Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
ĐỖ THỊ MINH BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
MÔN NGHIỆP VỤ LỄ TÂN KHÁCH SẠN
TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀ NỘI - 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1.
Lý do chọn đề tài
1
2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
3.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4.

Quản lý
10
1.2.2.
Hoạt động dạy - học
13
1.2.3.
Quá trình dạy học
14
1.3.
Cơ sở lý luận về quá trình dạy - học
14
1.3.1.
Cấu trúc
14
1.3.2.
Bản chất của quá trình dạy - học
17
1.3.3.
Các đặc điểm của quá trình dạy - học
18
1.4.
Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - học
20
1.4.1.
Mục đích quản lý
20
1.4.2.
Nội dung và các chức năng quản lý
20
1.4.3.

Cơ cấu tổ chức
33
2.1.4.
Cơ sở vật chất
34
2.1.5.
Đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên
36
2.1.6.
Quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo
36
2.1.7.
Đối tượng tuyển sinh và loại hình đào tạo
37
2.1.8.
Nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp
38
2.1.9.
Sơ đồ đào tạo
38
2.2.
Thực trạng hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân
khách sạn
40
2.2.1.
Vị trí, tính chất và ý nghĩa của môn học trong chuyên
ngành đào tạo
40
2.2.2.
Mục tiêu môn học

môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du
lịch Hà Nội
61
2.4.1.
ưu điểm
61 3
2.4.2.
Hạn chế
63

Tiểu kết chương 2
66
Chƣơng 3.
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn nghiệp
vụ lễ tân khách sạn tại trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà
Nội
67
3.1.
Định hướng phát triển của nhà trường trong các năm tới
67
3.2.
Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
68
3.2.1.
Đảm bảo tính mục tiêu
68
3.2.2.

Kết luận
93
2.
Khuyến nghị
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
97
PHỤ LỤC
4
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI đã chứng kiến rất nhiều biến
đổi sâu sắc của loài người. Bên cạnh sự phát triển của kinh tế tri thức, công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế
giới cũng đã có những thay đổi sâu sắc về bản chất. Tuy nhiên một lần nữa
con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người được
xem là nguồn lực vô tận, là nhân tố quyết định đến mục tiêu của sự phát triển.

hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ
năng nghiệp, năng lực giao tiếp ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành
trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Việc tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng
cho việc phát triển trên đòi hỏi các cơ sở đào tạo về du lịch phải có chiến lược
trong trước mắt và tương lai.
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội (trực thuộc Tổng cục Du lịch, nay là
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) được thành lập ngày 24/7/1972, đến nay đã
trải qua 37 năm xây dựng và phát triển. Khởi đầu là Trường Du lịch Việt Nam
chỉ đào tạo công nhân kỹ thuật ở trình độ dạy nghề. Năm 1997, trường được
nâng cấp lên thành Trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Hà Nội. Đến năm
2003, trường được nâng cấp lên thành Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
Cùng với sự phát triển chung của ngành, của đất nước trong sự nghiệp đổi
mới, hoạt động dạy - học nói chung và hoạt động dạy - học các môn chuyên
ngành ở Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội những năm qua có nhiều chuyển
biến tích cực. Hoạt động giảng dạy và học tập các môn chuyên ngành nghiệp
vụ từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, phương pháp, chất lượng và hiệu quả
còn bộc lộ một số hạn chế và bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ. Để đáp ứng
được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch và xứng đáng là một
trường đầu ngành của du lịch Việt Nam, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
cần phải đổi mới hoạt động dạy - học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong
lĩnh vực du lịch để đáp ứng nhu cầu xã hội. 6
Trước tình hình hiện nay, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội đã xác định
xây dựng mục tiêu “Rèn luyện kỹ năng thực hành nghiệp vụ và giao tiếp
ngoại ngữ đến mọi cấp học” là phương châm hành động trong công tác giảng
dạy và học tập cho tất cả các chuyên ngành đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã
hội và đòi hỏi của thực tiễn. Do đặc thù nghề nghiệp, đòi hỏi người học phải
được trang bị những kiến thức kỹ năng nghề nghiệp và khả năng giao tiếp

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý hoạt động dạy - học
môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn.
- Đánh giá thực trạng hoạt động dạy - học và quản lý dạy học môn
Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ
tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân khách
sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc quản lý hoạt động dạy- học môn Nghiệp vụ lễ tân khách
sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội còn nhiều hạn chế và chưa có tác
động tích cực. Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động dạy-
học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn có hiệu quả thì chất lượng dạy và học
môn nghiệp vụ lễ tân khách sạn sẽ được nâng cao và đáp ứng được mục tiêu
đề ra của nhà trường và của ngành du lịch đối với việc phát triển nguồn nhân
lực du lịch chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy - học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội. 8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy - học.
Chƣơng 2: Thực trạng của hoạt động dạy - học và quản lý hoạt động dạy
- học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Nghiệp
vụ lễ tân khách sạn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội. 10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Để nâng cao chất lượng dạy - học, vai trò của các biện pháp quản lý hết
sức quan trọng. Đây là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu giáo dục trong
và ngoài nước quan tâm. Họ đã nghiên cứu từ thực tiễn các nhà trường để tìm
ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất.
1.1.1. Các nhà nghiên cứu giáo dục nước ngoài
Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trình
nghiên cứu của mình đã cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường
phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của
đội ngũ giáo viên”. V.A Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như
thất bại của 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm hiệu trưởng của mình, cùng với

Trong cuốn “Vấn đề quản lý và lãnh đạo nhà trường”, V.A
Xukhomlinxki đã nêu cụ thể cách tiến hành dự giờ và phân tích bài giảng giúp
cho Hiệu trưởng thực hiện tốt và có hiệu quả biện pháp quản lý này.
1.1.2. Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy
-học cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm trong nhiều năm
qua. Đó là các tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chính,
Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn. Khi nghiên cứu các tác giả đều nêu lên nguyên tắc chung
của việc quản lý hoạt động dạy học của người giáo viên như sau:
- Khẳng định trách nhiệm của mỗi giáo viên bộ môn là chịu trách
nhiệm về chất lượng giảng dạy học sinh trong lớp mình phụ trách.
- Đảm bảo định mức lao động với các giáo viên.
- Giúp đỡ thiết thực và cụ thể để cho các giáo viên hoàn thành tốt các
trách nhiệm của mình.
Từ các nguyên tắc chung đó, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của
quản lý trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn
cho rằng: “ Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản lý dạy và học là 12
nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường”. Các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng
phải là người “luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ quản lý dạy và học
(theo nghĩa rộng) với sự quản lý các bộ phận; hoạt động dạy và học của các
bộ môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy học nhằm làm cho
tác động giáo dục được hoàn chỉnh, trọn vẹn”.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang xác định: “Dạy học và giáo dục trong sự
thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường” và “Quản lý nhà trường
thực chất là quản lý quá trình sư phạm của thày”.
Tác giả Trần Thị Bích Liễu nhấn mạnh tới những khó khăn trong
công tác quản lý nhà trường trong điều kiện mới. Mà việc “đổi mới chương

lai và phấn đấu xứng đáng là trường dẫn đầu của ngành Du lịch Việt Nam.
Trong những năm qua, vấn đề quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng
giảng dạy chỉ được nói đến một cách chung chung, cũng chưa có chuyên đề,
bài viết nào về vấn đề này. Vì vậy vấn đề quản lý hoạt động dạy - học ở
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội nói chung như thế nào, làm thế nào để thực
hiện được các giải pháp để đạt được mục tiêu đào tạo đặt ra: Nâng cao chất
lượng dạy - học đối với môn học Nghiệp vụ lễ tân khách sạn trong Trường Cao
đẳng Du lịch Hà Nội chính là vấn đề mà tác giả quan tâm nghiên cứu trong luận
văn này.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành.
Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất cổ truyền đến văn minh hiện
đại làm cho trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng cao, phát triển theo
các đòi hỏi ngày càng cao như một tất yếu lịch sử khách quan.
Sự phát triển xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là phụ
thuộc vào trình độ nắm vững tri thức và trình độ quản lý. Mọi hoạt động xã
hội đều cần đến những tác động quản lý. Khi nói đến quản lý người ta phải đề 14
cập đến chủ thể và đối tượng quản lý. Chủ thể và đối tượng quản lý để có thể
là người hoặc tổ chức do con người lập nên.
Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo
những cách tiếp cận khác nhau. Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ
đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức. Theo góc độ điều khiển từ quản lý là lái,
điều khiển, điều chỉnh. Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động
của chủ thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt
động của con người trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã
định.

nhau trong hoạt động của tổ chức.
Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh
nghiệm thực tế. Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sự mệnh của mình tốt hơn
khi vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hóa thành những
nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết. Đó chính là khoa học,
khoa học quản lý. Vì thế, quản lý vừa là khoa học, nhưng lại vừa là nghệ thuật.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối
tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định”.
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hướng đích
của thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm
thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối
cùng, phục vụ lợi ích của con người”.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung
là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu, dự kiến”. 16
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động
quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm
cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Một cách tiếp cận khác của nhà lý luận quản lý nước ngoài O. Donnel
đã cho rằng: “Quản lý là sự thiết lập và giữ gìn môi trường nội bộ của một tổ

khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách
toàn diện. Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích
cực, tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của giáo viên nhằm chiếm lĩnh khái
niệm khoa học. Khi chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực
sáng tạo, học sinh đồng thời đạt được ba mục đích bộ phận đó là trí dục, phát
triển tư duy và năng lực hoạt động.
Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của
các môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó đối
với phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến
thức của nhân loại thành học vấn của chính bản thân.
1.2.3. Quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình gắn liền với hoạt động giáo dục của
con người. Trong nhà trường, hoạt động dạy và hoạt động học phải hướng tới
mục tiêu đào tạo trên cơ sở phải hoàn thành những nhiệm vụ nhất định. Quá
trình dạy và học là một hệ thống toàn vẹn, có cấu trúc gồm nhiều hệ thống. Mục
đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung, phương pháp và phương tiện , thày, trò,
hình thức tổ chức dạy học cùng các môi trường văn hoá - chính trị - xã hội, môi
trường kỹ thuật - khoa học, kinh tế. Mỗi thành tố có vị trí nhất định, có chức
năng riêng và chúng có mối quan hệ mật thiết, biến chứng với nhau. Mỗi thành
tố vận động theo quy luật riêng và đồng thời tuân theo quy luật chung của toàn
hệ thống. Mặt khác toàn bộ hệ thống quá trình dạy học lại có mối quan hệ qua lại
và thống nhất với các môi trường của nó. Trong cấu trúc của quá trình dạy học
thì thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học là hai nhân tố trung tâm, hai
nhân tố này luôn gắn bó mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, vì nhau và cùng
hướng vào một mục đích. Hoạt động dạy là một tổ chức và điều khiển tối ưu quá 18
trình học sinh chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Nó gồm có hai chức năng cơ
bản là truyền đạt và điều khiển. Hoạt động học là quá trình tự giác, tích cực, tự

Truyền đạt
Điều khiển
HỌC
Lĩnh hội
Tự điều khiển
Cộng tác
Yêu cầu xã hội
Hệ mục tiêu
Nội dung dạy - học

Hình thức tổ chức dạy - học 19

(Nguồn: Nguyễn Đức Chính. Bài giảng Đánh giá trong giáo dục. Khoa
Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007).
Nhiệm vụ của nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Tức là,
xã hội cần những con người có những phẩm chất gì thì nhà trường phải dự
đoán trước để đào tạo kịp thời đáp ứng nhu cầu đó. Nói cách khác, xã hội
chính là người đặt hàng/khách hàng, còn nhà trường là người cung cấp dịch

Hình thức tổ chức dạy - học bao gồm các cách thức tổ chức hoạt động
dạy học như: tổ chức trên lớp, thảo luận, thí nghiệm, kèm cặp cá nhân Hình
thức luôn căn cứ vào nội dung dạy - học và có định hướng là mục tiêu. Hình
thức chính là phương tiện truyền tải nội dung chứa đựng mục tiêu trong đó.
Ngoài mục tiêu, nội dung thì hình thức tổ chức dạy - học cũng có ý nghĩa
quyết định đến khả năng truyền đạt của người dạy và khả năng tiếp thu của
người học. Không có một hình thức tổ chức hoạt động dạy - học nào là tối ưu
hơn cả, mà tùy từng theo từng trường hợp cụ thể (mục tiêu, nội dung, đối
tượng, quy mô, môi trường, phương tiện ) đòi hỏi người dạy cần vận dụng
một cách linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động dạy - học. Hoạt
động này bao gồm cả phương pháp dạy, phương pháp học và hình thức kiểm
tra - đánh giá học sinh.
1.3.1.4. Kiểm tra, đánh giá 21
Đây chính là khâu cuối cùng của quá trình dạy - học trong nhà trường.
Chỉ thông qua kiểm tra, đánh giá mới biết được mục tiêu đề ra có đạt được
hay không và đạt được bao nhiêu, để từ đó có những điều chỉnh thích hợp
nhằm đạt được mục tiêu một các tối ưu và toàn diện hơn. Thông qua việc
kiểm tra, đánh giá, bản thân người học và người dạy sẽ có được câu trả lời
cho mình về kết quả của quá trình dạy - học. Kiểm tra, đánh giá là khâu vô
cùng quan trọng có ý nghĩa quyết định đến cả một quá trình dạy - học. Do đó
cần tiến hành một cách công bằng, chính xác bằng những bộ công cụ kiểm
tra, đánh giá để có được một kết quả trung thực nhất từ người học. Bởi lẽ chỉ
có kết quả thực chất mới phản ánh đúng mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức
dạy - học một cách chính xác. Không vì “chạy theo thành tích” mà làm méo
mó kết quả của khâu kiểm tra, đánh giá dẫn đến “thành tích ảo” trong giáo
dục.
1.3.2. Bản chất của quá trình dạy - học

lọc và phản ánh.
Quy luật nhận thức trong quá trình dạy - học là sự nhận thức những
điều mà nhân loại đã biết, tức là những điều mới mẻ chỉ đối với chính bản
thân người học. Hoạt động nhận thức của người học không cần phải diễn ra
theo như trình tự và thời gian mà loài người và các nhà khoa học đã nhận thức
ra chân lý đó. Tuỳ vào đặc điểm nội dung học tập, khả năng và điều kiện học
tập thực tế mà người học có thể thực hiện hoạt động nhận thức - học tập đi từ
cụ thể đến trừu tượng, hay ngược lại từ trừu tượng đến cụ thể.
Quá trình vận động của sự nhận thức là quá trình vận dụng biện chứng
đầy mâu thuẫn. Nguồn gốc, cơ chế và khuynh hướng của nó được thể hiện
trong các quy luật của duy vật biện chứng, cần được nghiên cứu và nhận thức
đầy đủ để vận dụng vào thực tế tổ chức quá trình dạy học.
- Quá trình dạy học là một quá trình tâm lý. Khía cạnh tâm lý ở đây có
ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự thành công của việc dạy học. Vài chục
năm gần đây, qua tâm lý học về “dạy học phát triển”, người ta cho rằng, dạy
học phải đi trước sự phát triển, tức là dạy học phải cao hơn hiện tại. Ở mỗi lứa
tuổi, quá trình phát triển diễn ra không giống nhau và ở mỗi lứa tuổi, có một 23
hoạt động chủ đạo tương ứng khác nhau. Việc phát triển động cơ học tập như
là kích thích bên trong nhằm thúc đẩy người học tham gia học tập một cách
tích cực, và việc phát triển hứng thú nhận thức diễn ra ngay trong quá trình
nhận thức là những vấn đề đặc biệt quan trọng, tác động đến chất lượng và
hiệu quả của quá trình dạy học.
- Quá trình dạy học là một quá trình xã hội. Dạy học là sự tương tác
giữa người và người, và xã hội (bao hàm tổ, nhóm, lớp, tập thể sư phạm, xã
hội trong trường, xã hội ngoài nhà trường ). Mục đích dạy học do xã hội đặt
ra và người dạy chính là người đại diện cho xã hội, được xã hội phân công
làm nhiệm vụ giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ thông qua việc tổ chức, điều khiển,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status