Lịch sử học thuyết kinh tế Lý luận giá trị lao động
Giảng viên: Ngô Gia Lưu Trình bày: Nhóm III
LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản bắt đầu từ CN trọng thương.
Sự phát triển của CNTB đã làm cho những luận điểm của CN trọng thương trở nên lỗi
thời. Trọng tâm chú ý của các nhà kinh tế học ngày càng chuyển từ lĩnh vực lưu thông
sang lĩnh vực sản xuất. Chủ nghĩa trọng thương nhường chỗ cho chủ nghĩa trọng nông.
Mặc dù là giai đoạn cao hơn so với chủ nghĩa trọng thương, nhưng chủ nghĩa trọng
nông còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chỉ giới hạn ở lĩnh vực sản xuất trong nông nghiệp
và chưa có khái niệm đúng đắn về giá trị.
Chủ nghĩa trọng nông nhường chỗ cho kinh tế học tư sản cổ điển mà tiêu biểu là
kinh tế học chính trị tư sản cổ điển Anh mở đầu từ W. Petty (1622-1687) đến A. Smith
(1723-1790) và kết thúc ở D. Ricardo (1772-1823). Trong đó: W. Petty là một trong
những người sáng lập ra học thuyết kinh tế cổ điển ở Anh. A. Smith là nhà kinh tế của
thời kỳ công nghiệp thủ công của CNTB, còn Ricardo là nhà kinh tế của thời kỳ đại
công nghiệp cơ khí của CNTB, là đỉnh cao lý luận của kinh tế học chính trị tư sản cổ
điển. Đặc biệt lý thuyết giá trị lao động là một trong những lý thuyết quan trọng của
các nhà kinh tế các nhà kinh tế thời này.
Qua đánh giá các điểm giá trị khoa học và hạn chế của W. Petty, A. Smith và
Ricardo trong lý luận giá trị lao động để thấy được Mác đã thừa kế và phát triển tư
tưởng của họ như thế nào? Chúng ta sẽ cùng làm sáng tỏ qua đề tài:
“NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ
SẢN CỔ ĐIỂN TỪ TK XVII-XIX. NHỮNG LUẬN ĐIỂM MÁC ĐÃ THỪA KẾ,
PHÁT TRIỂN VÀ PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỂM TẦM THƯỜNG”
Đề tài gồm có 2 chương:
Chương 1: Những quan điểm chính của học thuyết kinh tế tư sản về “giá trị lao
động”.
Chương 2: Những luận điểm Mác kế thừa, phát triển và phê phán những luận
điểm tầm thường.
1
Lịch sử học thuyết kinh tế Lý luận giá trị lao động
Giảng viên: Ngô Gia Lưu Trình bày: Nhóm III
+ Về xã hội, cách mạng tư sản Anh đã hoàn thành và tạo ra tình hình kinh tế, chính trị
mới. Do đó cần phải luận giải cơ sở tồn tại và phát triển của phương thức sản xuất mới
này.
+ Về tư tưởng, những thành tựu khoa học tiến bộ như triết học duy vật, toán học, vật lý
học, có tác dụng đấu tranh phá bỏ chế độ phong kiến, mở đường cho phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, tạo điều kiện cho tư tưởng kinh tế mới của giai cấp tư
sản phát triển.
1.2. Các quan điểm chính của học thuyết kinh tế tư sản về “ giá trị lao động ”.
1.2.1. Lý thuyết của W.Petty (1623 – 1687).
Trong tác phẩm bàn về thuế khoá và lệ phí (1662) W.Petty nghiên cứu về giá cả chia
giá cả thành:
- Giá cả tự nhiên do hao phí lao động quy định và năng suất lao động có ảnh hưởng
đến mức hao phí đó. Giá cả tự nhiên là giá trị của hàng hoá. Như vậy ông là người đầu
tiên tìm thấy cơ sở của giá cả tự nhiên là lao động , thấy được quan hệ giữa lượng giá
trị và năng suất lao động .
=> Kết luận: Số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị
hàng hóa, giá cả tự nhiên (giá trị), tỷ lệ nghịch với NS lao động khai thác vàng và bạc
- Giá cả nhân tạo chính là giá trị trao đổi và là giá cả thị trường của hàng hóa, thay
đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên, đồng thời phụ thuộc vào cung cầu thị trường.
- Giá cả chính trị chính là giá cả thị trường của hàng hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố
ngẫu nhiên và khó xác định . Khi điều kiện chính trị biến động thì giá cả hàng hóa sẽ
thay đổi và biến động. CP lao động trong giá cả chính trị thường cao hơn chi phí lao
động trong giá cả tự nhiên .
- Ông đã nêu lên một luận điểm rất nổi tiếng : “ Cho rằng lao động là cha, đất đai là
mẹ của mọi của cải vật chất ”. Xét Về phương diện sản xuất của cải vật chất thì quan
điểm này khẳng định nhân tố tạo ra của cải là tự nhiên và lao động. Tuy nhiên xét về
3
Lịch sử học thuyết kinh tế Lý luận giá trị lao động
Giảng viên: Ngô Gia Lưu Trình bày: Nhóm III
- Ông phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và kiểm định. Giá trị sử
dụng không quy định giá trị trao đổi. Ông bác bỏ quan điểm ích lợi quyết định giá trị
trao đổi.
- Ông giải thích nguồn gốc của giá trị hàng hóa và cho rằng lao động là nguyên nhân
và thước đo của giá trị, cho rằng trao đổi hàng hóa cho nhau thực chất là trao đổi lao
động cho nhau.
Giá trị hàng hóa tổng sản phẩm xã hội = V + M
Trong đó:
+ V là giá trị tư bản khả biến
+ M là giá trị thặng dư
- Ông đưa ra định nghĩa thứ hai về giá trị : giá trị của hàng hóa là do lao động sống mà
hàng hóa có thể mua được. Ông viết: một người có hàng hóa do sức lao động của mình
làm ra nhưng không muốn tiêu dùng mà muốn trao đổi để lấy những hàng hóa khác,
thì giá trị của số hàng hóa đó bằng lượng lao động mà anh ta có thể chiếm dụng hoặc
mua được nhờ có số hàng hóa đó.
- Từ định nghĩa này, ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế
hàng hóa giản đơn. Còn trong nền kinh tế hàng hóa phát triển thì giá trị do các nguồn
thu nhập tạo thành. Ông viết “tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên
của mọi khoản thu cũng như của mọi giá trị trao đổi”
- Tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị của hàng hóa, lao động là nguồn
gốc của giá trị. Xuất phát từ lý thuyết phân công lao động xã hội phát sinh nhu cầu trao
đổi vật này lấy vật khác. Ông phân biệt rõ 2 loại giá trị là giá trị sử dụng và giá trị trao
đổi, giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi và ngược lại.
5
Lịch sử học thuyết kinh tế Lý luận giá trị lao động
Giảng viên: Ngô Gia Lưu Trình bày: Nhóm III
- Những thứ có giá trị sử dụng lớn nhất thường có ít hay không có giá trị trao đổi (như
nước chẳng hạn), ngược lại những thứ có giá trị trao đổi lớn nhất lại thường có ít hay
không có giá trị sử dụng (như kim cương chẳng hạn)
- Ông phân biệt lao động giản đơn và lao động phức tạp trên cơ sở tính toán lượng giá
-Tóm lại, lý thuyết của Adam Smith đã có những đóng góp quan trọng cho khoa học
Kinh Tế, đặc biệt là nền Kinh Tế Thị Trường. Ông đã phát triển thêm lý luận giá trị -
lao động và dùng lý thuyết này làm cơ sở để nghiên cứu tiền lương, lợi nhuận và địa
tô, tuy nhiên, ông lại không nhất quán trong lý thuyết giá trị lao động. Do đó, l1 thuêt2
lý thuyết giá trị của ông vừa có có yếu tố khoa học, vừa có yếu tố tầm thường.
1.2.3. Lý thuyết của D. Ricardo
- Ông phân tích giá trị trên hai mặt chất và lượng :
+ Về chất giá trị do lao động tạo ra, lao động là cơ sở duy nhất của giá trị.
+ Về lượng, giá trị được đo bằng lượng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra
hàng hóa.
+ Giá trị hàng hóa không chỉ do lao động trực tiếp ( lao động sống) mà còn do lao
động quá khứ tạo ra.
- Ricardo cho rằng giá trị có nguồn gốc duy nhất từ lao động. Ông khẳng định giá trị
hàng hóa phụ thuộc vào số lượng lao động tương đối cần phải sử dụng trong sản xuất
chứ không phụ thuộc vào số tiền phải trả cho lao động ấy tăng lên hay giảm xuống, và
không phải do khối lượng tương đối các hàng hóa mà người lao động đổi được từ lao
động của mình.
- Giá trị hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động
- Giá trị trao đổi của hàng hóa do lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa quyết định
- Giá trị trao đổi phụ thuộc vào 2 nhân tố
+ Lượng lao động hao phí
7
Lịch sử học thuyết kinh tế Lý luận giá trị lao động
Giảng viên: Ngô Gia Lưu Trình bày: Nhóm III
+ Sự khan hiếm
-Giá trị xã hội của hàng hóa do lượng giá trị lớn nhất( hao phí lao động trong điều
kiện xấu ) quyết định
- D.Ricardo đã phân biệt hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao
đổi. Giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi, đồng thời nó cũng khác với của
cải. Nếu một hàng hóa không có chút giá trị sử dụng nào, nó sẽ không có giá trị trao
2.1.Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện.
- Đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa về cơ bản đã hoàn
thành, lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự phát triển nhảy vọt, giai cấp tư sản đã
lớn mạnh. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được thiết lập ở một số nước tiên
tiến như Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan,…
- Cùng với quá trình đó, giai cấp vô sản phát triển, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và
vô sản ngày càng trở nên gay gắt, nhiều phong trào đấu tranh của công nhân xuất hiện.
Đặc biệt là các tổ chức Đảng đầu tiên của giai cấp công nhân ra đời. Từ đó, đòi hỏi
phải có lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Marx ra
đời, Karl Marx (1818-1883) và Engels (1820-1895) là những người sáng lập ra chủ
nghĩa Marx.
- Chủ nghĩa Marx phát sinh ra là sự tiếp tục trực tiếp của triết học cổ điển Đức, kinh tế
chính trị Cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp. Trong hệ thống các học thuyết
kinh tế, học thuyết về giá trị lao động được trình bày trong chương “Hàng hóa” được
xem như là cơ sở của tất cả các học thuyết kinh tế của Marx. Cụ thể, Marx là người
đầu tiên phát hiện ra tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Trên cơ sở phát hiện
này, K.Marx đã thực hiện một cuộc cách mạng khoa học trong kinh tế chính trị. Đồng
thời cũng nhờ phát hiện này, lần đầu tiên trong lịch sự học thuyết kinh tế, K.Marx đã
xây dựng học thuyết giá trị-lao động một cách hệ thống và hoàn chỉnh.
2.2. Những luận điểm khoa học của học thuyết kinh tế tư sản cổ điển.
- Phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, khẳng định giá trị sử dụng không
quyết định giá trị trao đổi.
- Xác định lượng giá trị đo bằng thời gian lao động.
10
Lịch sử học thuyết kinh tế Lý luận giá trị lao động
Giảng viên: Ngô Gia Lưu Trình bày: Nhóm III
- Đã chú ý đến sự khác nhau giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp trong việc
xác định lượng giá trị hàng hóa.
- Thấy được mối quan hệ giữa giá cả tự nhiên và giá cả thị trường ( mối quan hệ giữa
giá trị với giá cả thị trường hàng hóa ).
hóa, đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Nó trở thành chìa khóa khoa học, để
xây dựng học thuyết kinh tế của mình thật sự đúng đắn. Tính chất hai mặt của lao động
sản xuất hàng hóa, xác định lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng và lao động trừu
tượng tạo ra giá trị hàng hóa.
+ Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể, có đối tượng lao động,
mục đích, phương pháp lao động, kết quả sản xuất riêng. Chính cái riêng đó phân biệt
được các loại lao động cụ thể khác nhau. Mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử
dụng nhất định. Lao động cụ thể tồn tại vĩnh viễn cùng với sản xuất và tái sản xuất xã
hội, không phụ thuộc vào bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào.
+ Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa đã gạt bỏ hình thức
biểu hiện cụ thể của nó để quy về một cái chung đồng nhất. Đó là sự tiêu phí sức lao
động, tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh của con người. lao động trừu tượng tạo ra giá trị
hàng hóa. Chỉ có lao động sản xuất hàng hóa mới có tính chất là lao động trừu tượng.
- Quá trình phân tích, K.Marx đi từ hàng hóa đến giá trị trao đổi, tìm ra thực thể và
chất của giá trị lao động. Sau đó, ông đi vào phân tích lượng giá trị hàng hóa, đó là
lượng thời gian lao động xã hội cần thiết, thời gian lao động xã hội cần thiết là thời
gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản
xuất bình thường của xã hội, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ
lao động trung bình trong xã hội. Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
hàng hóa thay đổi thì lượng giá trị hàng hóa sẽ thay đổi.
- K.Marx chỉ ra ảnh hưởng khác nhau tới lượng giá trị hàng hóa của lao động giản đơn
và lao động phức tạp: “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy
12
Lịch sử học thuyết kinh tế Lý luận giá trị lao động
Giảng viên: Ngô Gia Lưu Trình bày: Nhóm III
thừa, hay nói cho đúng hơn, là lao động giản đơn được nhân lên, thành thử một lượng
lao động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương với một lượng lao động giản đơn lớn
hơn”. Vì vậy, khi trao đổi người ta lấy lao động giản đơn làm đơn vị tính toán và quy
tất cả những lao động phức tạp thành lao động giản đơn.
- K.Marx phê phán các quan điểm của W.Petty, A.Smith, D.Ricacdo về giá trị hàng