Biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp Y tế Nam Định - Pdf 25



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU…………………
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI……………………………………………………
2. MỤC ĐÍCH LUẬN VĂN…………………………………………………
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU……………………………………………
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU…………………………
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC………………………………………
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………………………
7. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU………………………………………
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN………………………………………………
CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
….
1
1
3
3
3
4
4
5
5
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề……………………………………….
6
1.2. Một số khái niệm cơ bản……………………………………………………
7
1.2.1. Khái niệm quản lý …………………………………………………………
7
1.2.2. Quản lý giáo dục……………………………………………………………

TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ NAM ĐỊNH………………

32
2.1. Đặc điểm kinh tế – xã hội – tự nhiên của tỉnh Nam Định ………………
2.2. Đặc điểm trường Trung cấp y tế Nam Định……………………………….
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học……………………………
32
34
39
2.4. Thực trạng công tác dạy học và quản lý hoạt động dạy học của trường
Trung cấp y tế Nam Định ………………………………………………………
2.4.1. Công tác xây dựng đội ngũ……………………………………
2.4.2. Công tác chỉ đạo hoạt động dạy……………………………………
2.4.3. Công tác chỉ đạo hoạt động học……………………………………
2.5. Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở Trường Trung
cấp Y tế Nam Định……………………………………
2.5.1. Điểm mạnh……………………………………
2.5.2. Điểm yếu……………………………………
2.5.3. Nguyên nhân……………………………………

42
42
45
58

61
61
62
64
Kết luận chương 2 ……………………………………

học, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy
học…………………

67

71
74

82
84 87
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi các biện pháp………
88
89
Kết luận chương 3…………………
91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ…………………
1. KẾT LUẬN …………………
2. KHUYẾN
NGHỊ…………………
92
92
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………
PHỤ LỤC
95


con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững"
Đồng thời Đại hội IX đề ra nhiệm vụ “Tiếp tục nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống
trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa giáo dục”.
Con người muốn phát triển tài năng thì phải có sức khoẻ, việc chăm sóc,
bảo vệ sức khoẻ cho mọi người đó là trách nhiệm của ngành y tế. Phát triển
ngành y tế cũng đồng nghĩa với chăm sóc sức khoẻ cho từng người, luôn là 2
mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước
Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VII nêu rõ: "Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của
cộng đồng và của người dân, là trách nhiệm của cấc cấp uỷ Đảng và chính
quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong đó ngành y tế giữ
vai trò nòng cốt”.
Vì vậy, đầu tư cho sức khoẻ chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế – xã
hội của đất nước bởi sức khoẻ là cơ sở để đảm bảo cho sự phát triển trí tuệ và
sức lao động đồng thời năng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân và gia
đình. Với mục tiêu phát triển của ngành y tế, y học Việt Nam phấn đấu đến
năm 2020 là đảm bảo công bằng, nâng cao chất lượng hiệu quả chăm sóc sức
khoẻ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân đưa sức
khoẻ nhân dân đạt mức trung bình của các nước trong khu vực.
Để đạt được những mục tiêu trên cần phải có đội ngũ nhân viên y tế đủ
về số lượng, giỏi về chuyên môn, có đạo đức trong sáng “Lương y như từ
mẫu“. Từ khi đất nước được thống nhất, công tác chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân được chú trọng đáng kể, công tác này đã được ghi trong Hiến
pháp của Việt Nam, trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, mạng lưới y tế đã

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hoá được một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như: Quản
lý, quản lý giáo dục, quản lý trường trung học chuyên nghiệp và trung học y
tế, hoạt động dạy học, các biện pháp quản lý hoạt động dạy học.
3.2. Tìm hiểu và phân tích thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy
học ở các bộ môn: Y học lâm sàng; Y học sơ sở và Y tế cộng đồng; Điều
dưỡng, Dược lý; Khoa học cơ bản để tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó.
3.3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng
dạy học tại Trường Trung cấp Y tế Nam Định.
3.4. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý dạy học của Trường Trung cấp Y tế .
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học Trường Trung cấp Y tế Nam Định.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động dạy học tại Trường Trung cấp Y tế Nam Định đã đạt được
những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động
dạy học một cách hợp lý, khả thi, phù hợp với đặc điểm của nhà trường, nhu
cầu thực tế tại địa phương cũng như đảm bảo mục tiêu, nội dung, chương
trình môn học sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo nguồn cán bộ y tế cơ sở đáp ứng yêu cầu xã hội đòi hỏi trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và khái quát các tài liệu lý luận phục vụ cho nghiên cứu đề tài.

tại Trường Trung cấp y tế Nam Định.
6.2.6. Phương pháp toán thống kê
Nhằm xử lý, phân tích các số liệu thu thập.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm của đề tài là đi sâu nghiên cứu vấn đề lý luận và biện pháp
quản lý hoạt động dạy học tại Trường Trung cấp Y tế Nam Định, từ đó đề
xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề .
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn sẽ trình
bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học 6
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học của Trường
Trung cấp Y tế Nam Định.
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp Y tế Nam Định.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động quản lý đã mang lại những lợi ích to lớn trong mọi lĩnh vực
của cuộc sống làm cho xã hội ngày càng phát triển. Từ xa xưa đã có nhiều nhà
khoa học nghiên cứu về quản lý. Ở phương Đông cổ đại, đặc biệt là Trung
Hoa và Ấn Độ cổ đại đã xuất hiện những nhà tư tưởng về quản lý lỗi lạc như
Khổng Tử (551-479Tr CN), Mạnh Tử (372-289 Tr CN), Hàn Phi Tử (280-233
Tr CN), Thương Ưởng (390-338 Tr CN), tuy tư tưởng quản lý của họ có khác

Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Văn Lê đã nêu lên một số vấn đề lý luận về
quản lý giáo dục, kinh nghiệm quản lý giáo dục từ thực tiễn của giáo dục Việt
Nam.
Trong khi đó , hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm của quá trình
giáo dục, nó quyết định sự thành công của hoạt động giáo dục. Trong nhà
trường, việc quản lý giảng dạy của giáo viên và quản lý học tập của học sinh
luôn được ưu tiên hàng đầu. Mỗi môn học có những nét đặc thù riêng của
môn học đó, người quản lý cần có những hiểu biết rõ về môn học đó mới có
các biện pháp quản lý dạy học môn đó tốt được. Việc quản lý hoạt động giảng
dạy và học tập ở một số trường chuyên nghiệp ở địa phương như Thành phố
Nam Định còn một số hạn chế, chưa theo kịp các trường chuyên nghiệp ở
thành phố lớn do vậy kết quả học tập của học sinh chưa cao. Để nâng cao kết
quả học tập cần nghiên cứu tìm kiếm những biện pháp tăng cường quản lý tốt
hoạt động giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo nghề các trường chuyên 8
nghiệp ở địa phương để theo kịp các trường chuyên nghiệp các thành phố lớn
đáp ứng nhu cầu hội trong giai đoạn hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước
hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm ngay khi loài người
hình thành hoạt động nhóm. Con người trong quá trình hoạt động của mình,
để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến
hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình.
Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân
công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động Nếu không có quản
lý thì năng xuất lao động sẽ rất thấp. Như vậy quản lý tất yếu nảy sinh và trở
thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống, có liên

qua cỏc hot ng chuyờn bit, vỡ th qun lý va l mt khoa hc va l mt
ngh thut. Nú mang tớnh khoa hc vỡ cỏc hot ng qun lý cú t chc, cú
nh hng, da trờn nhng quy lut, nhng nguyờn tc v phng phỏp hot
ng c th, ng thi nú mang tớnh ngh thut vỡ nú cn c vn dng mt
cỏch sỏng to vo nhng iu kin c th, i tng c th, trong s kt hp
v tỏc ng nhiu mt ca cỏc yu t khỏc nhau trong i sng xó hi. Trong
qun lý thỡ qun lý con ngi l qun lý bc cao, l c s ca qun lý xó hi.
Hỡnh 1.1 S hot ng qun lý: Quản

Công
việc
Con
ng-ời
Môi
tr-ờng
Bản
thân
Năng
suất
Chất
l-ợng

Theo quan điểm của l‎ý thuyết hệ thống, quản lý là “Phương thức tác
động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ thống các quy
tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống
nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu.‎”
Theo quan điểm của điều khiển học, quản lý là "Chức năng của những
hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật ) nó bảo
toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp
quy luật khách quan, làm cho hệ vận hành và phát triển”.
Người đặt nền móng cho quản lý một cách khoa học là Frederik
Winslon Taylor (1856-1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ của thuyết quản
l‎ý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng" trong quản
lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình. Ông cho rằng quản lý là khoa học và
đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển của xã hội "Mỗi loại công việc
dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ" và nhận
định: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất."
Ở Việt Nam, theo Học viện Chính trị Quốc gia, tác giả Nguyễn Văn Lê
quan niệm: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác
động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp,
nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ”[21, tr.6].
Trong cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” tác giả Nguyễn Minh Đạo viết:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người
quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng) về mặt chính
trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách,
các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi
trường và điều kiện cho sự phát triển của môi trường quản lý " [16, tr.17]
Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau 11

12
Quản lý có vai trò tập hợp có tổ chức các hành vi của người cán bộ
quản lý. Vai trò này phân làm ba nhóm, bao gồm:
- Vai trò liên nhân cách: Gồm vai trò đại diện, vai trò thủ lĩnh, vai trò
liên hệ.
- Vai trò thông tin: Người cán bộ quản lý vừa là người giữ vai trò của
người hiệu thính viên, vừa là phát thanh viên, đồng thời là phát ngôn viên.
- Vai trò quyết định: Gồm vai trò người sáng nghiệp, vai trò người dàn
xếp, phân phối nguồn lực, vai trò thương thuyết.
 Chức năng và nhiệm vụ của quản lý:
Nghiên cứu về bản chất của hoạt động quản lý người ta nhận thấy quản
lý có tính tất yếu khách quan đồng thời có tính tất yếu chủ quan vì được thực
hiện bởi người quản lý. Mặt khác quản lý vừa có tính giai cấp lại vừa có tính
kỹ thuật, vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp
luật lại vừa có tính xã hội rộng rãi chúng là những mặt đối lập trong một thể
thống nhất, đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý.
Chức năng quản lý là một công cụ của quản lý, thông qua đó chủ thể
quản lý tác động vào khách thể quản lý, nhằm thực hiện một mục tiêu nhất
định. Xã hội luôn phát triển và nền sản xuất xã hội luôn vận động và phát
triển nên chức năng quản lý cũng không ngừng biển đổi, cải tiến và hợp lý
hoá theo quá trình phát triển của xã hội.
Vậy chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có mục đích
của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Tổ hợp các chức năng tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Tất cả
các chức năng quản lý gắn bó và quy định lẫn nhau, phân loại các chức năng
quản lý là liên kết chúng lại với nhau thành một hệ thống trọn vẹn, đồng thời
phân chia chúng thành những phân hệ dựa trên những dấu hiệu chung, theo
một quy tắc nhất định. Những chức năng quản lý chung là những chức năng
mà bất cứ một chủ thể quản lý ở bất cứ lĩnh vực nào, cấp quản lý nào đều phải

14
quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại, làm tiền đề cho nhau, khi thực
hiện hoạt động quản lý trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có
mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện
để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa
ra được các quyết định quản lý. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và
hệ thống thông tin được biểu diễn bằng sơ đồ như sau:
Hình 1.2 Chu trình quản lý

Thông tin

Thông tin Thông tin
Nhiệm vụ của quản lý bao gồm: Quản lý tổ chức, quản lý kỹ thuật,
quản lý kinh tế và quản lý xã hội, các yếu tố này liên hệ chặt chẽ với nhau
trong một hệ thống. Cụ thể:
- Nhiệm vụ quản lý kỹ thuật nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
của các thành viên trong hệ thống là một nhiệm vụ thường xuyên và liên tục.
Một hệ thống luôn có nhu cầu ổn định và phát triển. Muốn phát triển thì
không thể thiếu việc nâng cao tay nghề, trình độ của mọi phần tử thuộc hệ
thống đang quản lý. Các nhà quản lý cần có kế hoạch nhân sự và kinh phí
dành cho việc đào tạo và đào tạo lại các nhân viên của mình sao cho công
việc không ngừng trệ. Mỗi một công việc đều cần sự phát triển chuyên môn
nên không thể bỏ qua bất cứ khâu nào. Bên cạch việc bồi dưỡng chuyên môn
cho mọi người, các nhà quản lý cũng cần có kế hoạch cải tiến kỹ thuật và đổi
mới công nghệ làm cho năng xuất lao động ngày càng cao, hiệu xuất lao động

cấp trên và một cấp dưới. Toàn bộ vấn đề được giải quyết bằng một kênh liên
hệ với nhau theo đường thẳng. Cấp lãnh đạo trực tiếp điều hành và chịu trách
nhiệm về sự tồn tại của hệ thống. Người thừa hành mệnh lệnh chỉ nhận mệnh
lệnh qua một cấp trên trực tiếp và chỉ thi hành mệnh lệnh của người đó mà
thôi. Thông qua những đặc điểm đó, cơ cấu trực tuyến tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện chế độ một thủ trưởng, người quản lý phải chịu trách 16
nhiệm hoàn toàn về kết quả hoạt động của thành viên cấp dưới. Kiểu cơ cấu
trực tuyến có một số nhược điểm. Đó là đòi hỏi người lãnh đạo cần phải có
kiến thức toàn diện và tổng hợp nhưng hạn chế việc sử dụng các chuyên gia
có trình độ cao về từng mặt quản lý. Khi cần phối hợp, hợp tác công việc giữa
hai đơn vị hoặc cá nhân ngang quyền thuộc các tuyến khác nhau thì việc báo
cáo, thông tin phải đi đường vòng theo kênh liên hệ đã quy định.
- Cơ cấu chức năng: Là cơ cấu mà những nhiệm vụ quản lý được phân
chia cho các đơn vị riêng biệt theo các chức năng quản lý và hình thành nên
những người đứng đầu các phân hệ. Mỗi phân hệ được chuyên môn hoá chỉ
đảm nhận thực hiện một chức năng nhất định. Mối liên hệ giữa các nhân viên
trong hệ thống rất phức tạp. Những người thừa hành nhiệm vụ ở cấp dưới
nhận mệnh lệnh từ người quản lý cao nhất của hệ thống và từ những người
lãnh đạo các chức năng khác nhau. Điểm mạnh của cơ cấu này là thu hút được
các chuyên gia vào công tác lãnh đạo, giải quyết các vấn đề chuyên môn một
cách thành thạo hơn, đồng thời giảm bớt được gánh nặng về quản trị cho
người lãnh đạo cao nhất của hệ thống. Cơ cấu chức năng có nhược điểm là:
Người quản lý hệ thống (người lãnh đạo cao nhất) phải điều phối, kết hợp các
hoạt động của những người lãnh đạo chức năng. Vì khối lượng công tác quản
lý lớn cho nên người lãnh đạo hệ thống khó có thể phối hợp được tất cả các
mệnh lệnh của họ, dẫn đến tình trạng người thừa hành trong một lúc có thể
phải nhận nhiều mệnh lệnh, thậm chí các mệnh lệnh mâu thuẫn nhau, trái

thức xã hội đều có một cách quản lý‎ khác nhau, cho nên khái niệm quản lý
giáo dục đã ra đời và hình thành từ nhiều quan niệm khác nhau.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, do vận dụng lý‎ luận quản lý xí nghiệp
vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) nên quản lý giáo dục được coi như
một loại “Xí nghiệp đặc biệt". Ở các nước xã hội chủ nghĩa, do vận dụng
quản lý xã hội vào quản lý giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp
trong lĩnh vực quản l‎ý văn hoá tư tưởng như A.G. Afanaxep đã phân chia
trong cuốn sách kinh điển nổi tiếng của mình: "Con người trong quản l‎ý xã 18
hội”.
Như vậy, quản l‎ý giáo dục được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực
quản l‎ý văn hoá tinh thần. Quan hệ cơ bản của quản lý giáo dục là quan hệ
giữa người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục. Các
mối quan hệ khác là quan hệ giữa các cấp bậc quản lý giữa người với người
(giữa giáo viên và học sinh), giữa người với công việc (hoạt động giảng dạy
và học tập), giữa giáo viên học sinh và cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục.
Theo PGS.TS.Phạm Viết Vượng “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo
dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh,
sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản
thân và của xã hội. [24, tr.206]. Quản lý giáo dục góp phần phát triển và hoàn
thiện hệ thống giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phát huy vai
trò chủ đạo của giáo viên, tính tích cực chủ động của học sinh đem lại kết quả
cao trong quá trình giáo dục, quản lý giáo dục nhằm động viên và sử dụng
mọi nguồn lực trong ngành và ngoài xã hội một cách có hiệu quả cho sự
nghiệp giáo dục, đảm bảo sự cân đối thống nhất giữa hoạt động giáo dục và
dạy học, giữa lý luận và thực hành, giữa nội dung và phương pháp, giữa cơ sở
vật chất, trang thiết bị với hoạt động dạy và học nhằm thực hiện tốt mục tiêu
đào tạo thể hệ trẻ phát triển toàn diện. Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là

tạo đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường, song không chỉ đơn thuần chỉ
quản lý việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh, mà còn bao gồm
quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ cho việc dạy
và học. Có nhiều tác giả quan niệm về quản lý nhà trường khác nhau.
Theo PGS.TS.Phạm Viết Vượng: "Quản lý nhà trường là hoạt động
của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo
viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn
giáo dục để nâng cấp giáo dục và đào tạo trong nhà trường" [24,Tr.205].
Quản lý nhà trường gồm 2 loại tác động: Tác động quản lý của các cơ
quan quản lý cấp trên và bên ngoài nhà trường, đó chính là những tác động 20
quản lý của các cơ quan giáo dục cấp trên, hướng dẫn và tạo điều kiện cho
hoạt động giảng dạy học tập giáo dục của nhà trường hoặc những chỉ dẫn,
những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường có liên quan trực tiếp
đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng giáo
dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện
cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó. Tác động của chủ thể bên
trong nhà trường là những hoạt động quản lý giáo viên, quản lý học sinh,
quản lý quá trình dạy học, quản lý cơ sở trang thiết bị trường học, quản lý tài
chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng. Là một
thiết chế đặc biệt của xã hội nên nhà trường cùng với công tác quản lý‎ là vô
cùng quan trọng, bao gồm sự quản l‎ý các tác động qua lại giữa trường học và
xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường. Người ta có thể phân tích quá trình
giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm các thành tố và được biểu
diễn bằng sơ đồ như: Hình 1.3 Hệ thống giáo dục nhà trường
M M: Mục tiêu dạy học
N: Nội dung dạy học
N P P: Phương pháp dạy học

cho người học và không nhất thiết giáo viên phải giảng. Học viên làm việc
theo nhóm một cách linh hoạt. Công việc dạy của người thầy phải chủ yếu là
hướng dẫn chỉ đạo người học tìm kiếm và sáng tạo tri thức, bồi dưỡng người
học năng lực tìm kiếm và sáng tạo đó.
Vai trò chủ đạo của giáo viên được thể hiện qua việc định hướng, tổ
chức, điều khiển các hoạt động dạy và học có ý nghĩa đặc biệt đảm bảo chất
lượng học tập của học sinh. Điều cốt yếu là giáo viên dạy học sinh cách học,
cách tư duy. Tác động của thầy là tác động bên ngoài, hướng dẫn, thúc đảy,
tạo điệu kiện cho học sinh tự học.
Năng lực tự học của học sinh chính là nội lực, quyết định sự phát triển
bản thân người học, học sinh vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình
dạy học, tự biến những tri thức bên ngoài thành tri thức của chính mình bằng 22
cách học, cách tư duy của mình.
Vì vậy, giảng dạy và học tập là hai mặt của một quá trình thống nhất bổ
xung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Chất lượng dạy học đạt đỉnh cao
khi tác động của thầy kết hợp chặt chẽ với sự tự học của trò.
1.2.4.2. Hoạt động dạy học
Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, con đường
quan trọng nhất là tổ chức dạy học. Theo Babusky: “Chỉ có tác động qua lại
giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học-nếu không có
sự tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó”.
Vậy ta có thể hiểu, dạy học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo
dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học
sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo,
hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan,
phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất, nhân cách người học.
* Hoạt động dạy của thầy:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status