ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN TUẤN ANH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
GIA LỘC II, TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2
BGH
Ban giám hiệu
3
CBQL
Cán bộ quản lý
4
ĐĐ
Đạo đức
5
ĐHQG
Đại học Quốc gia
6
ĐTN
Đoàn thanh niên
7
ĐVTN
Đoàn viên thanh niên
8
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
9
GVBM
Giáo viên bộ môn
10
GDCD
Giáo dục công dân
11
GV
Giáo viên
22
THPT
Trung học phổ thông
23
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3
4. Giả thuyết khoa học
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4
2.3. Thực trạng về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của các lực
lƣợng giáo dục trong nhà trƣờng THPT Gia Lộc II
47
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trƣờng
THPT Gia Lộc II của Hiệu trƣởng
52
2.5. Đánh giá về thực trạng GDĐĐ và quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh của
hiệu trƣởng trƣờng THPT Gia Lộc II, tỉnh Hải Dƣơng
56
2.6. Xác định nguyên nhân của hạn chế
57
Tiểu kết chƣơng 2
59
Chƣơng 3 :BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG GIA LỘC II, TỈNH HẢI DƢƠNG
61
3.1. Một số nguyên tắc xác định biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh trƣờng Trung học phổ thông Gia Lộc II
61
3.2. Những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của
Hiệu trƣởng trƣờng Trung học phổ thông Gia Lộc II, Tỉnh Hải Dƣơng
63
3.2.1. Nhóm biện pháp thứ nhất: Kế hoạch hóa hoạt
63
3.2.2. Nhóm biện pháp thứ hai: Tổ chức bồi dƣỡng nhận thức
66
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hoá các chức năng trong quá trình quản lý
giáo dục
16
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ vị trí của nhà trƣờng nhìn từ khía cạnh tổ chức
và kinh tế - xã hội
17
Bảng 2.1. Kết quả xếp loại HL – HK của học sinh trƣờng THPT
Gia Lộc II trong 3 năm học gần đây
40
Bảng 2.2. Khảo sát nhận thức của học sinh về quan niệm đạo đức
41
Bảng 2.3: Thực trạng về hành vi vi phạm đạo đức của học sinh
42
Bảng 2.4: Quan điểm của học sinh về vị trí, vai trò của giáo dục
đạo đức trong nhà trƣờng
44
Bảng 2.5: Các phẩm chất đạo đức cần đƣợc giáo dục cho học sinh
trƣờng THPT Gia Lộc II (Khảo sát 300 học sinh)
45
Sơ đồ 3.2. Mối quan hệ giữa các biện pháp
82
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi
của bẩy nhóm biện pháp quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh của hiệu
trƣởng trƣờng THPT Gia Lộc II, Tỉnh Hải Dƣơng
84
Biểu đồ 3.1. Tính cấp thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp
87
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Luật Giáo dục năm 2005 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
xác định:
“…Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.” [11, trang 13 – 14]
Nhƣ vậy việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh là nhiệm
vụ trọng tâm, xuyên suốt trong nhà trƣờng phổ thông. Nhiệm vụ này càng trở
nên cấp thiết hơn trong bối cảnh hiện nay, khi đất nƣớc ta đang thực hiện tiến
giáo dục đạo đức trong học sinh hiện rất cấp bách vì xã hội phức tạp hơn.
Những giá trị đạo đức đang thay đổi và thay đổi ngày càng nhanh”.
(Nguồn: Báo điện tử Dân trí - Chuyên mục Giáo dục)
Mặt khác việc giúp đỡ, giáo dục, uốn nắn học sinh tiến bộ về đạo đức là
công việc phức tạp, đòi hỏi ngƣời giáo viên cần có những biện pháp, kỹ năng
nhất định. Đặc biệt đối với những trƣờng THPT thuộc khối ngoài công lập
nhƣ trƣờng THPT Gia Lộc II, học sinh tuyển đầu vào chất lƣợng thấp, kèm
theo học lực yếu là ý thức kém, thì việc giáo dục học sinh tự giác, tích cực
trong tu dƣỡng, rèn luyện đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu, là nền móng để xây
dựng nhà trƣờng ổn định và phát triển.
Trong thực tế giáo dục của nhà trƣờng, sở dĩ các em học sinh chậm tiến
bộ chủ yếu do chƣa có các biện pháp quản lý, chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo
đức một cách đồng bộ, toàn diện giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội, giữa các
thầy cô và các tổ chức trong nhà trƣờng. Mặt khác đội ngũ giáo viên, đặc biệt
là giáo viên chủ nhiệm của nhà trƣờng còn trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề nên
3
kinh nghiệm giáo dục còn nhiều hạn chế, các biện pháp giáo dục đã áp dụng
chủ yếu hƣớng về xử phạt mà chƣa chú trọng đến việc giúp các em nhận thấy
sai lầm của mình và có hƣớng khắc phục cụ thể.
Giáo viên bộ môn khi lên lớp còn nặng về truyền thụ kiến thức mà chƣa
chú trọng đến việc “dạy làm ngƣời”. Chƣơng trình môn Giáo dục công dân
còn có nhiều bất cập cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế chất
lƣợng giáo dục đạo đức cho học sinh.
Việc có các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
với mục tiêu là giúp học sinh thay đổi nhận thức về các hành vi sai lệch của
mình, có ý thức tự giác tu dƣỡng, rèn luyện đối với trƣờng THPT Gia lộc II là
một việc làm hết sức cần thiết và có vai trò quyết định đến sự phát triển bền
vững của nhà trƣờng. Giáo dục đạo đức cho học sinh là công việc khó khăn,
không thể có kết quả tốt trong một thời gian ngắn. Nó đòi hỏi một quá trình
Nếu Hiệu trƣởng có các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh phù hợp với quy luật khách quan và thực hiện đồng bộ thì sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh trƣờng THPT Gia Lộc II.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu, xác định cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh tại trƣờng THPT Gia Lộc II
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trƣờng THPT Gia Lộc II, tỉnh Hải Dƣơng
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Đề tài nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ tháng 5 năm 2011 cho đến
nay và đƣợc tiến hành ở cả 3 khối lớp của trƣờng THPT Gia Lộc II: khối 10,
khối 11 và khối 12.
5
6.2. Khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn của
trƣờng THPT Gia Lộc II và một số trƣờng THPT trong địa bàn tỉnh Hải
Dƣơng.
6.3. Khảo sát học sinh, cha mẹ học sinh trƣờng THPT Gia Lộc II và một số
cán bộ cộng đồng địa phƣơng nơi trƣờng đóng
7. Phƣơng pháp nghiên cứu.
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các công trình khoa học nghiên cứu về đạo đức và giáo dục
đạo đức, nghiên cứu văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc, các tài liệu lý luận về giáo
dục đạo đức và biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh THPT
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm
- Phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phƣơng pháp quan sát, khảo sát thực tế
- Phƣơng pháp xin ý kiến chuyên gia
của đạo đức là tính thiện, bản tính con ngƣời vốn thiện, nếu tính thiện ấy đƣợc
nuôi dƣỡng, phát triển thì con ngƣời sẽ có hạnh phúc. Theo ông chuẩn mực
đạo đức phải đƣợc nhận thức bằng lý tính kết hợp với phƣơng pháp nhận thức
khoa học
Đối với nền văn minh phƣơng Đông thì vấn đề giáo dục đạo đức đã
đƣợc quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551-479 TCN) mà tƣ tƣởng của ông đã
trở thành một “Đạo” có ảnh hƣởng sâu rộng không chỉ ở Trung Quốc mà ở
nhiều quốc gia. Ông đề cao đƣờng lối “đức trị” để trị quốc an dân, phát triển
đất nƣớc. Theo quan điểm “ Ngũ thƣờng” của ông thì yếu tố đạo đức đƣợc đặt
lên hàng đầu “ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ông coi Nhân là gốc rễ của các
đức khác, và xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”. Ông đƣợc ngƣời
đời tôn làm “ Vạn thế sƣ biểu”.
Đất nƣớc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm văn hiến đã xây dựng mô
hình giáo dục kế thừa những tinh hoa của nhân loại, đạo đức và tài năng là hai
7
yếu tố căn bản của nhân cách con ngƣời, trong đó cha ông ta lựa chọn đạo đức
là gốc rễ, “ Tiên học Lễ, hậu học Văn”.
Nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới cũng đã đề cập và
nghiên cứu về giáo dục đạo đức. Trong số đó tiêu biểu là nhà giáo dục học và
tâm lý học Liên Xô A.X. Makarenco, ông nêu lên nguyên tắc giáo dục đạo
đức trong tập thể và thông qua tập thể. Nguyên tắc đó của ông đã trở thành
một trong bốn con đƣờng giáo dục đƣợc sử dụng rộng rãi hiện nay [22]
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã kế thừa và phát huy
những giá trị tốt đẹp của nhân loại, của truyền thống phƣơng Đông để xây
dựng lên một mô hình “Ngũ thƣờng” cho dân tộc Việt Nam, cho ngƣời cách
mạng Việt Nam, đó là “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm”. Theo tƣ tƣởng của
Ngƣời, đạo đức cách mạng giúp con ngƣời Việt Nam vƣợt qua mọi thử thách,
gian lao trong hai cuộc kháng chiến trƣờng kỳ, giành độc lập tự do, xây dựng
một đất nƣớc Việt Nam giầu đẹp nhƣ ngày hôm nay. Bản thân Ngƣời chính là
nƣớc: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các
trƣờng học; củng cố ý tƣởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt
chẽ giáo dục nhà trƣờng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp
chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các
cơ quan thi hành pháp luật. Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu
nƣớc và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trƣớc hết là
cán bộ đảng viên, thầy cô giáo các trƣờng học, xây dựng một cơ chế tổ chức
và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức
cho mọi ngƣời” [14]
Nội dung cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học
sinh trung học phổ thông” [19], của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh
Thị Kim Thoa - Trần Văn Tính - Vũ Phƣơng Liên đã nghiên cứu, hƣớng dẫn
phƣơng pháp, kỹ năng giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh
THPT, qua đó nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, đây
9
thực sự là một tài liệu hữu ích cho đội ngũ giáo viên THPT trong hoạt động
giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh hiện nay.
Tác giả Hà Nhật Thăng đã nghiên cứu sự phát triển trí lực- tâm lực- thể
lực của mỗi con ngƣời, trong đó phải coi tâm lực là nội lực của sự phát triển
con ngƣời. Trong cuốn sách: " Rèn luyện kỹ năng sư phạm” [23] và cuốn “Sổ
tay giáo viên chủ nhiệm” [24], tác giả đã nêu rõ những kỹ năng sƣ phạm cần
thiết với mong muốn góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức trong
các nhà trƣờng phổ thông.
Một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của Trƣờng Đại
học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã lựa chọn nghiên cứu về đề
tài giáo dục đạo đức cho học sinh và đạt đƣợc những thành công nhất định khi
áp dụng vào thực tế tại cơ sở.
Trƣớc thực trạng đáng báo động về suy thoái đạo đức của một bộ phận
học sinh, đặc biệt là tình trạng bạo lực học đƣờng đƣợc nêu trên các phƣơng
Bác Hồ trao tặng “ Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang” đã đóng góp
to lớn vào thành quả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc.
Khi bàn về đạo đức có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau. Theo tác
giả Trần Hậu Kiểm thì “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao
gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc
chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ
đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích,
hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con
người với con người, giữa cá nhân với xã hội”. [17, tr.12]
Theo tác giả Phạm Khắc Chƣơng và Hà Nhật Thăng: “Đạo đức là một
hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù
hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa
con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [9, tr.51 ]
11
Nhƣ vậy, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhƣng chúng ta có thể
thấy đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó
con ngƣời tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa con
ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với cộng đồng xã hội và tự nhiên.
1.2.2. Giáo dục đạo đức
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì: “Giáo dục đạo đức là
quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội
đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin,
nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [16]
Theo Makarenko: “Giáo dục đạo đức có nghĩa là rèn luyện những
phẩm chất tốt cho học sinh ( tính trung thực, thật thà, thái độ tận tâm, tinh
thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, lòng yêu thích học tập, thái độ XHCN đối với
người lao động, chủ nghĩa yêu nước) và trên cơ sở đó uốn nắn những sai sót
của chúng” [22]
+ Làm chuẩn đánh giá chất lƣợng GDĐĐ. Chất lƣợng GDĐĐ là mức
độ đạt đƣợc của sản phẩm giáo dục so với mục đích đã đề ra. Căn cứ vào mục
đích giáo dục nhà trƣờng, cơ sở giáo dục đánh giá chất lƣợng GDĐĐ của
mình từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lƣợng GDĐĐ.
1.2.2.2. Giáo dục đạo đức là một quá trình diễn ra lâu dài.
Tính chất lâu dài của QTGDĐĐ thể hiện ở các góc độ sau:
Quá trình GDĐĐ đƣợc thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc đời
một con ngƣời, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết con ngƣời luôn luôn đƣợc giáo
dục. QTGDĐĐ phải diễn ra tuần tự theo 3 khâu:
+ GD nhận thức
+ Hình thành thái độ, niềm tin
+ Hình thành thói quen, hành vi đúng đắn phù hợp với chuẩn mực xã
hội nên phải có thời gian nhất định.
13
Quá trình GDĐĐ là quá trình đấu tranh tự giác xoá bỏ cái sai lầm lạc
hậu, tiếp nhận cái mới, tiến bộ hơn. Thực tế cho thấy thiết lập cái mới đã khó
và xoá bỏ một thói quen cũ càng khó và đòi hỏi một thời gian nhất định. Để
hình thành và trở nên bền vững, ổn định những phẩm chất hành vi, thói quen
tốt của cá nhân đòi hỏi một thời gian lâu dài không thể một sớm, một chiều
mà có ngay đƣợc. Những phẩm chất mới của nhân cách (niềm tin, động cơ
đúng, tình cảm mới ) chỉ có đƣợc và trở nên vững chắc khi ngƣời đƣợc giáo
dục tiếp nhận và trải qua một thời gian tập luyện, thể nghiệm, đấu tranh với
những mâu thuẫn trong bản thân, trong cuộc sống thực để trở thành kinh
nghiệm sống của chính mình.
1.2.2.3. Quá trình giáo dục đạo đức diễn ra rất phức tạp, diễn ra với nhiều
mâu thuẫn.
Giáo dục là một hiện tƣợng xã hội vì vậy nó rất phức tạp. QTGDĐĐ là
quá trình tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng để hình thành những
phẩm chất nhân cách bền vững cho ngƣời đƣợc giáo dục, có rất nhiều nhân tố
động sƣ phạm đóng vai trò định hƣớng còn sự tiếp thu có ý thức của đối
tƣợng giáo dục đóng vai trò quyết định cho sự thành công của QTGDĐĐ.
1.2.3. Quản lý
1.2.3.1 Quản lý
Quản lý ra đời nhằm tạo ra một hiệu quả lao động cao hơn so với việc
làm của từng cá nhân riêng lẻ của một nhóm ngƣời khi họ tiến hành các công
việc có mục tiêu chung với nhau. Quản lý là một khái niệm rộng và thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau, do vậy có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.
Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”. C.Marx đã
nhấn mạnh vai trò của quản lý : “ Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy
mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [12]
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: ”Quản lý là một quá trình định
15
hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý là hệ thống, là một quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này
đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”
[16]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hiện nay
quản lý thƣờng đƣợc định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch
hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản có nghĩa là giữ; Lý là chỉnh
sửa. Vậy quản lý là làm cho ổn định và phát triển, sao cho trong quản có lý,
trong lý có quản. Trong ổn định tạo mầm mống cho sự phát triển, trong phát
triển giữ được hạt nhân cho ổn định” [1]
Theo tác giả Trần Khánh Đức từ quan niệm của các tác giả đã nêu,
chúng ta có thể khái quát lại: ”Quản lý là hoạt động có ý thức của con người
nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành đồng của
một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra
phải có nghệ thuật bởi vì đặc trƣng cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý con
ngƣời. Sản phẩm đầu ra của quá trình quản lý giáo dục chính là nhân cách của
ngƣời học theo mục tiêu giáo dục.
Quản lý giáo dục có đầy đủ 4 chức năng của quản lý, đó là:
+ Chức năng Dự báo/Kế hoạch
+ Chức năng Tổ chức
+ Chức năng Chỉ đạo
+ Chức năng Kiểm tra/Đánh giá
Các chức năng này liên hệ chặt chẽ với nhau bằng thông tin phản hồi đa
chiều, có thể minh họa theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hoá các chức năng trong quá trình quản lý giáo dục 17
1.2.4. Quản lý nhà trường phổ thông của Hiệu trưởng
Nhà trƣờng có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội cũng nhƣ
hệ thống giáo dục quốc dân. Có thể nói nhà trƣờng là vầng trán của cộng
đồng, nơi dẫn dắt trí tuệ của cộng đồng, là thành tố cơ bản tạo nên HTGDQD
Chúng ta có thể nhận thấy rõ vị trí của nhà trƣờng nhìn từ các khía cạnh tổ
chức và kinh tế - xã hội qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ vị trí của nhà trường
nhìn từ khía cạnh tổ chức và kinh tế - xã hội
Kế hoạch
Tổ chức
Chỉ đạo
trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội-kinh tế, tổ chức
sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành”[12]
Quản lý nhà trƣờng thực chất là quản lý của Hiệu trƣởng trên mọi hoạt
động diễn ra trong nhà trƣờng nhƣ quản lý tổ chức giảng dạy, học tập, GDĐĐ
và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chƣơng trình giáo dục, quản lý
tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trƣờng giáo dục.
Hiệu trƣởng nhà trƣờng là ngƣời do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền bổ
nhiệm, điều hành toàn bộ mọi hoạt động trong một nhà trƣờng để thực hiện
mục tiêu giáo dục đã đề ra và chịu trách nhiệm trƣớc Nhà nƣớc, trƣớc nhân
dân về công tác quản lý nhà trƣờng của mình. Hiệu trƣởng trƣờng THPT có
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm đƣợc quy định tại Điều lệ trƣờng THPT,
cụ thể nhƣ sau: