ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THANH XUÂN Các biện pháp quản lý nhằm kết hợp hoạt động của
đơn vị
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: Đặng Xuân Hải
Hà nội - 2004
Nghiên cứu Ứng dụng viễn thám & Hệ
thông tin địa lý
NCS
Nghiên cứu sinh
NCKH
Nghiên cứu khoa học
NQ
Nghị quyết
PTNLN
Phòng Thí nghiệm liên ngành
PTNDC
Phòng thí nghiệm dùng chung
QĐ
Quyết định
QT & MHHMT
Quan trắc và Mô hình hoá môi trường
SHPT & CNTB
Sinh học phân tử & Công nghệ tế bào Luận văn cao học Quản lý giáo
dục
14
1.3. Vai trò của hoạt động đào tạo và hoạt động NCKH trong
trường đại học
15
1.3.1. Vai trò của hoạt động trong trường đại học
15
1.3.2. Vai trò của hoạt động NCKH trong trường đại học
17
1.4. Sự ra đời của đơn vị NCKH trong trường đại học ở Việt Nam
18
1.5. Tầm quan trọng của việc kết hợp hoạt động của đơn vị đào tạo
và đơn vị NCKH trong trường đại học ở Việt Nam
21
1.5.1. Đơn vị đào tạo trong trường đại học
21
1.5.1. Đơn vị NCKH trong trường đại học
23
1.5.3. Tầm quan trọng của việc gắn kết hoạt động của đơn vị đào
tạo và đơn vị NCKH trong trường đại học
24
1.6. Tính cấp thiết của việc kết hợp hoạt động của đơn vị đào tạo và
đơn vị NCKH trong trường đại học
25
Kết luận chƣơng 1
30
CHƯƠNG 2
2.2.2. Thực trạng hoạt động của đơn vị NCKH
46
2.3. Khảo sát thực trạng sự kết hợp hoạt động giữa đơn vị đào
tạo và đơn vị NCKH trong Trường ĐHKHTN
52
2.3.1. Thiết kế mẫu phiếu điều tra
52
2.3.2. Nhận xét thực trạng sự kết hợp hoạt động của đơn vị đào
tạo và đơn vị NCKH
54
2.3.3. Đánh giá chung
59
Kết luận Chƣơng 2
63
CHƯƠNG 3
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM KẾT HỢP HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO VÀ ĐƠN VỊ NCKH TRONG
TRƯỜNG ĐHKHTN 64
3.1. Căn cứ chính để xây dựng biện pháp
64
3.2. Các biện pháp quản lý nhằm kết hợp hoạt động của đơn vị
đào tạo và đơn vị NCKH
64
3.2.1. Từng bước xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý linh hoạt
80
3.4.2. Phân tích, xử lý số liệu
81
Kết luận
82
Các khuyến nghị
84
Tài liệu tham khảo
85
Phụ lục
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 4
MỞ ĐẦU
1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu đào tạo của Truờng ĐHKHTN nói riêng và của ĐHQGHN nói
chung là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp khoa học, công
nghệ của đất nước. Để hướng tới mục tiêu đó và để khẳng định vị trí của Nhà
trường trong phạm vi quốc gia cũng như trên khu vực, Trường ĐHKHTN đã khẳng
định NCKH chính là vấn đề mấu chốt bên cạnh việc xây dựng một hệ thống
chương trình hiện đại và đổi mới việc tổ chức giảng dạy. Vì NCKH tạo ra nguồn cơ
sở vật chất to lớn, các trang thiết bị hiện đại cho các phòng thí nghiệm, tạo ra ngân
hàng tư liệu đa dạng, phong phú và cập nhật. Nhưng điều lớn nhất mà NCKH đem
lại là những phương hướng phát triển khoa học, dự đoán được xu thế phát triển của
thời đại và là kim chỉ nam cho các thầy giáo và sinh viên tiếp cận những vấn đề có
4. Giả thuyết khoa học:
Nếu thực hiện đồng bộ triệt để các biện pháp quản lý luận văn đề ra và tăng
cường hơn nữa mối quan hệ giữa đơn vị đào tạo và đơn vị NCKH trong Trường
ĐHKHTN - ĐHQGHN sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo sau
đại học, NCKH ở một trường đại học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý và tổ chức bộ máy quản
lý của một trường đại học.
- Phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa đơn vị đào tạo và đơn vị
NCKH trong Trường ĐHKHTN.
- Nghiên cứu, đề xuất những biện pháp quản lý nhằm gắn kết hoạt động của
các đơn vị đào tạo và đơn vị NCKH trong Trường ĐHKHTN.
6. Giới hạn đề tài:
- Do mục đích nghiên cứu đã đặt ra nên luận văn tập trung nghiên cứu những
biện pháp quản lý nhằm tăng cường sự gắn kết giữa các đơn vị đào tạo và đơn vị
NCKH trong Trường ĐHKHTN.
- Thực trạng mối quan hệ trên của Trường ĐHKHTN - ĐHQGHN trong giai
đoạn hiện nay. Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 6
7. Những luận điểm cần bảo vệ:
- Các đơn vị nghiên cứu trong trường đại học cũng là một môi trường đào
tạo sau đại học tốt, qua đó công tác NCKH và công tác đào tạo được kết hợp chặt
chẽ hơn và sẽ phát huy hiệu qủa của các bộ phận trong một trường đại học.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử phát triển khoa học đã chứng tỏ, giảng dạy đại học và NCKH, đặc
biệt là nghiên cứu cơ bản, là hai chức năng gắn bó mật thiết với nhau của trường
đại học.
Tại các nước phát triển, NCKH trong các trường đại học là công tác sống còn
trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo cũng như nâng cao uy tín đào
tạo của từng cơ sở. NCKH tạo ra nguồn cơ sở vật chất to lớn, các trang thiết bị hiện
đại cho các phòng thí nghiệm, tạo ra ngân hàng dữ liệu đa dạng, phong phú và cập
nhật. NCKH đem lại những phương hướng phát triển khoa học, dự đoán được xu
thế phát triển của thời đại và là kim chỉ nam cho đội ngũ cán bộ giảng dạy và người
học tiếp cận những vấn đề có tính thời sự và thực tiễn. Cơ cấu tổ chức của các
trường đại học được thiết kế để hỗ trợ công tác nghiên cứu thông qua các trung
tâm, viện cũng như các khoa, các phòng thí nghiệm thuộc trường đại học.
Ở Việt Nam, từ năm 1956, tất cả các trường đại học ở Miền Bắc được tổ
chức theo mô hình Liên Xô, gồm hai loại trường đại học chính: mô hình các đại
học tổng hợp bao gồm các ngành khoa học cơ bản và mô hình các trường đại học
chuyên ngành kỹ thuật. Các mô hình này dựa trên cơ sở đơn ngành (khoa học cơ
bản, xây dựng, kiến trúc, thuỷ lợi ) tương đương với các Faculty, College hay
School của các đại học (University) của hệ thống phương Tây hoặc tập hợp một số
ngành. Một đặc điểm khác của mô hình Liên Xô cũng được du nhập vào nước ta là
xây dựng một hệ thống lớn các viện nghiên cứu nằm bên ngoài các trường đại học.
Mô hình này đã làm hình thành quan niệm: các trường đại học chỉ có nhiệm vụ đào
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục
ĐHQGHN.
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 9
1.2.1. Quản lý và các chức năng quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Theo tác giả Ngô Trung Việt, từ quản lý (management) bắt nguồn từ chữ
Latinh "manus" nghĩa là bàn tay. Theo nghĩa gốc, thực hiện quản lý là "nắm vững
trong tay", "điều khiển vững tay". Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ
thuật khiến người khác phải làm việc.
Tuỳ theo các cách tiếp cận mà ta có các quan điểm khác nhau về quản lý.
Thông thường khi đưa ra khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại
hình quản lý cụ thể:
- F.W. Taylor (Mỹ, 1856 - 1915) - được đánh giá là "cha đẻ của thuyết Quản
lý khoa học", định nghĩa "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm
và sau đó khiến được họ hoàn thành công việc tốt nhất và rẻ nhất"[5, 23].
- H. Fayol (Pháp, 1841 - 1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù,
khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập,
phát huy tác dụng riêng của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể thay
thế được. Ông đã nói về nội hàm của khái niệm như sau: "Quản lý tức là lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra"[1, 59]. Fayol còn chứng minh được
rằng khoa học quản lý - "quản lý hành chính", không những cần thiết cho các tổ
chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức,
kể cả cơ quan của Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức
năng kể trên.
- M. T. Follet (Mỹ, 1868 - 1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú
trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn
yếu tố tinh thần và tình cảm. Theo Bà: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc
phát triển một tổ chức, quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và
kiểm tra.
- Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản lý vì
nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai. Chẳng
những lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất của tất cả các nhà quản lý ở mọi cấp
trong một hệ thống mà các chức năng còn lại của quản lý cũng phải dựa trên nó.
Nhờ công tác lập kế hoạch, người lãnh đạo của hệ thống sẽ tổ chức, điều khiển và
kiểm tra nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã thông qua trong kế hoạch.
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 11
Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt tới các mục tiêu
định trước. Vì phương pháp tiếp cận này không tách rời khỏi môi trường, nên việc
lập kế hoạch phải xét tới bản chất của môi trường mà các yếu tố quyết định và hành
động của việc lập kế hoạch được dự kiến để hoạt động trong đó.
Lập kế hoạch là quyết định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào
làm và ai làm. Nó đòi hỏi người lãnh đạo của tổ chức phải xác định các chiến lược,
đường lối một cách có ý thức và đưa ra các quyết định dựa trên sự hiểu biết và
những đánh giá thận trọng.
- Tổ chức
Tổ chức là qúa trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để
đạt được các mục tiêu đã vạch ra. Đó là sự liên kết giữa các cá nhân, những quá
trình, những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra trên cơ sở
các nguyên tắc và quy tắc quản lý của hệ thống.
Chức năng tổ chức còn là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng
các mối quan hệ giữa chúng. Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phân công nhiệm
vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản
lý. Cơ cấu tổ chức quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người
được đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản
lý cần thiết, đó là khoa học. Vì thế, quản lý vừa là khoa học, nhƣng lại vừa là
nghệ thuật.
1.2.2. Biện pháp quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện pháp
là: "cách làm, cách thức tiến hành" [44, 67].
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách làm,
cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử dụng
một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Cùng một biện
pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp.
Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý nhằm giúp
chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra.
1.2.3. Hoạt động
"Hoạt động là làm những việc khác nhau, với mục đích nhất định trong đời
sống xã hội" [44, 329].
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 13
"Hoạt động là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới
chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình". [26,
349]
Khái niệm hoạt động mà tác giả muốn đề cập đến trong đề tài này không đơn
thuần là hoạt động của cá nhân mà là hoạt động của nhiều cá nhân cùng chung
mục đích tạo nên hoạt động tập thể của đơn vị.
"Hoạt động tập thể là hình thức cùng nhau hoạt động của một nhóm đáp ứng
các yêu cầu: 1. Tất cả các thành viên đều nỗ lực thực hiện mục đích chung thống
nhất của hoạt động; 2. Có sự phân công rõ ràng; 3. Giữa các thành viên có quan hệ
thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới". [43,
25]
"NCKH là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc
thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm hiểu, để chỉ ra một cách
chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến (hoặc biết chưa
đầy đủ) tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới có giá trị mới về nhận
thức hoặc phương pháp" [29, 15]
Theo tác giả Lưu Xuân Mới, NCKH nhằm 4 mục tiêu:
- Mục tiêu nhận thức: phát triển ngày càng sâu, rộng nhận thức của con
người về thế giới, phát hiện các quy luật của thế giới, phát triển kho tàng kiến thức
của nhân loại.
- Mục tiêu sáng tạo: nhằm sáng tạo ra công nghệ mới trong tất cả các lĩnh
vực hoạt động của đời sống xã hội, nâng cao trình độ văn minh, nâng cao năng suất
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động.
- Mục đích kinh tế: NCKH phải dẫn tới hiệu quả kinh tế, góp phần làm tăng
trưởng kinh tế xã hội.
- Mục tiêu văn hoá và văn minh: mở mang dân trí, nâng cao trình độ văn
hoá, từng bước hoàn thiện con người, đưa con người nên một trình độ văn minh
cao hơn.
NCKH là hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu về nhận thức và cải tạo thế giới
của con người bao gồm khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện
tượng, phát hiện quy luật vận động của sự vật, vận dụng quy luật để sáng tạo các
giải pháp tác động vào sự vật, hiện tượng.
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 15
Tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu và các sản phẩm thu được sau nghiên cứu,
người ta chia thành những loại hình nghiên cứu: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
16
Đào tạo trình độ tiến sỹ phải đảm bảo cho nghiên cứu sinh nâng cao và hoàn
chỉnh kiến thức cơ bản; có hiểu biết sâu về kiến thức chuyên ngành; có đủ năng lực
tiến hành độc lập công tác NCKH và sáng tạo trong công tác chuyên môn.
Phương pháp đào tạo thạc sỹ phải được thực hiện bằng cách phối hợp các
hình thức học tập trên lớp với tự học, tự nghiên cứu; coi trọng việc phát huy năng
lực thực hành, năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề chuyên môn.
Phương pháp đàp tạo tiến sĩ được thực hiện chủ yếu bằng tự học, tự nghiên
cứu dưới sự hướng dẫn của nhà giáo, nhà khoa học; coi trọng rèn luyện thói quen
nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy sáng tạo trong phát hiện, giải quyết những
vấn đề chuyên môn” [32, 15]
Trong điều kiện nước ta đang ở trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá,
giáo dục đại học Việt Nam đứng trước yêu cầu phải đào tạo nguồn nhân lực có
trình độ đại học và sau đại học với quy mô lớn, chất lượng cao, đa dạng hóa về cơ
cấu ngành nghề, thích ứng được với thực tiễn sinh động của nền kinh tế đang trong
quá trình chuyển đổi và quá trình hội nhập quốc tế.
Trong mỗi trường đại học, một môi trường đào tạo tốt, đào tạo có chất lượng
thì có tác động thúc đẩy hoạt động NCKH phát triển. Vì để đào tạo đại học chất
lượng cao người thầy phải NCKH để thường xuyên bổ sung, cập nhật những thành
tựu nghiên cứu vào bài giảng. Còn để đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ, người thầy phải có
các đề tài NCKH. HVCH và NCS cần tham gia các đề tài NCKH của thầy để hoàn
thành luận văn của mình. Ngược lại, người thầy cũng cần lực lượng này để thực
hiện các ý tưởng nghiên cứu. Ít khi các nhà khoa học nghiên cứu một mình. Họ cần
có êkíp, có cộng sự, có học trò. Hoạt động đào tạo tạo nên sự thay thế và kế thừa
liên tục cho hệ thống này.
1.3.2. Vai trò của hoạt động NCKH trong trường đại học
Phương pháp giảng dạy và học tập ở bậc đại học khác hẳn các bậc học khác
nên người thầy ở bậc đại học phải có trình độ cao về NCKH để hướng dẫn người
học có năng lực tự học, tự nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách độc lập sáng tạo.
- Hoạt động NCKH làm cho các trường đại học trở thành các cơ sở NCKH
mạnh, có vị trí xứng đáng trong hệ thống các cơ quan NCKH quốc gia, giúp thực
hiện tốt chức năng cơ bản thứ hai của mình. Vì hoạt động NCKH là môi trường để
phát triển năng lực NCKH của nhà trường cả về số lượng và chất lượng. Hoạt động
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 18
NCKH tạo thêm các nguồn thu để hỗ trợ đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
và đảm bảo sự phát triển bền vững của nhà trường.
Tóm lại, hoạt động NCKH có vai trò đặc biệt quan trọng và to lớn giúp các
trường đại học nâng cao chất lượng đạo tạo và uy tín khoa học để có thể thực hiện
tốt mục tiêu giáo dục đại học, sau đại học. Chỉ khi kết hợp được hoạt động đào tạo
và hoạt động NCKH thì các trường đại học mới có thể phát triển đúng hướng và có
vị trí trong hệ thống các trường đại học danh tiếng thế giới.
1.4. Sự ra đời các đơn vị NCKH trong trường đại học ở Việt Nam
Tác giả mong muốn trước khi đi sâu vào phân tích tích mối quan hệ giữa đơn
vị đào tạo và đơn vị NCKH trong trường đại học, tác giả sẽ tìm hiểu lý do khách
quan dẫn đến sự thành lập các đơn vị NCKH trong trường đại học ở Việt Nam.
Do chúng ta học tập mô hình của Liên Xô, xây dựng một hệ thống rộng lớn
các viện nghiên cứu nằm bên ngoài các trường đại học nên công tác NCKH trong
các trường đại học trước đây không được quan tâm, đầu tư phát triển. Bắt đầu từ
năm 1981, hoạt động NCKH trong các trường đại học đuợc đề cập đến trong NQ
37/TW ngày 20/04/81 của Bộ Chính trị về chính sách khoa học và kỹ thuật.
Vai trò, nhiệm vụ của hoạt động NCKH trong các trường đại học được đề
cập trong NQ 37/TW trước hết là để giải quyết các vấn đề bức thiết của nền kinh tế
quốc dân đó là sự tách rời và không gắn liền với thực tế sản xuất của các đơn vị
nghiên cứu. Đồng thời NQ cũng thể hiện sự coi trọng vai trò phục vụ hoạt động đào
tạo của hoạt động NCKH trong các trường đại học.
vấn đề "tận dụng" nguồn lực khoa học - công nghệ của các trường mà chưa đánh
giá hết vai trò đặc biệt quan trọng của công tác nghiên cứu cơ bản đối với hoạt
động đào tạo trong các trường đại học.
Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII, ngày
24/12/1996, đã thể hiện sự quan tâm rất cụ thể đối với trường đại học trong giải
pháp tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học: "Thay thế bổ sung cơ sở vật
chất và trang thiết bị cho các trường nghề, trung học chuyên nghiệp, đại học xây
dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm và trạm sản xuất thử ở trình độ hiện đại
phục vụ công tác đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ bổ sung thường
xuyên sách và tạp chí chuyên ngành để các trường đại học có điều kiện tiếp cận
những thành tựu mới của KH & CN" đây là một bước tiến mới thể hiện sự coi
trọng công tác NCKH của các trường đại học trong chính sách của Đảng và Nhà
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 20
nước so với NQ 26/TW và NQ 37/TW của Bộ Chính trị trước đó. Cũng trong Hội
nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đã đưa ra mục tiêu chiến lược
cho hoạt động NCKH như sau: "trang bị kỹ thuật thông tin thiết bị đồng bộ cho một
số phòng thí nghiệm, một số viện nghiên cứu trọng điểm, một số bộ môn ở các
trường đại học đạt mức tiên tiến trong khu vực. Tăng dần trang thiết bị và nâng
cấp thư viện cho các trường, các viện nghiên cứu đến năm 2020 có một số phòng
thí nghiệm, viện nghiên cứu, trường đại học đạt trình độ quốc tế ". Ở đây, NQ Hội
nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã đề ra yêu cầu cụ thể
cho các trường đại học là phải trang thiết bị đồng bộ, các bộ môn khoa học phải đạt
được trình độ cao để có thể ngang tầm với các trường đại học trên thế giới.
Thậm chí, Chính phủ đã từng đề cập đến việc sát nhập các viện nghiên cứu
cơ bản vào các trường đại học. Điều này thể hiện qua kết luận của Thủ tưởng Phan
Văn Khải về giáo dục đại học tại phiên họp ngày 08/10/99 với Hội đồng Quốc gia
Đơn vị là một tổ chức cơ sở trong một tổ chức lớn hơn. Cụm từ "đơn vị đào
tạo" được tác giả sử dụng trong luận văn này dùng để chỉ các khoa hay bộ môn
được giao nhiệm vụ đào tạo đại học và sau đại học tại các truờng đại học. Trên thực
tế các cán bộ trong các đơn vị này cũng đồng thời làm công tác NCKH nhưng do
khối lượng công việc giảng dạy quá lớn hoặc do những khó khăn gặp phải trong
công tác NCKH nên nhìn chung công việc chính của họ vẫn là công tác đào tạo.
Theo QĐ số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành "Điều lệ trường đại học", các khoa và bộ môn trực thuộc trường đại học
được hiểu như sau:
"Khoa là đơn vị quản lý hành chính cơ sở của trường, có các nhiệm vụ sau
đây:
a) Xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập và chủ trì tổ chức quá
trình đào tạo một hoặc một số ngành; tổ chức qúa trình đào tạo và các hoạt động
giáo dục khác trong chương trình, kế hoạch giảng dạy chung của nhà trường.
b) Tổ chức hoạt động KH & CN, chủ động khai thác các dự án hợp tác quốc
tế; phối hợp với các tổ chức KH & CN, cơ sở sản xuất kinh doanh, gắn đào tạo với
nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội;
c) Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học thuộc khoa theo phân
cấp của Hiệu trưởng;
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục 22
d) Quản lý chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa
học;
đ) Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học do Hiệu trưởng giao.
Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế
hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy - học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa
học;
chủ trì việc đào tạo các chuyên ngành sau đại học;
g) Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị của bộ môn."
1.5.2. Đơn vị nghiên cứu khoa học trong trường đại học
Cụm từ "đơn vị NCKH" trong đề tài được hiểu là các đơn vị nghiên cứu
không được giao mã ngành đào tạo trong trường đại học và có chức năng, nhiệm vụ
chủ yếu là NCKH. Các đơn vị này bao gồm: các trung tâm NCKH cấp khoa, cấp
trường, các phòng thí nghiệm trọng điểm
Cũng theo QĐ số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/07/2003 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành "Điều lệ trường đại học", các tổ chức KH & CN thuộc trường đại học
được hiểu như sau:
"Các tổ chức KH & CN trong trường đại học gồm có các tổ chức nghiên cứu
và phát triển và các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ.
Các tổ chức nghiên cứu và phát triển được tổ chức dưới các hình thức: viện,
trung tâm và các cơ sở nghiên cứu và phát triển khác. Các tổ chức nghiên cứu và
phát triển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và có các nhiệm
vụ sau:
a) Triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ, đưa tiến bộ khoa học và
chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng;
b) Tham gia đào tạo, gắn đào tạo với hoạt động KH & CN."
Khác với các đơn vị đào tạo, đơn vị NCKH trong trường đại học thực hiện
chức năng chính là NCKH và phục vụ công tác đào tạo nhất là đào tạo sau đại học.
1.5.3. Tầm quan trọng của việc kết hợp hoạt động của đơn vị đào tạo và đơn vị
NCKH trong trường đại học ở Việt Nam
Đào tạo trong các trường đại học được phân thành hai mảng: đào tạo đại học
và đào tạo sau đại học. Đào tạo đại học có thể coi là đào tạo diện rộng, do đó quan
Luận văn cao học Quản lý giáo
dục
(*)
Tác giả chú trích thêm.