinh học ở động vật. Theo đó, sự thích ứng
của trẻ em trong môi trƣờng xã hội là một quá trình kép. Một mặt trẻ hình
thành các dạng thức cấp cao của hành vi, mặt khác, hình thành các chức năng
23
tâm lý cấp cao để trở thành chủ thể của các hành vi đó. Cả hai mặt của quá
trình này đều đƣợc thực hiện bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hoá - xã hội.
Những tƣ tƣởng đúng đắn, biện chứng của L.X.Vƣgôtxki đã đƣợc các nhà tâm
lý học Xô viết kế thừa, phát triển và cụ thể hoá. Quan điểm của ông cũng là
kim chỉ nam cho việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của luận văn này.
Xuất phát từ nhữg luận điểm cơ bản của tâm lý học Mác- xít đƣợc khởi
xƣớng bởi L.X. Vƣgôtxki, A.N. Leonchiep đã phân tích sự khác biệt cơ bản
giữa sự phát triển con ngƣời với sự thích nghi của cá thể sinh học về nội dung
và cơ chế. Ông viết "Phải nhấn mạnh riêng về sự khác biệt giữa quá trình ấy
(tiếp thu, lĩnh hội) với quá trình cá thể thích nghi với môi trƣờng tự nhiên, vì
gần nhƣ mọi ngƣời chấp nhận rằng, có thể đem khái niệm thích nghi, cân
bằng với môi trƣờng dùng nguyên vẹn vào cho sự phát triển cá thể ngƣời.
thành một quá trình tích cực. Trong đó, con ngƣời không chỉ đáp ứng tác
động của môi trƣờng mà còn cải tiến nó một cách tích cực. Tuy nhiên, sự
thích ứng không đồng nhất với sự hình thành nhân cách. Đó là quá trình
tƣơng tác biện chứng giữa nhân cách và môi trƣờng xã hội mà cả hai phía đều
có sự thay đổi để trở nên phù hợp với nhau, đặc biệt là phía nhân cách. Vì vậy
sự hình thành nhân cách và mức độ của nó không tất yếu quyết định mức độ
thích ứng của cá nhân. Nhƣng sẽ không có sự thích ứng nếu không có sự hình
thành nhân cách ở trình độ nhất định. Vì vậy, có những ngƣời có nhân cách
cao nhƣng không thích ứng đƣợc trong những môi trƣờng xã hội nhất định
hay ngƣời ngƣời có nhân cách mang bản chất xã hội này nhƣng có thể thích
ứng với môi trƣờng xã hội có bản chất khác.
Sau này một số nhà tâm lý học Mác xít tiếp tục nghiên cứu vấn đề này,
tiêu biểu nhƣ: E.A.Ermolaeva, A.I.Serbacov, A.V.Mudric, D.A.Antreeva,
E.A.Golomstooc …
E.A.Ermolaeva đã định nghĩa và đƣa ra những chỉ số đặc trƣng cho sự
thích ứng nghề nghiệp gồm: 1/ Những chỉ số khách quan: chất lƣợng lao
động, trình độ nghề nghiệp, mức độ kỷ luật, địa vị xã hội; 2/ Những chỉ số
chủ quan: Mức độ hài lòng về công việc, điều kiện trong công việc. Bà còn
chỉ ra đƣợc thời điểm mà sự thích ứng xuất hiện, đó là: "Khi làm quen với
điều kiện mới đó kéo theo những sự tiêu tốn sức lực nhất định". Mặc dù chỉ