ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN RỐI LOẠN LO ÂU Ở HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ PHƯƠNG MAI – HÀ NỘI
KHI SỐNG TRONG GIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC HÀ NỘI – 2013
2
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BECK : Beck Anxiety inventory
BLGĐ : Bạo lực gia đình
BLLĐ/KT : Bạo lực lao động/ kinh tế
BLTT : Bạo lực thân thể
BLTL : Bạo lực tâm lý
DSM : Diagnostic and statistical Manual of Mental
Disorder ( Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê)
HHN : Hạnh hạch nhân
RLLA : Rối loạn lo âu
THCS : Trung học cơ sở
STAI : State-TraitAnxiety Inventory
UBND : Ủy ban nhân dân
42
Bảng 3.3. Học sinh là nạn nhân của các nhóm bạo lực trong gia đình
44
Bảng 3.4. Học sinh vừa là nạn nhân vừa chứng kiến các nhóm hành
vi bạo lực trong gia đình
48
Bảng 3.5. Những triệu chứng được ghi nhiều nhất của thang đo Beck
49
Bảng 3.6. Những triệu chứng được ghi nhiều nhất của thang đo Stai
51 4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Thực trạng biểu hiện rối loạn lo âu của trường THCS
Phương Mai đánh giá các test
53
Biểu đồ 3.2. Tỉ lệ học sinh có biểu hiện rối loạn lo âu ở trường
THCS Phương Mai khi sống trong gia đình có bạo lực
53
Mục lục
v
Mở đầu
1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
5
1.1.1. Nghiên cứu về rối loạn lo âu.
5
1.1.2. Nghiên cứu về bạo lực gia đình
8
1.2. Một số vấn đề lý luận của đề tài.
11
1.2.1. Rối loạn lo âu.
11
1.2.2. Bạo lực gia đình
20
1.3. Ảnh hưởng của bạo lực gia đình tới trẻ.
22
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở.
26
Tiểu kết chương 1
27
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
28
2.1. Tổ chức nghiên cứu.
28
2.1.1. Kế hoạch nghiên cứu.
28
49
3.3. Mối tương quan giữa biểu hiện rối loạn lo âu của học sinh và các
yếu tố trong gia đình
60
3.3.1. Mối tương quan giữa biểu hiện RLLA và các loại bạo lực trong
gia đình.
60
3.3.2. Mối tương quan giữa biểu hiện RLLA và mức thu nhập bình
quân trong gia đình.
61
3.3.3. Mối tương quan giữa biểu hiện RLLA và trình độ văn hóa của
cha và mẹ học sinh trong gia đình.
62
3.4. Một số công cụ làm giảm thiểu biểu hiện rối loạn lo âu ở trẻ khi
sống trong gia đình có bạo lực .
62
3.4.1. Chia sẻ
62
3.4.2. Thư giãn
63
3.4.3. Dừng lại, bình tĩnh và thể hiện cảm xúc
63
Tiểu kết chương 3
64
“Bước đầu nhận dạng và phân loại các biểu hiện tâm bệnh lý thường gặp ở trẻ
em và thanh thiếu niên hiện nay” của trung tâm Nghiên cứu tâm lý Trẻ em
(1995), Nguyễn Khắc Viện cho biết trong 352 hồ sơ tâm lý thì tỉ lệ trẻ được
chẩn đoán là tâm căn là 31,53% [17]. Nguyễn Công Khanh sử dụng thang
đánh giá lo âu của Spiebeger trên 503 học sinh trung học cơ sở, cho biết có
17,65 – 19,2% học sinh đã trải qua biểu hiện của RLLA [3]
RLLA không chỉ ảnh hưởmg đến sự phát triển của trẻ mà còn ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tiến bộ của xã hội. Chính vì vậy, RLLA ở thanh thiếu
niên đang được quan tâm và nghiên cứu nhằm phát hiện, can thiệp và giải
quyết sớm các RLLA trong thanh thiếu niên.
8
1.2. Gia đình là môi trường đầu tiên ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của
trẻ. Trong gia đình, cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ. Trẻ có biểu hiện RLLA có thể là do ảnh hưởng
của việc không được sống cùng cả cha và mẹ, cũng có thể là do hoàn cảnh
kinh tế gia đình, cũng có thể là do cách cha mẹ giáo dục trẻ chưa đúng hoặc
do trẻ sống trong môi trường có bạo lực… Khi nghiên cứu trên 600 học sinh
trung học phổ thông, Nguyễn Hằng Phương cho biết có 130 học sinh có
RLLA. Và một trong bốn nhóm nguyên nhân ảnh hướng tới RLLA của các
em là nguyên nhân gia đình, trong đó BLGĐ là yếu tố ảnh hưởng đến RLLA
nhiều, chỉ xếp sau yếu tố lo lắng về kinh tế gia đình [10]. Trong một điều tra
phúc lợi trẻ em ở Canada, Lil Tonmyr và các cộng sự cho biết, trong số 4.381
trẻ em từ 10 – 15 tuổi thì có 25 % các em có vấn đề về lo âu, trầm cảm, trong
đó nguyên nhân tiếp xúc với BLGĐ là nguyên nhân ảnh hưởng đến RLLA
nhiều nhất (11%), sau đó mới đến các nguyên nhân khác [31]
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:“Nghiên cứu biểu hiện
rối loạn lo âu của học sinh Trường Trung học Cơ sở Phương Mai – Hà Nội
khi sống trong gia đình có bạo lực” nhằm tìm hiểu thực trạng biểu hiện
RLLA của học sinh THCS, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm giảm thiểu những
4.2. Phạm vi về mặt khách thể
Do khách thể nghiên cứu là trẻ vị thành niên nên việc lựa chọn mẫu
nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và
phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện của trẻ cũng như sự đồng ý của những
người quản lý, nuôi dưỡng trẻ.
Khách thể nghiên cứu trong độ tuổi từ 11 – 15 ở các gia đình có hoàn
cảnh kinh tế khác nhau, môi trường sống khác nhau, trình độ học vấn của cha
mẹ khác nhau.
5. Giả thuyết khoa học
10
Trẻ vừa chứng kiến BLGĐ và vừa là nạn nhân của BLGĐ có biểu hiện
RLLA nhiều hơn trẻ chỉ chứng kiến hoặc chỉ là nạn nhân trong môi trường gia
đình có bạo lực.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tập, tổng hợp và phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu để xây dựng nền tảng lý luận của đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp trắc nghiệm dùng để khảo sát thực trạng
Sử dụng trắc nghiệm đánh giá lo âu Stai và trắc nghiệm đánh giá lo âu
Beck để chẩn đoán biểu hiện RLLA của trẻ khi sống trong gia đình có bạo lực.
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn trẻ vị thành niên để làm rõ hơn những kết quả định
lượng thu được từ phương pháp sử dụng thang đo. Đồng thời, phỏng vấn giáo
viên, bạn bè và hàng xóm xung quanh nơi trẻ sống, cha mẹ trẻ (nếu có thể).
6.2.3. Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, sẽ xin ý kiến của các chuyên gia tâm
lý học, giáo dục học, xã hội học về những vấn đề có liên quan đến luận văn.
6.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
giữa mẹ và con gắn bó quá kéo dài sẽ làm tăng sợ hãi lo âu ở trẻ em và dự
đoán được RLLA ở trẻ em và thanh thiếu niên [28].
Cả hai nghiên cứu trên đều quan tâm đến những yếu tố nuôi dưỡng của
cha mẹ: cha mẹ quá đùm bọc, che chở trẻ quá mức, ít tạo cơ hội tự lập
cho trẻ… Đây có thể là yếu tố phát sinh RLLA của trẻ.
Một số tác giả nghiên cứu về sự ảnh hưởng của bạo BLGĐ tới RLLA
của trẻ như:
Công trình nghiên cứu của tác giả Anne M. Libby và các cộng sự khi
nghiên cứu dân cư ở 2 bộ lạc thổ dân thuộc phía Bắc và phía Tây Nam của
12
Mỹ đã chỉ ra, một số người bị lạm dụng về thể chất và tình dục trước 16 tuổi
có nhiều biểu hiện về rối loạn tâm thần như: Stress sau sang trấn, Rối loạn lo
âu lan tỏa, trầm cảm… ở tuổi trưởng thành [24]
Tác giả Metin và các cộng sự khi nghiên cứu trẻ ở độ tuổi từ 8-16 đang
sống cùng mẹ trong những nhà tạm trú dành cho phụ nữ bị bạo lực cho biết,
một số em có nhiều biểu hiện của stress sau sang trấn, trầm cảm, lo lắng, tức
giận, phân ly… khi vừa chứng kiến chứng kiến bạo lực và vừa là nạn nhân
của bạo lực từ người cha của mình [26]
Khi nghiên cứu về chứng kiến bạo lực ở trẻ em đặc biệt là những em có
trải nghiệm mức độ sợ hãi cao khi xem các tập phim bạo lực, một số tác giả
đã cho biết các em khó khăn trong việc quản lý cảm xúc, hành vi và dần dần
dẫn đến những vấn đề hướng nội như RLLA, trầm cảm [20]
Trong nghiên cứu: Lo lắng và khủng hoảng tâm lý ở lứa tuổi từ 10-15,
điều tra Phúc lợi trẻ em ở Canada, Lil Tonmyr và các cộng sự cho biết trong
4.381 trẻ em ở nhóm tuổi 10-15 đại diện cho 3.395 gia đình thì 25% các
trường hợp trẻ RLLA/trầm cảm. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến RLLA
được sắp xếp theo thứ tự như: tiếp xúc với BLGĐ, tiếp theo là bỏ rơi , tiếp
theo là ngược đãi tình cảm, tiếp theo nữa là lạm dụng thể chất, và cuối cũng là
lạm dụng tình dục [31]
xung đột với nhau [10]
Trong luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của một số yếu tố tâm lý đến rối
loạn lo âu của trẻ em”, Nguyễn Hồng Thúy đã chẩn đoán và trị liệu cho 42 trẻ
em từ 7 – 15 tuổi có RLLA đến khám tại khoa Tâm bệnh - viện nhi Quốc Gia
từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2002. Tác giả đã đưa ra rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến RLLA của các em như: RLLA có liên quan đến gia đình, RLLA
có liên quan đến học tập, RLLA có liên quan đến môi trường xã hội. Trong
đó yếu tố gia đình gồm có: tâm lý mang thai của mẹ, cảm xúc của mẹ
sau khi sinh, kiểu giáo dục của cha mẹ, RLLA ở cha mẹ, bệnh tật, mất mát
14
người thân, kinh tế, xung đột gia đình, gia đình không đầy đủ, các yếu tố
khác…ảnh hưởng đến RLLA của trẻ [14].
Một số tác giả nghiên cứu thực trạng về biểu hiện RLLA ở trẻ vị thành
niên và đưa ra những con số báo động về tình trạng này.
“Bước đầu nhận dạng và phân loại các biểu hiện tâm bệnh lý thường gặp ở
trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay” là nghiên cứu của trung tâm Nghiên cứu
tâm lý Trẻ em (1995) cho biết trong 352 hồ sơ tâm lý thì tỉ lệ trẻ được chẩn
đoán là tâm căn là 31,53% [17]
Nguyễn Công Khanh sử dụng thang đánh giá lo âu của Spiebeger trên
503 học sinh THCS, cho biết có 17,65 – 19,2% học sinh đã trải qua biểu hiện
của RLLA [3]
Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú cho biết tỉ lệ RLLA chiếm khoảng 30% bệnh
nhân có vấn đề về tâm bệnh trong đó RLLA ở vị thành niên là 75,29% [15]
Trong nghiên cứu “Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tâm lý – tâm
thần cho học sinh phổ thông Đồng Nai” do BS. Nguyễn Văn Thọ và cộng sự
thực hiện năm 1998-2000 cho biết RLLA và trầm cảm chiếm tỉ lệ từ 10-21%
trong số những học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần [12]
Các nghiên cứu trên đã đưa ra rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
một số tiêu chuẩn của stress sau sang trấn [26]
Các nghiên cứu về BLGĐ hầu hết nghiên cứu về tình trạng bạo lực của
cha mẹ, rất ít nghiên cứu nói về tình trạng bạo lực của anh chị em ruột trong
gia đình. Vì vậy, Teicher và các cộng sự đã làm một nghiên cứu trên 1412
khách thể từ 18-25 tuổi mà thời thơ ấu sống trong gia đình có bạo lực. Tác giả
cho biết, khách thể chứng kiến các mối đe dọa và tấn công tới anh chị em ruột
chiếm 2,4 – 4.7 lần trong tổng số các mối đe dọa và tấn công tới mẹ. Khách
thể nghiên cứu chứng kiến mối đe dọa và tấn công tới anh chị em có mối
16
tương quan với các triệu chứng phân ly, không có mối quan hệ với lo âu và
những khách thể bị bạo lực tâm lý bởi cha mẹ lo lắng gấp 10 lần so với chứng
kiến bạo lực đối với anh chị. [29]
Một số tác giả nghiên cứu về thực trạng BLGĐ cho biết:
Có khoảng 15,5 triệu trẻ em Mỹ phải tiếp xúc với BLGĐ ít nhất một
lần trong một năm, và bảy triệu trẻ em phải sống trong các gia đình có bạo lực
đặc biệt nghiêm trọng [25, tr. 137-142].
Khoảng 3,3 triệu trẻ em (Carlson, 1984) và 10 triệu trẻ em (Straus,
1991) tại Hoa Kỳ và 500.000 trẻ em ở Canada (MacLeod, 1987) hàng năm
chứng kiến số lượng các vụ tấn công chống lại người mẹ của chúng. Bao gồm
những hành vi bạo lực khác nhau,từ tâm lý, kinh tế, vật lý và tình dục để giết
người.[23, tr.241- 257]
Các nghiên cứu trên đã nghiên cứu những ảnh hưởng cũng như mối
tương quan giữa bạo lực giữa các thành viên trong gia đình với sức khỏe tâm
thần của khách thể nghiên cứu. Các nghiên cứu lấy mẫu rộng cả về số lượng
và độ tuổi, và xem xét rộng về nhiều vấn đề mà BLGĐ có thể ảnh hưởng chứ
không chỉ có RLLA.
1.1.2.2. Các nghiên cứu về bạo lực gia đình ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ BLGĐ rất cao. Có rất nhiều
nghiên cứu về vấn đề này trong hàng chục năm qua.
nguy cơ bị bạo lực của người phụ nữ từng chứng kiến BLGĐ thời thơ ấu.
Tóm lại, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ và RLLA ở
nước ngoài và Việt Nam. Tuy nhiên rất ít công trình nghiên cứu đưa ra
mối liên hệ giữa hai yếu tố này. Vì vậy nghiên cứu của chúng tôi có định
hướng nghiên cứu cụ thể hơn về vấn đề này với mong muốn lấp đầy khoảng
trống mà các nghiên cứu trước còn bỏ ngỏ.
1.2. Một số vấn đề lý luận của đề tài
1.2.1. Rối loạn lo âu
18
1.2.1.1. Khái niệm về lo âu
Có rất nhiều định nghĩa về lo âu, trong đó có một số định nghĩa tiêu
biểu như:
Tác giả Trần Viết Nghị “lo âu là một trạng thái bệnh lý: khi lo âu
mang đặc tính dai dẳng lan tỏa, tản mạn, không liên quan, không khu trú vào
một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan với
những sự kiện đã qua không còn tính chất thời sự nữa ( lo lơ lửng – tản mạn
– vô lý – lo bệnh lý – lo âu)” [ 8, tr.11]
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn: “lo âu là một rối loạn có cấu trúc
đơn sơ thể hiện ra ngoài bằng một mối lo không đối tượng, lan tỏa và dai
dẳng” [16, tr.11]
Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “Lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường
của con người trước những sự kiện của cuộc sống, là tín hiệu báo trước một trở
ngại sắp xảy ra kèm theo sự suy diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy
trước sự thay đổi của cuộc sống hàng ngày, và cho phép con người sử dụng mọi
biên pháp để giải quyết, đương đầu với những mối đe dọa” [4, tr.205]
“Lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường của con người trước những
sự kiện của cuộc sống ( thi cử, xung đột trong các mối quan hệ, bệnh tật, tai
nạn…) là tín hiệu báo trước một sự trở ngại sắp xảy ra, kèm theo sự suy diễn
tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống hàng
của con người trước những sự kiện của cuộc sống (thi cử, xung đột trong các
mối quan hệ, bệnh tật, tai nạn…) là tín hiệu báo trước một sự trở ngại sắp
xảy ra, kèm theo sự suy diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự
thay đổi của cuộc sống hàng ngày và cho phép con người sử dụng mọi biện
pháp để giải quyết, đương đầu với đe dọa. Lo âu bình thường sẽ hết khi mọi
chuyện đã giải quyết xong. Khi vượt qua được lo âu và sợ hãi thông thường
trong cuộc sống hàng ngày, con người sẽ có thêm kinh nghiệm và thích nghi
với cuộc sống để phát triển các chức năng tâm lý”.
20
1.2.1.2. Khái niệm rối loạn lo âu
Theo định nghĩa lo âu, chúng ta thấy lo âu đôi khi là bình thường, là
cần thiết nhưng nếu người ta không biết cách kiểm soát lo âu mà để nó vượt
quá giới hạn trong thời gian dài kèm theo những biểu hiện về mặt thực thể,
rối loạn thần kinh thực vật… thì lo âu trở thành bệnh lý, gọi là RLLA.
Trong luận văn thạc sĩ của mình, Nguyễn Hồng Thúy đã định nghĩa:
“RLLA là các rối loạn của cảm xúc thông thường, được đặc trưng bởi sự lo
lắng sợ hãi quá mức, dai dẳng và kéo dài nhiều ngày hoặc xuất hiện thành
cơn đột ngột, cấp tính, mãnh liệt. Lo âu có thể khu trú trực tiếp vào một vật,
một tình huống cụ thể và cũng có thể không khu trú, không liên quan đến một
hoàn cảnh đặc biệt nào đó ở xung quang rất chung chung và mơ hồ hoặc là
liên quan với những sự kiện, tình huống có tính chất đe dọa chủ thể trong
quá khứ” [14, tr.13]
Aubrey Lewis định nghĩa RLLA như sau: [9, tr.123]
+ Đó là một trạng thái cảm xúc với tính chất trải nghiệm chủ quan về
sợ hoặc cảm xúc có liên quan gần như thế (kinh hãi, tồn tại, hoảng hốt khiếp
sợ, hoảng sợ, bối rối, kinh sợ, kinh hoàng).
+ Cảm xúc xấu: Có thể là cảm xúc cái chết đe dọa hoặc là suy sụp.
+ Đó là sợ trực tiếp cho tương lai, trong đó có cảm giác đe dọa của
nguy hiểm đang đến.
được… Những nghi thức, cảm xúc sợ hãi thái quá này phải duy trì liên tục ít
nhất 6 tháng thì mới đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh.
1.2.1.3. Các biểu hiện của rối loạn lo âu
Đặc điểm lâm sàng của RLLA: [8, tr 25]
- Lo âu không có chủ đề rõ ràng, không khu trú vào một hoàn cảnh sự
kiện xung quanh nào. Bệnh nhân lo sợ bản thân hoặc người ruột thịt sẽ sớm
mắc một bệnh, hoặc sẽ bị tai nạn, hoặc lo lắng về một tương lai bất hạnh, đói
kém, cô đơn mà không hề có căn cứ thực tế nào.
22
- Lo âu thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng đến nỗi
bệnh nhân mất ăn, mất ngủ.
- Triệu chứng kèm theo với lo âu được trải nghiệm tùy theo từng cá
thể, rất khác nhau, nhưng thường có những biểu hiện:
+ Kích thích, nóng nảy, bồn chồn
+ Run rẩy chân tay
+ Rối loạn giấc ngủ (ngủ rất khó, không duy trì được yên giấc)
+ Vã mồ hôi nhiều (kể cả lúc trời lạnh)
+ Hồi hộp, đánh trống ngực
+ Đi tiểu nhiều lần
+ Căng thẳng cơ bắp
+ Rất mau mệt kể cả sau một cố gắng nhỏ
+ Cáu bẳn (dễ nổi khùng)
+ Hoa mắt, chóng mặt
+ Hụt hơi khi thở
+ Cảm giác buồn chán
1.2.1.4. Các loại rối loạn lo âu [30, tr.48-54]
Theo DSM-IV (Hiệp hội tâm thần Mỹ, 1994), rối loạn lo âu bao gồm:
rối loạn lo âu chia ly, ám ảnh sợ đặc hiệu, RLLA lan tỏa, cơn hoảng sợ,
ám ảnh sợ xã hội, rối loạn ám ảnh nghi thức, rối loạn stress sau sang trấn…
+ Dễ mệt mỏi.
+ Khó tập trung hoặc đầu óc trống rỗng.
+ Dễ cáu kỉnh.
+ Căng thẳng cơ bắp.
+ Rối loạn giấc ngủ.
* Rối loạn hoảng sợ.
Một giai đoạn sợ hãi hay mệt mỏi trầm trọng có giới hạn về thời gian
rõ rệt và trong giai đoạn đó có ít nhất 4 trong số các triệu chứng sau đã xuất
24
hiện một cách đột ngột và lên đến cực điểm trong vòng 10 phút:
+ Tim đập nhanh mạnh, nhịp đập gấp.
+ Vã mồ hôi.
+ Run rẩy.
+ Cảm thấy hơi thở ngắn và ngột ngạt.
+ Cảm thấy ngẹt thở
+ Cảm thấy đau hoặc tức ngực.
+ Bồn chồn hoặc cồn cào trong bụng.
+ Cảm thấy chóng mặt, đứng không vững, choáng váng hoặc đầu nhẹ
bẫng.
+ Cảm thấy đối tượng không thực hoặc bị tách khỏi bản thân.
+ Sợ mất kiểm soát hoặc sợ bị điên.
+ Sợ chết.
* Ám ảnh sợ đặc hiệu.
Ám ảnh sợ đặc hiệu được chẩn đoán với các tiêu chí:
Sự sợ hãi vô lý, quá mức và kéo dài trước một tình huống hoặc một
đối tượng cụ thể (ví dụ: sợ động vật, sợ máu, sợ sấm chớp )
Lo âu thể hiện một cách giống nhau và trực tiếp với các tình huống gây
sợ (trẻ em thường bộc lộ bằng khóc, cơn xung động, chai lì…)
Bệnh nhân thấy sự lo sợ là quá mức và vô lý và tìm cách né tránh các