Hoàn thiện quy trình đào tạo cử nhân hệ tại chức ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM PHẠM TRUNG KIÊN
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH
ĐÀO TẠO CỬ NHÂN HỆ TẠI CHỨC
Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05

Giả thiết khoa học
4
6.
Đóng góp mới của đề tài
4
7.
Phương pháp nghiên cứu
4
8.
Phạm vi nghiên cứu
5
9.
Cấu trúc luận văn
5
Chương 1: Quy trình đào tạo - Cơ sở lý luận
6
1.1.
Lịch sử nghiên cứu đề tài
6
1.2.
Các khái niệm cơ bản
7
1.2.1.
Đào tạo
7
1.2.2.
Đào tạo tại chức
9
1.2.3.
Quy trình

30
1.2.7.2.
Quản lý kiểm tra, đánh giá
32
1.2.8.
Đổi mới, cải tiến quy trình đào tạo bậc cử nhân hệ tại chức
33
Chương 2: Quy trình đào tạo cử nhân hệ tại chức ở Học viện
Báo chí và Tuyên truyền - Thực trạng
35
2.1.
Mục tiêu, chương trình đào tạo của Học viện Báo chí và
Tuyên truyền
35
2.1.1.
Khái quát về Học viện Báo chí và Tuyên truyền
35 2.1.2.
Mục tiêu, chương trình đào tạo của Học viện Báo chí và
Tuyên truyền
42
2.2.
Quy trình đào tạo của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
46
2.3.
Quy trình đào tạo tại chức của Học viện Báo chí
và Tuyên truyền
48

2.4.2.2.
Về hình thức tổ chức đào tạo
56
2.4.2.3.
Về hình thức tổ chức dạy- học
59
2.4.2.4.
Về kiểm tra- đánh giá
61
Chương 3: Hoàn thiện quy trình đào tạo cử nhân hệ tại chức
ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền
67
3.1.
Sự tất yếu phải hoàn thiện quy trình đào tạo cử nhân hệ
tại chức - các nguyên tắc
67
3.1.1.
Đảm bảo đạt được mục tiêu
67
3.1.2.
Mềm dẻo, phù hợp với địa phương, người học
68
3.1.3.
Kết hợp đào tạo và tự đào tạo- có hướng dẫn kiểm tra, đánh
giá của giáo viên
69
3.1.4.
Đảm bảo tính quy chuẩn, khách quan, công bằng trong
kiểm tra, đánh giá
70

Lựa chọn hình thức dạy -học
79
3.2.6.
Xây dựng phương pháp dạy, phương pháp học
80
3.2.6.1.
Phương pháp dạy
81
3.2.6.2.
Phương pháp học
83
3.2.7.
Xây dựng phương pháp kiểm tra, đánh giá học viên
85
3.2.7.1.
Kiểm tra, đánh giá thường xuyên theo tiến trình
86
3.2.7.2.
Kiểm tra, đánh giá cuối kỳ
87
3.3.
Các biện pháp quản lý việc thực hiện quy trình đào tạo
cử nhân hệ tại chức
89
3.3.1.
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về đào tạo
89
3.3.2.
Quản lý công tác tuyển sinh
90

1. Lý do chọn đề tài
Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo giai đoạn 2001 – 2010 phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định các mục
tiêu ưu tiên của giáo dục – đào tạo giai đoạn này là “Nâng cao chất lượng
đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong
đó đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học – công nghệ trình độ cao, cán bộ
quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề”. Đây là bước phát triển tiếp
theo của mục tiêu giáo dục - đào tạo nhằm “phát triển nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã được xác định trong Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996).
Tổng kết hai mươi năm đổi mới và năm năm thực hiện " Chiến lược
phát triển giáo dục 2001 - 2010 ", giáo dục đại học nước ta đã phát triển rõ
rệt về quy mô, đa dạng hoá về loại hình và các hình thức đào tạo, bước đầu
điều chỉnh cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình, quy trình đào tạo và huy
động được nhiều nguồn lực xã hội. Chất lượng giáo dục đại học ở một số
ngành, lĩnh vực, cơ sở giáo dục đại học có những chuyển biến tích cực,
từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ có
trình độ đại học và trên đại học mà tuyệt đại đa số được đào tạo tại các cơ
sở giáo dục trong nước đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới và
xây dựng đất nước. Tuy nhiên, những thành tựu nói trên của giáo dục đại
học chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng
được những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn
mới. Những yếu kém bất cập về cơ chế quản lý, cơ cấu hệ thống, cơ cấu
ngành nghề, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, quy trình đào tạo, phương
pháp dạy và học, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, hiệu quả
sử dụng nguồn lực và những tiêu cực trong thi cử, cấp bằng và một số hoạt 2

3
yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.

2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến việc xác định các bước tiến hành trong quy trình
đào tạo cử nhân nói chung, đào tạo tại chức nói riêng ở Học viện Báo chí
và Tuyên truyền, qua đó cung cấp những cơ sở khoa học cho việc đề xuất
hoàn thiện việc xây dựng quy trình đào tạo cử nhân hệ tại chức nhằm đảm
bảo chất lượng đào tạo tại chức tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan về cơ sở lý luận của quy trình đào tạo cử nhân và vận
dụng cơ sở lý luận này vào việc xây dựng quy trình đào tạo cử nhân hệ tại
chức nói riêng, làm rõ các yếu tố của quy trình đào tạo ( Từ mục tiêu đến
nội dung đến hình thức tổ chức dạy học, từ đó xác định phương pháp dạy,
phương pháp học và kiểm tra đánh giá đến xử lý các thông tin phản hồi).
- Chỉ ra những đặc thù của đào tạo tại chức có tác động đến việc xây
dựng một quy trình đào tạo ( đối tượng học, đặc thù công việc, địa bàn mở
lớp )
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quy trình đào tạo tại chức ở Học viện
Báo chí và Tuyên truyền - nguyên nhân của thực trạng.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất hoàn thiện quy trình
đào tạo cử nhân hệ tại chức và nêu nên những triển vọng thực hiện tại Học
viện Báo chí và Tuyên truyền cũng như tại hệ thống các trường Chính trị
tỉnh, thành trên toàn quốc.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài : " Hoàn thiện quy trình đào tạo cử nhân hệ tại chức ở
Học viện Báo chí và Tuyên truyền" thì khách thể nghiên cứu là hoạt động
5
- Phương pháp tổng kết thực tiễn kết hợp phương pháp lịch sử và
phương pháp tổng hợp phân tích.
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phỏng vấn sâu: Cán bộ quản lý đào tạo tại các cơ sở liên kết đào
tạo tại chức. Cán bộ quản lý, giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
sinh viên một số lớp tại chức.
- Phương pháp chuyên gia.
8. Phạm vi nghiên cứu
- Các nghiên cứu, khảo sát được tiến hành ở các tỉnh đại diện 3 miền
Bắc, Trung, Nam có lớp của Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Một vài
nghiên cứu hỗ trợ có thể tiến hành tại cơ sở đào tạo tại chức khác.
- Về phạm vi thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quy trình
đào tạo tại chức bằng thứ nhất của Học viện Báo chí và Tuyên truyền từ
năm 2002 đến nay.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Quy trình đào tạo - Cơ sở lý luận
Chương 2: Quy trình đào tạo cử nhân hệ tại chức ở Học viện Báo chí
và Tuyên truyền - thực trạng
Chương 3: Hoàn thiện quy trình đào tạo cử nhân hệ tại chức ở Học
viện Báo chí và Tuyên truyền



7
- Đề án nâng ngạch giảng viên cao cấp: " Nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền" của TS. Hoàng Đình
Cúc, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền tháng 11 năm 2004.
- Đề tài cấp Bộ : " Đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền " do TS. Đoàn Phúc
Thanh, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm năm 2004.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Đào tạo
Đào tạo là đưa một trình độ hiện có lên một chất lượng mới, cấp bậc
mới theo những tiêu chuẩn nhất định bằng một quá trình giảng dạy, huấn
luyện có hệ thống và được cấp bằng. Đào tạo được coi là quá trình trang bị
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức cho
đối tượng đáp ứng được đòi hỏi, nhiệm vụ giáo dục thông qua chương trình
và nội dung đào tạo. Đào tạo là quá trình biến đổi một con người từ chỗ
chưa có nghề thành một người có trình độ nghề nghiệp ban đầu, làm cơ sở
cho họ phát triển thành người lao động có kỹ thuật.
Nói đến khái niệm đào tạo, không thể không nhắc đến 2 khái niệm
liên quan là ngành và chuyên ngành đào tạo. Theo " Thuật ngữ các trường
đại học các nước xã hội chủ nghĩa". Uỷ ban Quốc gia Liên Xô về giáo dục
quốc dân - Matxcơva, 1988 - thì ngành là một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật
hoặc văn hoá cho phép người học tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng
mang tính hệ thống cần có để thực hiện những chức năng lao động trong
khuôn khổ một nghề cụ thể. Ngành phải được ghi trong văn bằng tốt nghiệp
đại học, còn chuyên ngành là sự đào sâu kiến thức và kỹ năng của người
học trong những phần hẹp hơn của một ngành, hoặc sự thu nhận kiến thức
và kỹ năng trong một ngành mới khác.

9
phương thức: dài hạn, ngắn hạn, tập trung, không tập trung, chính qui,
không chính qui, tự học, từ xa
Theo Thông tư số: 03/TT ngày 20.04.1997 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo hướng dẫn thi hành Nghị định số 90/CP của Chính phủ thì phương
thức đào tạo tập trung là quá trình đào tạo diễn ra liên tục, đòi hỏi người
học phải tập trung thời gian chủ yếu để học, còn phương thức đào tạo
không tập trung là quá trình đào tạo diễn ra không liên tục hoặc kéo dài,
cho phép người học dành một phần thời gian để học, một phần thời gian
khác để sản xuất, kinh doanh hoặc làm việc khác.
Theo điều 3 của Nghị định này thì phương thức đào tạo tập trung,
chính quy được quy định thời gian giáo dục đào tạo, độ tuổi hoặc năm đầu
vào học, điều kiện học tập để được vào học lớp đầu hoặc năm đầu, văn
bằng tốt nghiệp đối với từng bậc học, cấp học. Ví dụ đối với bậc giáo dục
đại học. Quy định về thời gian đào tạo là từ 4 - 6 năm, tuổi đầu đi học là 18
tuổi, điều kiện học tập để được vào học là có bằng tú tài hoặc trung học
chuyên nghiệp hoặc trung học nghề. Văn bằng tốt nghiệp là nếu hoàn thành
giai đoạn 1 cấp chứng chỉ đại học đại cương, hoàn thành giai đoạn 2 hoặc
tốt nghiệp toàn khoá đại học cấp bằng cử nhân (hiện nay theo quy chế mới
đã bỏ phần cấp chứng chỉ đại học đại cương). Đối với những trường hợp
đặc biệt, có thể quy định thích hợp về độ tuổi và thời gian đào tạo, Bộ Giáo
dục và Đào tạo có thể vận dụng để quy định linh hoạt về thời gian đào tạo
trên cơ sở đảm bảo người học phải hoàn thành đầy đủ chương trình tối
thiểu của từng cấp học, bậc học.
Theo điều 4 của Nghị định 90/CP qui định giáo dục thường xuyên
được thực hiện bằng nhiều hình thức ( như không tập trung, không chính
qui, tại chức, bổ túc, tự học, từ xa ) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi
công dân ở mọi trình độ có thể học tập thường xuyên phù hợp với hoàn

11
chủ trương ban hành khung chương trình đào tạo cho các cấp học đại học,
trong đó quy định khối lượng tối thiểu và cơ cấu kiến thức. Căn cứ vào
khung chương trình này, các trường được quyền chủ động xây dựng
chương trình đào tạo cho mình. Tuy nhiên, cách quản lý chương trình như
trên vẫn bị phê phán là quá cứng, hạn chế quyền chủ động của các trường.
Đến cuối năm 1998, với việc Quốc hội thông qua Luật Giáo dục, phương
thức quản lý các chương trình đào tạo đại học phải điều chỉnh theo hướng
tập trung thêm quyền lực vào Nhà nước, tức là Bộ Giáo dục và Đào tạo
không chỉ quy định đến khung chương trình mà phải nắm đến tận khung
chương trình của tất cả các ngành đào tạo, như thể hiện ở Điều 36 của Luật
Giáo dục ( mục 1, điểm c ): " Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương
trình khung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ
phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành; giữa
lý thuyết với thực hành, thực tập. Căn cứ vào chương trình khung, trường
cao đẳng, trường đại học xác định chương trình giáo dục của trường
mình ", Mặt khác, Điều 55 của Luật Giáo dục cũng quy định: " Trường
cao đẳng, trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo
quy định của Pháp luật và theo điều lệ nhà trường trong các công tác: Xây
dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với cách
ngành nghề được phép đào tạo ". Như vậy, để thống nhất những điểm này
chương trình khung mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ban hành sẽ không phải
là một chương trình đào tạo hoàn chỉnh, mà chỉ là phần nội dung cứng cộng
với khung chương trình. Phần nội dung cứng được đề cập ở đây được hiểu
là những nội dung cốt lõi, ít thay đổi theo thời gian và được các trường có
đào tạo cùng thừa nhận là không thể thiếu được. Dựa vào chương trình
khung này, từng trường sẽ bổ sung thêm phần nội dung mềm, cấu trúc, sắp
xếp lại các học phần một cách hợp lý, để thiết kế ra một chương trình đào

xuất kinh doanh hay dịch vụ được tổ chức hết sức chặt chẽ và khoa học 13
nhằm tạo ra sản phẩm đầu ra có chất lượng. Khoa học đã chứng minh và
thực tế đã kiểm nghiệm rằng ngoài việc sàng lọc chuẩn nguyên liệu đầu vào
thì những quy trình nào được tổ chức chặt chẽ và khoa học thì sản phẩm
đầu ra rất có chất lượng. Ngược lại nếu quy trình nào tổ chức lỏng lẻo và
một khâu nào đó có lỗi hoặc với những quy trình tốt mà nguyên liệu đầu
vào không chuẩn thì sản phẩm đầu ra kém chất lượng thậm chí thành phế
phẩm.
Ngày nay người ta hiểu quy trình như là một hệ thống được tổ chức
chặt chẽ gồm các bước liên kết nhau theo trình tự nhất định và cách thức
vận hành hệ thống đó nhằm đạt được mục tiêu của quy trình đã được xác
định trước. Đây cũng là quan niệm về quy trình mà tác giả lấy làm cơ sở để
thực hiện luận văn. 1.2.4. Quy trình đào tạo - các khâu trong quy trình đào tạo
Khác với quá trình sản xuất công nghiệp, quy trình trong các loại
hình dịch vụ hàng hoá, dịch vụ hành chính công, lĩnh vực giáo dục và đào
tạo có những đặc trưng riêng về quá trình đào tạo từ các yếu tố đầu vào như
chương trình, nội dung giảng dạy, cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị
dạy học, đội ngũ giáo viên, học sinh đến các hoạt động dạy- học và giáo
dục đa dạng với nhiều hình thức khác nhau trong quá trình đào tạo và đặc
biệt " sản phẩm đào tạo" là con người với nhiều giai đoạn phát triển theo
lứa tuổi và nghề nghiệp.
Với mong muốn có những sản phẩm đào tạo có chất lượng, các nhà
quản lý giáo dục đã xây dựng khái niệm quy trình đào tạo vào trong nhà
trường nhằm biến đổi " nguyên liệu đầu vào" là những người chưa được Yêu cầu của xã hội
Định hướng

Mục tiêu đào tạo

Chương trình
và nội dung đào tạo Hình thức tổ chức đào tạo 15
Xét trên quan điểm hệ thống, quy trình đào tạo được xem như là một
hệ thống bao gồm các yếu tố: Mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, nội
dung đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo, hình thức tổ chức dạy - học,
phương pháp dạy của thày, phương pháp học của trò và cuối cùng là

ngành học và tương ứng với những mục tiêu đào tạo là các chương trình
đào tạo và các hình thức tổ chức dạy học để thực hiện chương trình đào tạo.
Ví dụ như mục tiêu giáo dục phổ thông, mục tiêu giáo dục đại học, mục
tiêu giáo dục sau đại học, và cuối cùng là mục tiêu của từng môn học ( hệ
mục tiêu) trong chương trình đào tạo tương ứng.
1.2.4.2. Chương trình và nội dung đào tạo
Chương trình đào tạo là tài liệu quan trọng nhất trong mọi quy trình
đào tạo ở mọi cấp học, bậc học. Tuỳ theo cách tiếp cận trong việc thiết kế
chương trình đào tạo, tuỳ theo quan điểm về phương thức tổ chức triển khai
các hoạt động trong một quy trình đào tạo, căn cứ vào nhu cầu thực tế của
sự phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn, các chuyên gia về khoa
học giáo dục có các định nghĩa khác nhau về chương trình đào tạo.
Về khía cạnh kỹ thuật, Smith và cộng sự ( 1957) xem chương trình
đào tạo là " Một trình tự các kinh nghiệm có thể được đặt ra cho nhà trường
nhằm mục tiêu đưa thanh thiếu niên vào khuôn khổ theo cách tư duy và
hành động cụ thể."
Good ( 1959) cho rằng chương trình đào tạo là bản kế hoạch tổng
thể, chung nhất về nội dung trong những nguyên liệu giảng dạy cụ thể mà
nhà trường cần cung cấp cho sinh viên.
Taba( 1962) cho rằng chương trình đào tạo là bản kế hoạch học tập.
Foshay(1969) cho rằng chương trình đào tạo là tất cả những kinh
nghiệm mà người học cần có sự hướng dẫn của nhà trường.
Tanne( 1975) định nghĩa chương trình đào tạo là "các kinh nghiệm
học tập được hướng dẫn và kế hoạch hoá, với kết quả học tập được xác
định trước và hình thành qua việc tích luỹ kiến thức và kinh nghiệm một 17
cách có hệ thống dưới sự hướng dẫn của nhà trường nhằm đào tạo ra ở
người học sự phát triển liên tục về năng lực xã hội và cá nhân."

thiện tuỳ theo sự thay đổi của của trình độ phát triển kinh tế - xã hội, của
thành tựu khoa học- kỹ thuật, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử
dụng lao động. Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạo của nền giáo dục
quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu của xã hội thì chương trình đào tạo
cũng phải thay đổi theo. Đây là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình
đào tạo cũng phải được không ngừng phát triển và hoàn thiện, thể hiện qua
lịch sử phát triển của các cánh tiếp cận khác nhau trong thiết kế chương
trình đào tạo.
Nội dung đào tạo, nếu đánh giá một cách tổng thể thì nội dung
chương trình đào tạo thì có hai loại nội dung:
- Nội dung chương trình đào tạo nhằm đáp ứng một nhu cầu cụ thể
trước mắt theo phương châm: cần gì học nấy, học để làm ngay, chỉ cần học
để biết cách làm, không cần hiểu tại sao phải làm như thế này mà không
làm như thế kia. Nội dung chương trình đào tạo như vậy gọi là đào tạo
không chính quy. Trong thực tế đào tạo không chính quy được dùng bằng
thuật ngữ bồi dưỡng như là hoạt động làm gia tăng thêm những kiến thức
mới. Kết quả của khoá bồi dưỡng là người học được nhận được chứng chỉ
ghi nhận kết quả học tập.
Hiện nay, hình thức bồi dưỡng rất phổ biến trong xã hội. Một phần
nó đáp ứng được yêu cầu nâng cao trình độ của đội ngũ công chức hay yêu
cầu phát triển nguồn nhân lực phục phụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong
thời gian ngắn. Mặt khác nó không cần nhiều thời gian và kinh phí như
hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo. Phạm vi đề tài này không
xét đến nội dung đào tạo không chính quy hay hình thức bồi dưỡng.
- Nội dung đào tạo là chương trình hoàn chỉnh, có đủ kiến thức cơ
bản, kiến thức cơ sở, kiến thức chuyên sâu và được sắp xếp một cách có hệ
thống, nhằm chuẩn bị cho người học không chỉ một năng lực cụ thể trước 19

20
- Khối kiến thức cơ bản ( các môn toán, khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội và nhân văn - cần và đủ cho khối ngành)
- Khối kiến thức cơ sở ( của nhóm ngành)
- Khối kiến thức chuyên ngành
- Khối kiến thức nghiệp vụ.
Căn cứ vào mục đích ( trong Luật Giáo dục gọi là mục tiêu) của giáo
dục bậc đại học (" Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý
thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp
tương xứng với trình độ được đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng được yêu cầu
xây dựng và bảo vệ tổ quốc và " đảm bảo cho sinh viên những kiến thức
khoa học cơ bản và chuyên ngành tương đối hoàn chỉnh, có phương pháp
làm việc khoa học, có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên
môn") cần xây dựng mục tiêu cụ thể cho từng khối ngành kiến thức có
trong chương trình đào tạo. Thí dụ:
+ " Phẩm chất chính trị đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân" được
rèn luyện qua các bộ môn khoa học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
và qua các môn khoa học khác.
+ " Sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc" được rèn
luyện trực tiếp qua các bộ môn giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng.
+ Các phẩm chất nghề nghiệp, được rèn luyện thông qua các môn
học cơ bản, cơ sở của nhóm ngành, của chuyên ngành và các bộ môn
nghiệp vụ.
Hệ mục tiêu của từng khối kiến thức phải được xây dựng cụ thể, đo
lường đánh giá được để làm cơ sở cho việc xây dựng mục tiêu chi tiết về
kiến thức, kỹ năng, thái độ cho từng môn học cụ thể trong từng khối kiến
thức. Mục tiêu từng khối kiến thức sẽ quy định số lượng, tên môn học và
nội dung tương ứng của mỗi môn học trong khối kiến thức đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status