Những biện pháp tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý ở trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp - Pdf 25



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
TRANG
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3
4. Giả thuyết khoa học
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
6. Phạm vi nghiên cứu
4
7. Phương pháp nghiên cứu
4
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý
6
1.1. Lịch sử nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
6
1.1.1. ứng dụng công nghệ thông tin trên thế giới
6
1.1.2. ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam
7
1.2. Một số khái niệm cơ bản
9
1.2.1. Khái niệm quản lý

2.1.2. Tổ chức bộ máy của Nhà trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ
34 thuật Công nghiệp I
2.1.3. Cơ cấu ngành nghề
36
2.1.4. Quy mô đào tạo của trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật
Công nghiệp I
38
2.2. Điều kiện địa lý, môi trường xã hội, nguồn nhân lực và cơ
sở vật chất của trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công
nghiệp I
40
2.2.1. Điều kiện địa lý, môi trường xã hội
40
2.2.2. Điều kiện về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất
41
2.3. Thời cơ, thách thức của nhà trường trong bối cảnh hiện nay
47
2.4. Thực trạng công tác tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin
ở trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I
48
2.4.1. Quy định, chế độ chính sách cho việc ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông
48
2.4.2. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông
49
2.4.3. Cơ sở vật chất phục vụ ứng dụng công nghệ thông tin

3.2.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về
ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Nhà trường
65
3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên về mọi
mặt đặc biệt là bồi dưỡng trình độ tin học
67
3.2.4. Quản lý chặt chẽ việc ứng dụng công nghệ thông tin
71
3.2.5. Dùng công nghệ thông tin làm phương tiện hỗ trợ công
tác quản lý
73
3.2.6. Tạo môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào quản lý
74
3.2.7. Xây dựng đội ngũ chuyên gia cung cấp thông tin tư vấn
cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, xây dựng
mối quan hệ giữa nhà trường với các nhà sản xuất phần mềm
75
3.2.8. Xây dựng cơ sở dữ liệu chung cho các phần mềm quản lý
78
3.2.9. Hiện đại hoá cơ sở vật chất, thiết bị cho việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý
80
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
80
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất
81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
85

:
Cán bộ quản lý
6.
GV
:
Giáo viên
7.
CNV
:
Công nhân viên
8.
KH-KT
:
Khoa học - Kỹ thuật
9.
LĐ-XH
:
Lao động – Xã hội
10.
CNTT
:
Công nghệ thông tin
11.
CNTT&TT
:
Công nghệ thông tin và Truyền thông
12.
CSDL
:
Cơ sở dữ liệu

QLKH
:
Quản lý khoa học
21.
TCKT
:
Tài chính kế toán
22.
NXB
:
Nhà xuất bản 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới ngày nay đang có sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc về cả
đời sống vật chất và tinh thần. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát
triển với những bước tiến nhảy vọt đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp
sang kỷ nguyên thông tin và phát triển nền kinh tế tri thức. Toàn cầu hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là quá trình hợp tác
để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo
vệ lợi ích quốc gia. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, sự
phát triển năng động của nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá
đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các
nước trở lên hiện thực hơn và nhanh chóng hơn. Khoa học – công nghệ trở
thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội. Giáo dục là nền
tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, là nền tảng của sự phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của của xã hội hiện đại và đóng vai trò
chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng

“Chất lượng và hiệu quả Giáo dục và Đào tạo còn thấp”, “Công tác quản lý
Giáo dục và Đào tạo có những yếu kém, bất cập”, trong đó đổi mới công
tác quản lý Giáo dục và Đào tạo là một trong bốn giải pháp mà nghị quyết
đã nêu ra.
Hoà trong dòng chảy của hội nhập quốc tế, Giáo dục và Đào tạo
cũng phải chuyển mình thay đổi để đáp ứng được với những nhiệm vụ mới,
yêu cầu mới của ngành mà điểm nhấn quan trọng nhất là trong quản lý giáo
dục. Muốn vậy phải có những thay đổi cả về phương thức cũng như về
phương tiện quản lý. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, kinh tế
thông tin thì việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
(CNTT&TT) vào trong quản lý là một điều tất yếu phải thực hiện. Tuy
nhiên với những đặc thù riêng của ngành công nghệ thông tin (CNTT) việc
áp đặt những phương thức, những biện pháp quản lý theo phương thức sản 3
xuất cũ là không phù hợp. Cụ thể là sự thất bại của đề án 112 (Đề án tin
học hoá quản lý hành chính Nhà nước) mới đây cùng với những hoạt động
chưa đem lại hiệu quả mong muốn khi ứng dụng CNTT trong quản lý nhà
trường nói chung và tại trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I
nói riêng đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài “Những biện pháp tổ chức ứng
dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý ở trường Cao đẳng Kinh
tế – Kỹ thuật Công nghiệp I” với mong muốn chỉ ra được những tồn tại
trong ứng dụng CNTT trong quản lý nhà trường và đưa ra những biện pháp
tổ chức triển khai phù hợp để ứng dụng CNTT vào công tác quản lý đạt
hiệu quả cao góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đề xuất một số biện
pháp tổ chức ứng dụng Công nghệ thông tin vào công tác quản lý ở trường
Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I.

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tìm hiểu khái niệm, thuật ngữ có liên quan.
- Nghiên cứu các văn bản, các chủ trương, chính sách của Nhà nước,
Bộ, Ngành, Địa phương có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Tham khảo các bài luận văn cùng chuyên ngành và các bài giảng
của các giáo sư, tiến sĩ về quản lý giáo dục.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát (công tác ứng dụng CNTT vào quản lý ở
trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I).
- Phương pháp điều tra: Sử dụng mẫu phiếu điều tra đối với cán bộ,
giáo viên và công nhân viên về công tác tổ chức ứng dụng CNTT vào quản
lý ở Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I.
- Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên
về ứng dụng CNTT vào công tác quản lý ở trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ
thuật Công nghiệp I hiện nay và các ý kiến đánh giá về các biện pháp tổ
chức mà tác giả đề xuất. 5
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu sự hoạt
động của hệ thống CNTT hiện có của Nhà trường. Những kết của mà hệ
thống đã đem lại cũng như những tồn tại hạn chế của hệ thống.
7.3. Nhóm phương pháp bổ trợ
- Phương pháp thống kê toán học: Trên cơ sở các con số thống kê
đưa ra những đánh giá, kết luận và đề xuất biện pháp. 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC ỨNG DỤNG

của việc thực tập kinh doanh của họ”.
Tại Canada, gần đây đây việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên
cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematic) đã đem lại thành tích
nổi bật cho những em học sinh lớp 9 trong kiến thức về toán học và những
kỹ năng liên quan đến số học, mô hình và hình dạng so với những em học
sinh sử dụng sách giáo khoa truyền thống. Một nghiên cứu gần đây của
Canada cũng chỉ ra rằng những học sinh lớp 8 mà giáo viên có sử dụng
máy vi tính để mô phỏng và ứng dụng đạt được những suy nghĩ có tổ chức
hơn và biểu hiện tốt hơn so với những học sinh không được học trên máy
tính.
1.1.2. Ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã rất trú trọng đến việc
ứng dụng công nghệ kỹ thuật trong quản lý đặc biệt là CNTT như chương
trình quốc gia về CNTT (1996 – 2000) và Đề án thực hiện về CNTT tại các
cơ quan Đảng (2003 – 2005) ban hành kèm theo Quyết định 47 của Ban Bí
thư TW Đảng. Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (2001 –
2005) ban hành kèm theo Quyết định sô 112/2001/QĐ-TTg ngày
25/07/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt quan trọng ngày 29 tháng 6
năm 2006 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban
hành Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 trên cơ sở Hiến pháp
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ
sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 11 năm 2001 của
Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10.
Bên cạnh đó là hàng loạt các dự án tin học hoá quản lý hành chính,
quản lý sản xuất kinh quanh của các Bộ, ban ngành, các đơn vị, các doanh
nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Việc
triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý bước đầu đã đem lại những hiệu 8


9
CNTT vào công tác quản lý ở Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Công
nghiệp I là rất cán thiết trong tiến trình phát triển Nhà trường.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.
Người Trung Quốc có câu “ Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư”. Nghĩa
là có ba người cùng đi thì trong đó có một người là thầy của mình. Trong
trường hợp trên nghĩa là tồn tại sự quản lý.
Khái niệm quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội, hoạt động quản lý được hình thành từ sự phân công hợp
tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng với nhu cầu hướng tới
đạt hiệu quả tốt hơn. Do vậy xuất hiện người quản lý và sự quản lý.
Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích hợp nhau:
Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”;
quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”.
Vì vậy nếu người chỉ huy chỉ biết lo việc “quản” thì tổ chức sẽ trì trệ, nếu
chỉ quan tâm đến “lý” thì phát triển không bền vững. Do đó trong “quản”
phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản” nhằm làm cho hệ ở thế phát triển
cân bằng, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường
tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài
(ngoại lực).
Hoạt động quản lý không thể nhắc tới tư tưởng sâu sắc của Các Mác
“một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trưởng”. Như vậy quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là
hướng dẫn, là phối hợp quá trình hoạt động của con người trong các tổ
chức xã hội.
Tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau người ta đưa ra các định nghĩa khác
nhau về quản lý

những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được
những mục tiêu đã dự kiến." [ tr.24] 11
Như vậy, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công
tác quản lý. Hiệu quả đó phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể quản lý, khách
thể quản lý và mục đích công tác quản lý nhờ công cụ và phương pháp
quản lý. Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý có thể do chủ
thể quản lý áp đặt, do yêu cầu khách quan của xã hội hay do sự cam kết,
thoả thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan
hệ tác động quản lý tương hỗ với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Từ những khái niệm trên “Quản lý” có thể khái quát như sau:
Quản lý là sự tác động một cách liên tục có tổ chức, có định hướng
của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết
các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều
hoà hoạt động của các khâu, các cấp sao cho phù hợp với quy luật để đạt
đến mục tiêu đã xác định.
Qua khái niệm quản lý ta thấy: quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai
bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục
tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
+ Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu
dẫn dắt, điều khiển các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu định sẵn.
+ Khách thể quản lý (đối tượng quản lý) Con người (được tổ chức
thành một tập thể, một xã hội …) thế giới vô sinh (các trang thiết bị) hữu
sinh (vật nuôi, cây trồng ).
Cơ chế quản lý những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản lý
được thực hiện và quan hệ tương tác qua lại giữa chủ thể quản lý và khách
thể quản lý được vận hành điều chỉnh.
Mục tiêu chung cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý là căn cứ

bao gồm các yếu tố trong sơ đồ sau: 13
Sơ đồ 1. Cấu trúc hệ thống quản lý

Hoạt động quản lý bao gồm 4 chức năng cụ thể:
- Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình xác định mục tiêu, xác định
các bước đi để đạt được mục tiêu. Như vậy thực chất của lập kế hoạch là
đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hóa với mục đích,
biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các điều kiện cung
ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
- Chức năng tổ chức: Là quá trình tổ chức sắp xếp, liên kết giữa các
yếu tố công việc – con người – bộ máy sao cho phù hợp ăn khớp với nhau
cả trong nội bộ từng yếu tố. Yếu tố trung tâm của tổ chức là con người. Bố
trí con người phải phù hợp với công việc. Tổ chức bộ máy phải lệ thuộc
quy mô, tính chất của các mối quan hệ giữa người và việc. Toàn bộ hoạt
động của bộ máy cuối cùng phải đạt hiệu quả cao, vì lợi ích của con người.
- Chức năng điều hành (chỉ huy): Là hoạt động dẫn dắt, điều khiển của
người quản lý đối với các hoạt động của các thành viên của tổ chức để đạt
được mục tiêu quản lý. Điều hành là hoạt động thường xuyên mang tính kế
thừa và phát triển.
- Chức năng kiểm tra: Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là
quản lý. Kiểm tra là chức năng quan trọng của quản lý, Kiểm tra chính là

động quản lý và chính hoạt động quản lý luôn góp phần quyết định vào
việc nâng cao chất lượng hiệu quả của từng tổ chức, của từng con người
trong một hệ thống nhất định.
Với cách hiểu trên dễ dàng nhận thấy quản lý bao gìơ cũng tồn tại với
tư cách là một hệ thống và có liên quan đến nhiều yếu tố. Vì vậy Quản lý
không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật và hoạt động quản lý
Lập kế hoạch
Chỉ đạo
Kiểm tra
Tổ chức 15
vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà
nước, vừa có tính xã hội rộng rãi … chúng là những mặt đối lập trong một
thể thống nhất.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài
người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn
hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng
tiến lên. Hay nói cách khác Giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu
những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, về hoạt động
giáo dục, giáo dục là quá trình tác động của xã hội và của nhà giáo dục đến
đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
Các nhà lý luận đã có nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra những
khái niệm về quản lý giáo dục dưới những góc độ khác nhau:
Trong cuốn: “ Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả
M.I. Kônđacốp định nghĩa: “ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ
chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành

Quản lý giáo dục gồm 3 lĩnh vực:
+ Quản lý chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện
chính sách và phân bổ nguồn lực).
+ Quản lý hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật
chất).
+ Quản lý sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá
trình giáo dục, thành tích và kết quả học tập).
Qua các định nghĩa trên ta có thể khái quát: Quản lý giáo dục là hệ
thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể quản lý thực hiện các
mục tiêu giáo dục đề ra. Quản lý giáo dục từ cấp vĩ mô đến tầm vi mô đều
hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho giáo dục để đạt
được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất.
Quản lý giáo dục có các đặc điểm sau: 17
- Quản lý giáo dục gắn liền với quản lý con người, đặc biệt là lao động
sư phạm của người giáo viên. Đặc thù lao động người giáo viên mà đối
tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm về tâm sinh lý
lứa tuổi hết sức phức tạp. Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo
dục vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không
chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của
người học. Đây chính là điểm khác biệt của lao động sư phạm so với lao
động xã hội nói chung
- Sản phẩm của giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên
quản lý giáo dục phải ngăn ngừa sự rập khuôn, máy móc trong việc tạo ra
sản phẩm cũng như không được phép tạo ra phế phẩm.
- Quản lý giáo dục đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính
thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển…

Chức năng chủ yếu của nhà trường là dạy học và giáo dục, chức năng
đó cần được quy chế hóa một cách chặt chẽ thông qua kế hoạch đào tạo.
Việc xây dựng nền nếp dạy và học nhằm mục đích đảm bảo các kế hoạch,
quy chế đào tạo trên cơ sở các kế hoạch, quy chế đó mà xây dựng môi
trường sư phạm lành mạnh, hấp dẫn với kỷ luật tự giác và tình cảm trách
nhiệm cao, xây dựng mối quan hệ cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau, học hỏi lẫn
nhau của giáo viên và học sinh cũng như khơi dậy và khuyến khích tính tự
giác, tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập của sinh viên. Mục đích
cuối cùng của hoạt động này là nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá
trình giáo dục - đào tạo trong nhà trường.
Theo PGS – Tiến sỹ Đặng Quốc Bảo, để mô hình hoá “nhà trường”
người ta thường quan tâm đến 10 yếu tố hạt nhân hình thành và phát triển
quá trình đào tạo bao gồm:
+ Mục tiêu đào tạo (M).
+ Nội dung đào tạo (tri thức) (N).
+ Phương pháp đào tạo. (P).
+ Lực lượng đào tạo (thầy). (Th)
+ Đối tượng đào tạo (trò). (Tr) 19
+ Hình thức tổ chức đào tạo. (H)
+ Điều kiện đào tạo. (Đ)
+ Môi trường đào tạo. (M
ô
)
+ Quy chế đào tạo. (Q
i
)
+ Bộ máy đào tạo. (B



Tr
Th
Đ
M
Qi
T 20
Như vậy Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là quản lý giáo dục (giáo dục là
quốc sách hàng đầu) thì quản lý giáo dục phải coi nhà trường là nút bấm
(quản lý lấy nhà trường làm nền tảng) và quản lý nhà trường phải lấy quản
lý hoạt động dạy học là khâu cơ bản. Quản lý hoạt động dạy học là tác
động hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học bằng các quy định pháp lý
về giáo dục - đào tạo, bộ máy tổ chức, nhân lực, nguồn lực, tài lực dạy học
và thông tin, môi trường dạy học nhằm đạt được mục tiêu quản lý dạy học.
1.2.4. Khái niệm tổ chức
Tổ chức là một trong bốn chức năng quản lý chủ yếu, cơ bản nhất
bao gồm: Kế hoạch (Planning), tổ chức (Organizing), chỉ đạo – lãnh đạo
(leading) và kiểm tra (Controlling) trong đó:
Kế hoạch hoá : Là chức năng xác định mục tiêu, mục đích đối với
thành tựu tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt
được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế
hoạch hoá: (a) xác định, hình thuành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ
chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về
nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiều này; (c) quyết định xem
những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó.
Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải

+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động.
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả sự thành đạt so với
chuẩn mực đã đặt ra.
+ Người quản lý tiến hành những điều chỉnh, những sai lệch.
+ Người quản lý hiệu chỉnh, sửa chữa lại những chuẩn mực nếu cần.
1.3. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý
1.3.1. Khái niệm công nghệ
Theo quan điểm truyền thống: Công nghệ là tập hợp các phương
pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi
các nguồn lực thành sản phẩm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status