1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
HOÀNG VĂN THÁI
Trang
M U
1
1. Lý do chn ti
1
2. Mc ớch nghiờn cu
4
3. Nhim v nghiờn cu
4
4. Khỏch th v i tng nghiờn cu
5
5. Gi thuyt khoa hc
5
6. Phm vi nghiờn cu
5
7. Phng phỏp nghiờn cu
5
8. Cu trỳc ca lun vn
5
Chng 1: Cơ sở lý luận về tự học và quản lý tự học
ngoại ngữ
7
1.1. Lch s nghiờn cu vn
7
1.1.1. Quan im v t tng v t hc trờn th gii
7
1.1.2. Quan im v t tng v t hc Vit Nam
9
1.1.3. Nghiờn cu t hc ngoi ng Vit Nam v trng Cao ng Du lch
H Ni
34
6
2.1.3. Mc tiờu o to ca trng Cao ng Du lch H Ni
37
2.1.4. T chc b mỏy qun lý trng Cao ng Du lch H Ni
38
2.2. Thc trng qun lý t hc ngoi ng ca sinh viờn trng Cao ng Du lch
H Ni
40
2.2.1.Tỡnh hỡnh dy v hc ngoi ng - ting Anh trng Cao ng Du lch
H Ni
40
2.2.2.Thc trng t hc ngoi ng ca sinh viờn trng Cao ng Du lch H Ni
45
2.2.3.Thc trng qun lý t hc ngoi ng ca sinh viờn trng Cao ng Du lch
H Ni
46
2.3. Nhn xột, ỏnh giỏ chung v thc trng qun lý t hc ngoi ng ca sinh viờn
trng Cao ng Du lch H Ni
62
2.3.1. Nhng im mnh trong cụng tỏc qun lý t hc ngoi ng ca sinh viờn
trng Cao ng Du lch H Ni
62
2.3.2. Nhng hn ch trong cụng tỏc qun lý t hc ngoi ng ca sinh viờn
trng Cao ng Du lch H Ni
63
2.3.3. Nhng nguyờn nhõn ca thc trng cụng tỏc qun lý t hc ngoi ng ca
sinh viờn trng Cao ng Du lch H Ni
64
2.3.4. Nhng vn t ra cho cụng tỏc qun lý t hc ngoi ng ca sinh viờn
7
của sinh viên
3.2.5. Nhóm biện pháp đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên
78
3.2.6. Nhóm biện pháp tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học ngoại ngữ
của sinh viên
81
3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp
83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
92
1. KÕt luËn
92
2. Khuyến Nghị
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
PHỤ LỤC
Giảng viên
HĐH
Hiện đại hoá
HĐTH
Hoạt động tự học
HSSV
Học sinh, sinh viên
KS
Khác sạn
PTTH
Phổ thông trung học
QL
Quản lý
QLGD
Quản lý Giáo dục
QLNT
Quản lý Nhà trường
QTCBMA
Quản trị Chế biến món ăn
QTKDKS
Quản trị kinh doanh Khách sạn
SV
Sinh viên
VTCB
Chứng chỉ nghiệp vụ Du lịch của Tổng cục Du lịch
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
8
MỞ ĐẦU
cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý
chí vươn lên”.
Chúng ta có thể nói rằng Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề tự
học và tự học đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với Giáo dục và Đào tạo nước ta.
Tự học có ý nghĩa quyết định biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
Đất nước chúng ta đang mở cửa và hội nhập, chúng ta cần ngoại ngữ để
tự chủ trong giao tiếp, kinh doanh, sản xuất. Ngoại ngữ chính là một công cụ tạo
điều kiện cho nước ta hoà nhập, hội nhập với khu vực và cộng đồng quốc tế;
tiếp cận những thông tin khoa học của thế giới và các nền văn hoá khác, cũng
như giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Thấy rõ tầm quan
trọng của ngoại ngữ (tiếng Anh nói riêng) với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội
và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước và hội nhập quốc tế hiện nay, ngay từ những năm 60, Nhà nước chúng ta
đã có nhiều chỉ thị, thông tư về dạy – học ngoại ngữ trong nhà trường, theo đó
môn ngoại ngữ được coi là bộ môn “văn hoá giáo dục phổ thông”. Cố thủ tướng
Phạm Văn Đồng khi đánh giá việc dạy – học ngoại ngữ của những năm 60 đã
chỉ rõ: “ Các cơ quan giáo dục chưa làm cho mọi người thấy rõ ngoại ngữ là một
phần không thể thiếu được trong giáo dục phổ thông” (chỉ thị 43 – TTg/VG
ngày 11/4/1968). Ngày 7/9/1972, trong quyết định số 251/TTg về cải tiến và
tăng cường công tác dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông, Thủ
tướng chính phủ nhấn mạnh: “Môn ngoại ngữ phải được coi là môn học phổ
thông cơ bản trong hệ thống chương trình học của các trường phổ thông từ cấp 3
trở lên”. Sau đó Bộ trưởng Bộ Giáo dục có thông tư chỉ đạo thi hành quyết định
trên của Chính phủ nêu rõ: “ Ngoại ngữ là môn cần được coi trọng cũng như
Toán học và Văn học…” ( Thông tư số 30/TT ngày 28/10/1972 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục). Ngày 15/8/1994, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 422/TTg nêu
rõ: “ … triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh)
cho đội ngũ cán bộ quản lý và công chức… ”; “Bộ Giáo dục và Đào
tạo ……xây dựng đề án đưa việc giảng dạy ngoại ngữ vào chương trình bắt
buộc ….”. Liên quan đến công tác đào tạo ngoại ngữ còn có quyết định số
11
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, với trách nhiệm đào tạo nghiệp vụ Du
lịch – Khách sạn và các lĩnh vực liên quan ở trình độ Cao đẳng và các trình độ
thấp hơn cho ngành Du lịch, luôn luôn quan tâm đến chất lượng đào tạo và đảm
bảo phương châm đào tạo của Nhà trường là đào tạo ra đội ngũ nhân viên
Khách sạn - Du lịch “thành thạo nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ”. Ngoại ngữ, nhất
là tiếng Anh, là ngôn ngữ của người làm Du lịch. Học tốt ngoại ngữ không
những sẽ giúp học sinh, sinh viên tự học, tự nghiên cứu chuyên môn nghiệp vụ
trong lĩnh vực Du lịch – Khách sạn mà còn giúp họ công tác tốt sau khi ra
trường.
Tuy nhiên, với thời gian học ngoại ngữ trên lớp có hạn theo chương trình
quy định đang áp dụng tại nhà trường, thì chỉ bằng cách tự học ngoại ngữ mới
giúp học sinh, sinh viên có đủ trình độ để học tập tốt các môn chuyên ngành
khác, nhất là khi Nhà trường đang thực hiện chủ trương đào tạo nghiệp vụ bằng
ngoại ngữ. Do đó, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội rất quan tâm đến việc học
ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh) của học sinh, sinh viên. Việc phát triển năng lực
tự học ngoại ngữ, quản lý tự học ngoại ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ nói riêng, chất lượng đào tạo của Nhà
trường nói chung.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Những biện pháp quản lý
nhằm nâng cao hiệu quả tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Du
lịch Hà Nội” với mong muốn xây dựng được những biện pháp khả thi trên cơ sở
lý luận khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động tự học ngoại
ngữ của sinh viên; hoạt động giảng dạy của giáo viên ngoại ngữ ; hoạt động
quản lý, chỉ đạo của các nhà quản lý về việc nâng cao kết quả tự học ngoại ngữ
cho sinh viên; góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực cho ngành Du lịch của nhà trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý tự học và đề xuất những biện
pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tự học ngoại ngữ của sinh viên trường
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, thông qua trò chuyện, trao đổi,
phỏng vấn với sinh viên, giáo viên, cán bộ quản lý để tìm hiểu về nhận thức, thái
13
độ của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên đối với các vấn đề có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Phương pháp thống kê và phân tích số liệu: Để xử lý những số liệu thu
được từ khảo sát thực trạng hoạt động tự học ngoại ngữ của học sinh, sinh viên
và thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được chia làm 3 chương:
+ Chương 1. Cơ sở lý luận về tự học và quản lý tự học ngoại ngữ
+ Chương 2. Thực trạng quản lý tự học ngoại ngữ của sinh viên
trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội .
+ Chương 3. Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tự học
ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội .
hỏi để dần dần tìm ra kết luận. [13, tr.55]
15
J.A.Comenxki (1592 – 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, người đặt
nền móng cho sự ra đời của Nhà trường hiện nay, nhà giáo dục lỗi lạc của
Slovakia và nhân loại cũng đã nêu ra các nguyên tắc, phương pháp giảng dạy
trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” nhằm phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh và ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt làm cho học sinh
có thói quen không tự giác trong học tập. Comenxki nói: “Tôi thường bồi dưỡng
cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong
việc ứng dụng các tri thức vào thực tiễn”. [13, tr.56]
Thế kỷ XVIII – XIX, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như J.J. Rousseau
(1712 – 1778); Pestalogie (1746 – 1827); Distecvec (1790 -1866); Usinxki
(1824 -1873) đều có chung quan điểm cần hướng cho học sinh tự nắm bắt
kiến thức bằng cách tự tìm tòi và sáng tạo.
Những năm gần đây, trên cơ sở kế thừa có phê phán các tư tưởng của các
tác giả đi trước, các nước phương tây nổi nên cuộc cách mạng để tìm phương
pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “ lấy người học làm trung tâm” để phát huy
năng lực nội sinh của con người. Đại diện cho tư tưởng này là John Dewey
(1859 – 1952), ông phát biểu “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi
phương tiện giáo dục”. Một loạt các phương pháp dạy học theo quan điểm tư
tưởng này đã được đưa vào thực nghiệm: “Phương pháp tích cực”, “Phương
pháp hợp tác”, “Phương pháp cá thể hoá”. Nói chung đây là các phương pháp
mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà
còn từ HĐTH, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức. Giáo viên là người trọng tài, đạo diễn
thiết kế tổ chức giúp học sinh biết cách làm, cách học. [13, tr.59]
T.Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm
30 của thế kỷ XX đã cho rằng “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình
học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi học sinh. Giáo dục xét như là
một quá trình hướng dẫn học sinh tự học”. [19, tr.7]
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ
“Tự học – chìa khoá vàng của giáo dục” của GS. Phan Trọng Luận, và nhiều
công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu giáo
dục như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Thái
17
Duy Tuyên và rất nhiều luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục trong những năm gần
đây đề cập đến nhiều khía cạnh về hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổ
chức hoạt động tự học với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
1.1.3. Nghiên cứu tự học ngoại ngữ ở Việt Nam và trường Cao đẳng Du lịch
Hà Nội
Môn ngoại ngữ đã được coi là một môn văn hoá cơ bản trong các trường
phổ thông và là môn học bắt buộc trong các trường Cao đẳng, Đại học, Trung
học chuyên nghiệp và các trường đào tạo nghề. Do đó, việc nghiên cứu ứng
dụng phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập ngoại ngữ luôn nhận dược sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ trong và
ngoài nước.
Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục đào tạo đã phối hợp với các trung tâm ngoại
ngữ có uy tín như Hội đồng Anh, Trung tâm giáo dục Appollo tổ chức các
cuộc hội thảo về dạy và học ngoại ngữ. Đã có nhiều bài viết được đăng trên các
tờ báo, tạp chí, Website chính thức nhằm chia sẻ kinh nghiệm tự học ngoại ngữ
và cách học hoại ngữ thành công. Trong đó có tác giả Nguyễn Huy Côn với
cuấn sách “Tự học và sử dụng ngoại ngữ”, nhóm tác giả gồm Giáo sư nhà giáo
nhân dân Vũ Văn Chuyên, Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Quang và Thach sĩ Nguyễn
Hải Nam với cuấn sách “Phương pháp tự học ngoại ngữ nhanh – hiệu quả” và
nhiều tác giả khác.
Những năm qua, tuy đã có nhiều luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nghiên
cứu về vấn đề tự học và quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ, song hoạt động tự
học, đặc biệt hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Du lịch
Hà Nội vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, chưa có một công trình nào nghiên cứu.
Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào việc xây dựng các biện pháp
PGS.TS Đặng Quốc Bảo]
Thuật ngữ quản lý trong tiếng Anh gọi là “management”. Nhưng khi được
dịch sang tiếng Việt có nhiều người hiểu và sử dụng với nghĩa là quản trị. Tuy
19
nhiên, người ta hay sử dụng “management” với ý nghĩa là quản lý hơn cả vì
quản lý là thuật ngữ được dùng chỉ việc điều khiển nói chung.
Khi xem xét thuật ngữ quản lý, chúng ta cần phải xem xét nó trên cả hai
phương diện: chính trị – xã hội và hành động.
Trên phương diện chính trị – xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa
tri thức với lao động. Để vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù
hợp. Cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển. Ngược lại, thì xã hội phát triển
chậm hoặc không ổn định.
Trên phương diện hành động, quản lý được hiểu là sự chỉ huy, điều khiển,
điều hành.
Vậy quản lý là gì? Từ trước tới nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về
quản lý:
- Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó
hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. – Taylor đã
đưa ra định nghĩa này về quản lý trong thuyết quản lý khoa học. [28, tr.49]
- Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra. –
Henry Fayol. [4, tr.59]
- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.[5, tr.1]
- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân
làm nhiệm vụ và các mục tiêu đã định[19, tr.11]
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị
quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các
luật lệ , các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn
lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này.
21
- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục
tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên.
*Tổ chức
Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công
kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Chính nhờ sự tổ chức có
hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và
nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào người quản lý sử
dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.
Theo Ernest Dale, chức năng tổ chức gồm năm bước:
Bước một: Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được
mục tiêu của tổ chức.
Bước hai: Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các
thành viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi
và hợp lôgích. Đây gọi là bước phân công lao động.
Bước ba: Kết hợp các nhiệm vụ một cách lôgích và hiệu quả. Đây là bước
phân chia bộ phận.
Bước bốn: Thiết lập một cơ chế điều phối. Sự liên kết hoạt động của các
cá nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt được
các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.
Bước năm: Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và
tiến hành những điều chỉnh cần thiết.
* Chỉ đạo
Chỉ đạo hay lãnh đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác và
động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ
chức. Hiển nhiên, việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và
liên quan lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất. Phương pháp đo lường
chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa các thành tựu với
chuẩn mực đặt ra.
23
Bước hai: Đo lường thành tựu, là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn biến
liên tục, với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động và các cấp độ
quản lý khác nhau.
Bước ba: Xác định mức độ đáp ứng phù hợp của thành tựu so với tiêu
chuẩn (chuẩn mực).
Bước bốn: Tiến hành những hoạt động uấn nắn, sửa chữa khi phát hiện
thấy những sai lệch thành tựu so với chuẩn mực (tiêu chuẩn) đề ra. Các nhà quản
lý có thể điều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt động của các cá
nhân thành viên hay các nhiệm vụ hoạt động của một bộ phận trong tổ chức,
hoặc là sửa đổi lại các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng không thể thực hiện
được.
Tóm lại, bốn chức năng của quản lý trong định nghĩa về quản lý theo quan
điểm hiện nay được phân tích trên đây có quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau.
Cả bốn chức năng trên đều được triển khai đồng khi tiến hành hoạt động quản
lý. Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo và kiểm tra.
1.2.1.3. Biện pháp quản lý
* Biện pháp
Theo từ điển tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, giải quyết một vấn đề cụ
thể”. Tiếng Anh gọi là “Measure” : hành động để thực hiện một mục đích.
Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử
dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Cùng
một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ: Biện
pháp so sánh có thể dùng trong phương pháp thuyết trình và phương pháp vấn
đáp.
* Biện pháp quản lý
của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục
quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo
25
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực
lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.
Hệ thống giáo dục là một hệ thống xã hội. QLGD cũng chịu sự chi phối
của các quy luật xã hội và tác động của QL xã hội. QLGD có những đặc trưng
chủ yếu sau:
+ Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên
QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng
như không được phép tạo ra phế phẩm.
+ QLGD nói chung, quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến sự khác
biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung.
+ Trong QLGD, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý sự
nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời,
tạo thành hoạt động QLGD thống nhất.
+ QLGD đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất,
tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển
+ QLGD phải thấm nhuần quan điểm quần chúng vì giáo dục là sự nghiệp
của quần chúng.
Dựa trên phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục ra hai loại, đó là:
+ Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong
phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố).
+ Quản lý nhà trường: QLGD ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn vị, một
cơ sở giáo dục.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường (QLNT ) là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống giáo
dục) nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để đạt tới mục
tiêu giáo dục đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước. QLNT thực chất
- Quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp.
1.2.3. Tự học, quản lý tự học
1.2.3.1. Tự học
27
Thông thường, tự học được hiểu là tự mình học lấy cho mình. Tuy nhiên,
chuyện tự học không phải chỉ hiểu một cách đơn giản như vậy.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp v.v )
và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả
động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan,
có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa
học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi v.v ) để chiếm lĩnh một
lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của
mình.” [31, tr.59 - 60]
Theo giáo sư Vũ Văn Tảo: “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển
nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị
con người mình bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường
sống của chủ thể”. [19, tr.19]
Tự học là nội lực của người học, nhân tố quyết định sự phát triển bản thân
người học. Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc
lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư
duy sáng tạo.
Tóm lại, Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, hình
thành kỹ năng kỹ xảo của chính bản thân người học. Nhờ có tự học người học
mới thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và mới có thể vận dụng những
tri thức đó vào cuộc sống thực tiễn.
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau:
- Hình thức thứ nhất: Có sách, có tài liệu người học tự tìm kiếm tri thức
để thoả mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở
rộng kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường. Đây là tự học ở mức