3
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ LANH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƢỞNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
XÂY DỰNG TẬP TH Ể HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT
LÝ THƢỜNG KIỆT HUYỆN THUỶ NGUYÊN, HẢI PHÕNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƢỞNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
X ÂY DỰNG TẬP TH Ể HỌC SINH Ở TRƢỜNGTRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
LÝ THƢỜNG KIỆT HUYỆN THUỶ NGUYÊN, HẢI PHÕNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 10 HÀ NỘI - 2008
2.2. Thực trạng về quản lý công tác xây dựng tập thể học sinh của nhà trường
40
Chƣơng 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƢỞNG ĐÓI VỚI CÔNG TÁC
XÂY DỰNG TẬP THỂ HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT LÝ THƢỜNG KIỆT
62
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
62
3.2. Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác xây dựng
tập thể học sinh ở trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt
63
3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp quản lý công tác xây dựng tập thể
học sinh trung học phổ thông
83
3.4. Kết quả điều tra về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
quản lý công tác xây dựng tập thể học sinh trung học phổ thông
84 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
88
HS
Học sinh
QLGD
Quản lý giáo dục
THPT
Trung học phổ thông
THCS
Trung học cơ sở
TNCS
Thanh niên cộng sản
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
PHỤ LỤC
một quá trình quản lý nhà trường nhằm mục tiêu giáo dục nhân cách.
1.2. Mặt khác, muốn xây dựng thành công những tập thể học sinh có khả năng
phát triển nhân cách toàn diện cho từng cá nhân, không thể không vận dụng
các lý luận của khoa học quản lý giáo dục, bởi trong mỗi nhà trường và trong
mỗi lớp học, công tác xây dựng tập thể và tổ chức các hoạt động tập thể đó
cũng chính là các nội dung quan trọng của hoạt động quản lý giáo dục.
Muốn xây dựng thành công một tập thể học sinh, nhà quản lý (hiệu
trưởng, giáo viên chủ nhiệm lớp) cần vận dụng các nguyên lý lý luận quản lý,
tìm ra được các biện pháp hữu hiệu để tổ chức, quản lý quá trình xây dựng các
tập thể học sinh vững mạnh.
Cho đến nay, những nghiên cứu vận dụng lý luận quản lý giáo dục vào
thực tiễn quản lý nhà trường THPT đã có khá nhiều, song nghiên cứu vận dụng
vào góc độ tổ chức, quản lý quá trình xây dựng các tập thể học sinh (toàn
trường, lớp học) lại rất ít được quan tâm. Có lẽ chính vì vậy, thực tế công tác
xây dựng tập thể học sinh trong các nhà trường hiện nay chủ yếu vẫn dựa trên
kinh nghiệm tự phát, còn mang nặng tính hình thức và từ đó dẫn đến chất
lượng, hiệu quả của công tác này còn thấp, chưa góp phần đáng kể vào mục
tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường. 1.3. Đối với trường THPT Lý Thường Kiệt, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng
công tác xây dựng tập thể học sinh đã được chú ý từ nhiều năm nay.Tuy nhiên
về thực chất, đó mới là những kinh nghiệm chứ chưa phải là sự chủ động
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác xây dựng tập thể học sinh ở trường
THPT Lý Thường Kiệt - Thuỷ Nguyên- Hải Phòng (Có đối chiếu với một số
trường THPT cùng huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng).
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý công tác xây dựng tập thể học
sinh ở trường THPT Lý Thường Kiệt- Thuỷ Nguyên- Hải Phòng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tập thể học sinh THPT và nghiên cứu vận
dụng các lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường nhằm xây dựng khung
lý thuyết cho các biện pháp quản lý công tác xây dựng tập thể học sinh THPT.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý công tác xây dựng
tập thể học sinh ở trường THPT Lý Thường Kiệt- Thuỷ Nguyên- Hải Phòng 5
năm trở lại đây (2003-2008).
- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác xây dựng tập thể học sinh ở trường
THPT Lý Thường Kiệt- Thuỷ Nguyên- Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay và lấy
ý kiến đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp (mở rộng đối
tượng khảo sát đến một số trường THPT ở huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng).
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đã nêu, trong luận văn chúng tôi sử dụng các
nhóm phương pháp nghiên cứu:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập, đọc, phân tích, xử lý tài liệu lý luận và các công trình nghiên
cứu có liên quan đến đề tài, chủ yếu để xây dựng cơ sở lý luận cho các biện pháp.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát (quan sát các hoạt động xây dựng tập thể học
sinh, các hoạt động giáo dục, dạy học có liên quan)
- Phương pháp điều tra bảng hỏi (thiết kế 1-2 phiếu hỏi dành cho giáo
viên, cán bộ quản lý nhằm phát hiện thực trạng, thăm dò về tính khả thi của
các đề xuất).
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm (tổng kết kinh nghiệm của nhà
trường, của một số giáo viên chủ nhiệm những năm qua).
- Phương pháp chuyên gia (học hỏi kinh nghiệm, xin ý kiến về phương
pháp nghiên cứu, về các biện pháp).
nhằm phân tích và đánh giá thực trạng quản lý công tác xây dựng tập thể học
sinh ở trường THPT Lý Thường Kiệt, kết hợp với tổng kết, phân tích kinh
nghiệm, xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề xuất các biện pháp.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng các thống kê toán học: lập bảng tính phần trăm, xếp bậc, phân loại
- Sử dụng phương pháp biểu đồ, đồ thị.
Durkheim (1858-1917), John Dewey (1859-1952)
Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học, tâm lý học tiêu biểu như
Nguyễn Lân, Hà Thế Ngữ, Phạm Minh Hạc, Đặng Vũ Hoạt cũng đã có
những đóng góp nền móng trong lĩnh vực lý luận và thực tiễn quản lý
giáo dục trong nhà trường.
Trong những nghiên cứu chuyên sâu về lý luận quản lý giáo dục có sự
đóng góp của các nhà nghiên cứu có tâm huyết như Nguyễn Ngọc Quang,
Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Kiểm, Trần
Khánh Đức Gần đây đã có nhà nghiên cứu đi sâu vào “đổi mới tư duy quản lý
giáo dục” của Trần Kiểm (2005); Nguyên tắc quản lý chất lượng giáo dục của
Đặng Thành Hưng (2004).
Gần đây, nhiều luận văn thạc sĩ của một số cơ sở đào tạo đã đi vào giải
quyết những khía cạnh khác nhau của thực tiễn quản lý giáo dục, đề ra các biện
pháp quản lý trong nhiều lĩnh vực ở trường phổ thông:
- Đã có những nghiên cứu đi sâu vào lĩnh vực quản lý học sinh, sinh
viên (Lưu văn Liêm, 2004)…
- Một số luận văn thạc sĩ cũng có đề cập đến biện pháp quản lý công tác
giáo viên chủ nhiệm và công tác quản lý của giáo viên chủ nhiệm lớp: đề tài
Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường
THPT ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay của tác giả Nguyễn Xuân Tuyên
(2006); đề tài Những biện pháp quản lý học viên của người giáo viên chủ
nhiệm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ ở học viện chính trị khu vực I
của tác giả Nguyễn Minh Liêm (2007,[35]). …
- Có một số nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề xây dựng tập thể
lớp học sinh và công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp: Đề tài Xây dựng tập
thể lớp xuất sắc của tác giả Lê Thị Lệ Tình, tổ Văn- GDCD trường THPT
Phạm Phú Thứ, Đồng Tháp (2007); đề tài Vai trò của giáo viên chủ nhiệm
trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn
lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách
tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất'' [34, tr.8]
- Khái quát hơn, các tác giả ở Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội
là Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: ''Quản lý là sự
tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được
mục tiêu của tổ chức'' [10, tr.1]
Những quan niệm trên có khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý
(một tổ chức/ hệ thống) là tổ hợp các tác động chuyên biệt, có chủ đích của
chủ thể quản lý lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm phát huy tiềm
năng của các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực và cơ hội của tổ chức/ hệ thống … trên cơ sở đó đảm bảo cho tổ
chức/ hệ thống vận hành (hoạt động) tốt, đạt được các mục tiêu đã đặt ra với
chất lượng và hiệu quả tối ưu trong các điều kiện biến động của môi trường.
1.2.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo [2, tr124], quản lý giáo dục (QLGD) theo
nghĩa tổng quátt, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống
giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy
mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội (nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài).
Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục
có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ,
biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội.
Quản lý giáo dục là sự vận dụng một cách cụ thể các nguyên lý của quản
lý nói chung vào lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, cần làm rõ nội hàm khái niệm,
giáo dục- đào tạo.
1.2.1.3. Chức năng của quản lý giáo dục
QLGD cũng có đầy đủ các chức năng cơ bản của quản lý nói chung,
theo sự thống nhất của đa số tác giả thì QLGD có 4 chức năng: Lập kế hoạch,
Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra.
+ Lập kế hoạch: là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt
động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó. Kế hoạch là nền
tảng của quản lý, lập kế hoạch bao gồm: Xác định chức năng, nhiệm vụ và các
công việc của đơn vị, dự báo, đánh giá triển vọng, đề ra mục tiêu, chương
trình, xác định tiến độ, xác định ngân sách, xây dựng các nguyên tắc tiêu
chuẩn, xây dựng các thể thức thực hiện
+ Tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và
quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được
mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Xây dựng các cơ cấu, nhóm, tạo sự
hợp tác liên kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp bồi dưỡng cho phù
hợp, phân công nhóm và cá nhân.
+ Chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): là quá trình tác động đến các thành
viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các
mục tiêu của tổ chức.Trong chỉ đạo chú ý sự kích thích động viên, thông tin
hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế.
+ Kiểm tra: là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý những
kết quả của quá trình vận hành tổ chức. Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số
công việc, phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh.
[Nguồn : Công nghệ thông tin trong QLGD - Ngô Quang Sơn, tr.13]
Quá trình quản lý nói chung, quá trình QLGD nói riêng là một thể thống
nhất trọn vẹn. Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối giúp
cho người quản lý định hướng thao tác trong hoạt động của mình. Trong thực
tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng, thậm chí có chức năng diễn
ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá trình đó.
1.2.2. Quản lý nhà trường 1.2.2.1. Khái niệm quản lý nhà trường (quản lý trường học)
Nhà trường (cơ sở giáo dục- đào tạo) là một cơ cấu tổ chức, cũng là một
bộ phận cấu thành của một hệ thống giáo dục.
Quản lý nhà trường chính là hoạt động QLGD của một cơ cấu / tổ chức
giáo dục, đồng thời cũng là tác động quản lý trực tiếp các hoạt động giáo dục -
học tập phạm vi nhà trường. Hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú
và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo một cách khoa học sẽ đảm bảo đoàn
Kiểm tra,
đánh giá
Tổ chức
kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.
Quản lý nhà trường (QLNT) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới đạt mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [22, tr.32].
“Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục
khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[48, tr.205].
Quản lý lãnh đạo nhà trường chính là sự tác động quản lý có chủ đích
của Hiệu trưởng tới tất cả các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, các nguồn
lực nhằm đưa mọi hoạt động của nhà trường đạt đến mức phát triển cao nhất.
Có nhiều cấp quản lý trường học: Cấp cao nhất là Bộ Giáo dục và Đào
tạo, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp quản lý hành chính nhà nước vĩ mô.
Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở giáo dục- đào tạo ở tỉnh, thành phố
và các Phòng giáo dục - đào tạo ở quận, huyện. Cấp quản lý trực tiếp chính là sự
tác động của Hiệu trưởng quản lý các hoạt động giáo dục, huy động tối đa các
nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái hiện
có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng các biện pháp quản lý và phát
triển chất lượng giáo dục của nhà trường.
nhà nước về giáo dục- đào tạo chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của nhà
trường. Theo Điều lệ trường trung học [8, tr13], hiệu trưởng có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức bộ máy nhà trường.
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học.
- Quản lý giáo viên, nhân viên, học sinh; quản lý chuyên môn; phân công
công tác, kiểm tra đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên.
- Quản lý và tổ chức giáo dục học sinh.
- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường.
- Thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước đối với giáo viên, nhân
viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường.
- Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ
hiện hành
Như vậy, hiệu trưởng một trường THPT là chủ thể quản lý, chịu trách
nhiệm tổ chức các hoạt động của nhà trường theo đúng quan điểm đường lối
phát triển giáo dục của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước, thực thi công
tác quản lý nhà trường nhằm đảm bảo các mục tiêu, nội dung chương trình và
chất lượng giáo dục học sinh. Theo đó, quản lý và tổ chức giáo dục học sinh là
một trong các nhiệm vụ trung tâm, đồng thời có liên quan trực tiếp đến các
nhiệm vụ, quyền hạn của hiệu trưởng. Tổ chức và quản lý công tác xây dựng
tập thể học sinh toàn trường (thông qua từng lớp học) chính là một nội dung
công tác thường xuyên của mỗi người hiệu trưởng nói chung và của hiệu
trưởng trường THPT nói riêng.
Trong thực tế đất nước ta đang có những chuyển biến sâu sắc theo
hướng mở cửa, hội nhập về kinh tế và trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện
nay, công việc quản lý nhà trường và vai trò tổ chức, quản lý của hiệu trưởng
càng trở nên quan trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục
giáo dục không chỉ gắn bó với mục tiêu giáo dục mà còn với một hệ thống yếu
tố trực tiếp hay gián tiếp tạo nên nó.
Chất lượng giáo dục cũng trực tiếp liên quan đến hiệu quả giáo dục, mà
theo quan niệm phổ quát đó là thể hiện mối quan hệ chung nhất giữa sự đầu tư
công sức, nhân lực, vật lực và kết quả đạt được sau một giai đoạn nhất định,
xét theo mục tiêu giáo dục trong những điều kiện cụ thể [38, tr75].
1.2.3.2. Các đặc trưng chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là khái niệm khó xác định nội hàm, bởi có sự tham
gia của nhiều yếu tố chức năng. Theo định nghĩa trên đây (1.2.3.1) có thể hình
dung về các đặc trưng của chất lượng giáo dục xét từ nhiều phương diện qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Sự đánh giá chất lƣợng trong giáo dục
giáo dục
Sự cạnh tranh về
giá trị, kết quả sản
phẩm GD
Sự tuân thủ các
thủ tục, quy trình
GD-dạy học
Quan điểm
chung về chất
lƣợng
Sự thoả mãn tối
đa về nhu cầu
khách hàng
(HS, gđ, xã hội)
Mức độ phát triển
nhân cách, gia
tăng giá trị sức lao
động
Sự cam kết
đảm bảo thực
hiện mục tiêu
chất lƣợng
Cải tiến liên tục
chức biết học hỏi, trong đó có việc tổ chức thành công các tập thể học sinh
thì đây chính là những yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng giáo dục. phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,
cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. 1.2.4.2. Nhiệm vụ của trường trung học phổ thông
Nhiệm vụ của trường THPT đã được xác định trong Điều lệ trường
trung học [8], bao gồm:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo
chương trình giáo dục trung học do Bộ trưởng bộ GD ĐT ban hành.
- Tiếp nhận học sinh, vận động học sinh bỏ học đến trường, thực hiện kế
hoạch phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong phạm vi cộng đồng theo quy
định của nhà nước. Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh.
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy
định của pháp luật.
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng
thực hiện các hoạt động giáo dục.
- Tổ chức giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã
hội trong phạm vi cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ của nhà trường sẽ quy định và định hướng toàn bộ nội
dung hoạt động của một nhà trường. Từ đó, các nhiệm vụ của nhà trường cũng
chính là cơ sở xác định các nhiệm vụ quản lý nhà trường và nội dung cơ bản
trong công tác quản lý của người hiệu trưởng.
Như vậy, công tác xây dựng tập thể học sinh có vị trí quan trọng trong
thể HS là lĩnh hội hệ thống tri thức văn hoá- khoa học, trau dồi đạo đức, rèn
luyện thể lực, chuẩn bị nghề nghiệp để góp phần xây dựng một xã hội giàu
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Một tập thể HS có các tiêu chí nhất định
về nhiều mặt.
Tập thể học sinh, theo nghĩa đầy dủ của khái niệm này, không tự nhiên
có được. Để đạt được các tiêu chí của một tập thể HS, tức là để trở thành tập
thể, phải có một quá trình phấn đấu rèn luyện của cả tập thể và mỗi thành viên
(xem mục 1.2.5.3 và 1.2.5.4).
- Tập thể học sinh toàn trường
Ở trường THPT, tập thể học sinh toàn trường còn được gọi là Tập thể
học sinh Đoàn trường. Còn ở trường THCS và Tiểu học, tập thể học sinh toàn
trường còn được gọi là Tập thể học sinh liên đội TNTP Hồ Chí Minh
Đoàn trường là tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong trường
THPT chịu trách nhiệm tập hợp và giáo dục, rèn luyện mọi đoàn viên, thanh
niên đang học tập trong trường theo lý tưởng và mục tiêu của Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh. Lý tưởng và mục tiêu của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thống nhất với
mục tiêu giáo dục và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường phổ thông. Đoàn
trường được hình thành và hoạt động theo điều lệ của Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh. Ban chấp hành Đoàn trường tổ chức các hoạt động tập thể của đoàn
viên, thanh niên HS dưới sự lãnh đạo của Chi bộ đảng nhà trường.
Dưới Đoàn trường lại có các Chi đoàn. Chi đoàn là tổ chức của đoàn
viên TNCS trong một lớp học. Chi đoàn bầu ra Ban chấp hành chi đoàn theo
nhiệm kỳ một năm học. Chi đoàn do giáo viên chủ nhiệm lớp làm cố vấn về
công tác Đoàn. Chi đoàn là nơi tổ chức các hoạt động và sinh hoạt tập thể của
học sinh trong lớp, gắn với mọi hoạt động học tập, rèn luyện thường xuyên của
mỗi học sinh.
- Tập thể lớp