ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHÙNG KHÁNH TÀI
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG CỦA INTERNET
ĐỐI VỚI THANH NIÊN HỌC SINH, SINH VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Thị Kim Thoa
:
Giáo dục đào tạo
GDP
:
Tổng thu nhập quốc nội
GO
:
Trò chơi trực tuyến (Game online)
HSSV
:
Học sinh, sinh viên
IP
:
Nghi thức Internet
ISP
:
Nhà cung cấp dịch cụ Internet
ITU
:
Liên minh Viễn thông quốc tế
IXP
:
Nhà cung cấp dịch vụ kết nối đường truyền
NICS
:
Khối các nước công nghiệp phát triển mới
OSP
:
Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến
RFA
:
Dịch vụ thông tin đa phương tiện
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Mô hình quản lý tác động của Internet đối với TNHSSV…………… 27
Bảng 2.1. 20 quốc gia có nhiều người sử dụng Internet nhất trên thế giới……… 37
Bảng 2.2. Số người dùng Internet tại Việt Nam từ năm 2003-2010……………….39
Bảng 2.3. Tỷ lệ TNHSSV truy cập Internet hàng ngày tính theo độ tuổi………….42
Bảng 2.4. So sánh tần suất truy cập Internet hàng ngày giữa nam và nữ TNHSSV……43
Bảng 2.5. Tỷ lệ TNHSSV truy cập Internet hàng ngày tính theo địa bàn cư trú… 44
Bảng 2.6. Tần suất truy cập Internet của TNHSSV……………………………… 44
Bảng 2.7. Mục đích truy cập Internet của thanh niên học sinh, sinh viên……… 46
Bảng 2.8. Các thông tin TNHSSV muốn tìm kiếm khi truy cập Internet………….47
Bảng 2.9. Đánh giá của TNHSSV về nâng cao kiến thức, hiểu biết khi
sử dụng Internet…………………………………………………………………….49
Bảng 2.10. Đánh giá của TNHSSV về tình trạng lợi dụng Internet để tuyên truyền
tư tưởng phản động chống lại Nhà nước ta……………………………………… 51
Bảng 2.11. Đánh giá của TNHSSV đối với các thông tin về Việt Nam đăng tải trên
các trang web nước ngoài………………………………………………………….53
Bảng 2.12. Đánh giá về tác động của Internet làm thay đổi quá trình học tập
của HSSV………………………………………………………………………… 55
Bảng 2.13. Ý kiến của TNHSSV theo bậc học về việc thu thập thông tin mới,
nhanh hơn, đầy đủ hơn, nhiều chiều hơn để phục vụ việc học tập………… ……57
Bảng 2.14. Đánh giá của TNHSSV về hưởng thụ văn hóa tinh thần qua Internet………62
Bảng 2.15. Đánh giá của TNHSSV về mức độ lợi dụng Internet để truyền bá
văn hóa phẩm đồi trụy………………………………………………………… …66
Biểu 2.15. Ý kiến về việc Internet giúp TNHSSV hưởng thụ nhiều hơn những
sản phẩm văn hóa tinh thần của nhân loại…………………………………………63
Biểu 2.16. Ý kiến của TNHSSV về Internet làm thay đổi cách thức, thời gian,
không gian hưởng thụ âm nhạc của thanh niên…………………………………….64
Biểu 2.17. Ý kiến về việc Internet giúp TNHSSV được thưởng thức nhiều
bộ phim, vở kịch hay mà không cần đến rạp, nhà hát………………… …………65
Biểu 2.18. Tỷ lệ TNHSSV đánh giá mức độ lợi dụng Internet để truyền bá VH
phẩm đồi trụy…………………………………………………………….…….… 66
Biểu 2.19. So sánh tỷ lệ nhận định truy cập thường xuyên các trang websex theo
đánh giá của bản thân HSSV được hỏi và về bạn bè của họ………………………68
Biểu 2.20. Tỷ lệ TNHSSV đánh giá Internet làm cho cách viết thư truyền thống
không còn…………………………………………………………………….…….71
Biểu 2.21. Đánh giá của TNHSSV về Internet làm thay đổi ngôn ngữ giao tiếp
thông thường………………………………………………………………….……73
Biểu 2.22. Đánh giá về ảnh hưởng tiêu cực của trò chơi trực tuyến đến việc
học tập ………………………………………………………………………… …76
Biểu 2.23. Đánh giá của TNHSSV về Internet dễ gây kích động và làm gia tăng
bạo lực trong giới trẻ…………………………………………………………… 76
Biểu 2.24. Mức độ đánh giá Internet giúp TN hiểu rõ hơn kiến thức về tình dục…… 79
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
1.3.2. Internet
17
1.3.3. Xu thế phát triển và tác động của Internet đến sự phát triển xã hội
20
1.4. Quản lý tác động của Internet đối với thanh niên học sinh, sinh viên
25
1.4.1. Mối quan hệ của Internet và thanh niên học sinh, sinh viên
25
1.4.2. Quản lý tác động của Internet đối với thanh niên học sinh, sinh viên
26
1.5. Một số đặc điểm tâm lý lứa tuổi thanh niên học sinh, sinh viên
31
Chương 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG
CỦA INTERNET ĐỐI VỚI THANH NIÊN HỌC SINH, SINH VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26
2.1. Khái lược về địa bàn nghiên cứu
26
2.2. Quá trình phát triển Internet
37
2.2.1. Quá trình phát triển Internet trên thế giới và tại Việt Nam
37
2.2.2. Các chính sách của Nhà nước về phát triển Internet tại Việt Nam
40
2.2.3. Kết cấu hạ tầng viễn thông cho phát triển Internet tại Việt Nam
41
2.3. Thực trạng việc sử dụng Internet của thanh niên học sinh, sinh viên trên
địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
2.5. Đánh giá thực trạng vai trò quản lý của các cơ quan chức năng, gia đình,
nhà trường và xã hội trước những tác động của Internet đối với thanh niên học
sinh, sinh viên 79
2.5.1. Thực trạng vai trò quản lý của các cơ quan chức năng Nhà nước
79
2.5.2. Thực trạng vai trò quản lý của gia đình
83
2.5.3. Thực trạng vai trò quản lý của nhà trường
84
2.5.4. Thực trạng vai trò quản lý của cộng đồng xã hội
86
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG CỦA INTERNET ĐỐI
VỚI THANH NIÊN HỌC SINH, SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI 88
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
88
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý tác động của Internet đối với
thanh niên học sinh, sinh viên trên địa bàn Hà Nội
89
3.3. Biện pháp quản lý tác động của Internet đối với thanh niên học sinh, sinh
viên trên địa bàn thành phố Hà Nội
93
1. Kết luận
109
2. Khuyến nghị
112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mạng thông tin điện tử toàn cầu (Internet) là thành tựu khoa học và công
nghệ to lớn của nhân loại đã và đang làm thay đổi nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội. Nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin trên mạng Internet và các ứng
dụng của nó hiện nay ngày càng trở nên phổ biến, thường xuyên hơn trong xã hội,
đặc biệt là trong giới trẻ.
Internet với những lợi thế và tiện ích của nó đã đóng góp rất lớn cho sự phát
triển của xã hội hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Bên
cạnh đó, lợi dụng tính thông dụng, phổ biến và sự phức tạp trong quản lý thông tin
trên mạng cũng như như những hạn chế trong kiến thức và nhận thức của người sử
dụng, Internet đã bị lợi dụng làm công cụ để tuyên truyền, lôi kéo thanh niên, truyền
bá những giá trị phi văn hóa, phi đạo đức, tác động tiêu cực đến một bộ phận thanh
niên.
Trước tốc độ phát triển nhanh và ảnh hưởng ngày càng lớn của Internet ở
Việt Nam hiện nay, sự nhìn nhận, thừa nhận và đánh giá của xã hội về vấn đề này
cũng như các nhà trường và gia đình đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm quản
lý, định hướng tác động của Internet đến xã hội, đến lớp trẻ nhằm vừa khai thác hiệu
quả, vừa đấu tranh ngăn chặn những tác động tiêu cực của nó. Tuy nhiên, do tính
rộng mở và tính ảo của mạng Internet nên việc quản lý còn gặp rất nhiều khó khăn,
bất cập. Vì thế, việc quan tâm nghiên cứu để có những biện pháp quản lý tác động
của Internet đối với xã hội, thanh niên nói chung, thanh niên học sinh, sinh viên nói
riêng là một đòi hỏi cấp bách và cần thiết nhằm góp phần phục vụ cho sự nghiệp
phát triển đất nước, đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ.
Với bản thân tác giả - là người có nhiều năm gắn bó với công tác thanh niên
và nhất là đối tượng thanh niên học sinh, sinh viên - thấy rằng Internet với thanh
niên nói chung và thanh niên học sinh, sinh viên nói riêng là một chủ đề mới, đang
thu hút sự quan tâm của xã hội cũng như giới trẻ; đây cũng là vấn đề tác giả có hứng
thú nghiên cứu và quan tâm đặc biệt trong thời gian vừa qua; đồng thời, với chuyên
ngành được đào tạo là “quản lý giáo dục”, tác giả chọn nghiên cứu về các biện pháp
quản lý tác động của Internet đến thanh niên học sinh, sinh viên để có thể đề xuất,
kiến nghị những biện pháp quản lý phù hợp, đồng bộ của nhà nước, gia đình, nhà
trường và xã hội để khai thác những ưu thế vượt trội, đồng thời khắc phục những tác
động, ảnh hưởng tiêu cực của Internet đối với nhóm đối tượng thanh niên đang ngồi
trên ghế nhà trường này. Thêm vào đó, với trách nhiệm và tình cảm của người cán
3
bộ chuyên trách làm công tác thanh niên lâu năm, tác giả muốn có được những đóng
góp cụ thể, có ý nghĩa trong công tác định hướng, giúp đỡ và hỗ trợ thanh niên nói
chung, thanh niên học sinh, sinh viên nói riêng trong học tập và cuộc sống thông qua
một phương tiện thú vị và đầy tính khám phá như Internet.
Trên cơ sở nhận thức của bản thân về những tác động của Internet đối với
thanh niên, thanh niên học sinh, sinh viên (TNHSSV) nói chung và trên địa bàn
thành phố Hà Nội nói riêng, tác giả chọn đề tài “Biện pháp quản lý tác động của
Internet đối với thanh niên học sinh, sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khuyến nghị và đề xuất một số giải pháp
5. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng các biện pháp nâng cao nhận thức, kiến thức cho thanh niên học
sinh, sinh viên khi truy cập, sử dụng Internet; hoàn thiện các quy định của pháp luật
và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia quản lý
Internet; tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật bảo đảm cung cấp dịch vụ cũng
như khả năng kiểm soát tốt hơn thông tin trên Internet; đáp ứng tốt hơn nhu cầu
chính đáng của thanh niên học sinh, sinh viên thông quan hoạt động hấp dẫn, lành
mạnh trên Internet; phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội
trong quản lý việc sử dụng và những tác động của Internet đối với thanh niên học
sinh, sinh viên… sẽ phát huy được những tác động tích cực và hạn chế được những
tác động tiêu cực của Internet, mang lại hiệu quả thiết thực cho cuộc sống và học tập
của thanh niên học sinh, sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng khảo sát: các đối tượng là thanh niên học sinh, sinh viên các
trường THPT Nhân Chính, Xuân Đỉnh; Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, Đại
học Sư phạm thể dục thể thao; Đại học Bách khoa và Cao đẳng Sư phạm Hà Tây
(Hà Nội); các nhà quản lý về thông tin, truyền thông, nhà quản lý giáo dục, giáo
viên, phụ huynh học sinh, các chủ quán Internet công cộng…
- Về nội dung nghiên cứu: Tác giả dự kiến nghiên cứu tác động hai mặt tích
cực và tiêu cực của Internet đối với thanh niên học sinh, sinh viên ở bốn lĩnh vực cơ
bản là: 1) Nhận thức chính trị, tư tưởng và tiếp cận thông tin; 2) Học tập; 3) Hưởng
thụ văn hóa nghệ thuật, giao tiếp và giải trí; 4) Tình bạn - tình yêu và đề xuất các
biện pháp quản lý những tác động này.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ
thống hóa các văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
5
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát bằng
phiếu hỏi, phỏng vấn…
sinh, sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội. 6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG
CỦA INTERNET ĐỐI VỚI THANH NIÊN HỌC SINH, SINH VIÊN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số nghiên cứu trong nước
Internet đã xuất hiện tại Việt Nam từ gần hai mươi năm qua (từ 1993), và cho
đến nay đã có một số bài báo, chuyên đề nghiên cứu của vài bộ, ngành hoặc một số
nghiên cứu của sinh viên ngành xã hội học về tác động của Internet đối với từng
mặt trong đời sống xã hội và đời sống của thanh niên, sinh viên. Chưa có đề tài nào
nghiên cứu sâu về biện pháp quản lý tác động của Internet đối với thanh niên học
sinh, sinh viên, nhất là tập trung trên phạm vi địa bàn thành phố Hà Nội.
Một số đề tài nghiên cứu tập trung vào những tác động, ảnh hưởng của
Internet đối với sự phát triển kinh tế xã hội như: "Nghiên cứu phương pháp đánh giá
tác động của viễn thông và Internet đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt
Nam" của KS. Đỗ Tiến Thăng; đề tài: "Nghiên cứu phương pháp đánh giá tác động
của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Nam" của KS. Cao Trần Việt Nga. Trong các đề tài này, các tác giả chủ
yếu tập trung vào giải quyết và kết luận các vấn đề như: đầu tư viễn thông và
Internet tác động đến tăng trưởng GDP (GDP tăng trưởng do đầu tư vào viễn thông
và Internet) và tăng trưởng của lao động toàn xã hội do tăng đầu tư cho viễn thông
và Internet hoặc đề ra phương pháp luận và mô hình đánh giá tác động của ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông trong các doanh nghiệp; đề xuất phương thức
tiếp cận đánh giá tác động của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
các doanh nghiệp tới sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Các đề tài này chủ
Internet đối với phát triển kinh tế- xã hội; hoặc là nghiên cứu ở góc độ đánh giá
những tác động của Internet đối với thanh niên, học sinh, sinh viên nhưng ở một
khía cạnh là lối sống của thanh niên hoặc của thanh niên học sinh, sinh viên trên
phạm vi cả nước. Đồng thời, nội dung nghiên cứu của một số đề tài chỉ tập trung vào
đánh giá những tác động của Internet mà không đi sâu và các biện pháp quản lý tác
động của Internet nhằm khai thác lợi thế, khắc phục bất lợi, thu hút sự quan tâm của
các lực lượng trong xã hội (cơ quan quản lý nhà nước, gia đình, nhà trường và xã
hội…) trong mục tiêu và cái đích hướng tới là những sự thay đổi tích cực của mỗi
thanh niên học sinh, sinh viên trong môi trường tương tác ngày càng thường xuyên
với phương tiện Internet. Vì vậy, ngoài việc tiến hành nghiên cứu về những tác động
8
của Internet, nhiệm vụ của luận văn này là đề ra những biện pháp phù hợp, hiệu quả
để quản lý những tác động của Internet đối với thanh niên học sinh, sinh viên trên
địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2. Một số nghiên cứu ngoài nước
Qua tìm hiểu, có một số các đề tài nghiên cứu, các bài viết về Internet và tác
động của Internet như: nghiên cứu về Chứng nghiện Internet; tác động tiêu cực của
Internet và những giải pháp; tác động của Internet tới kết quả học tập của sinh viên;
tác động của Internet đối với việc giảng dạy và học tập; tác động của Internet đến
sinh viên…
Trong nghiên cứu về Chứng nghiện Internet (Research on Internet Addiction)
của các tác giả Chien Chou, Linda Condron, and John C. Belland đã tập trung
nghiên cứu và đề cập đến thời gian sử dụng Internet; các vấn đề liên quan đến
nghiện Internet; sự khác biệt giới tính trong nghiện Internet; nghiện Internet và các
vấn đề về tâm lý xã hội; nghiện Internet và thái độ đối với máy tính…
Nghiên cứu về Tác động tiêu cực của Internet và những giải pháp của Trung
tâm thông tin khoa học công nghệ quân đội Ru Guangrong, Trung Quốc (The
Negative Impact of the Internet and Its Solutions) đã đề cập đến hàng loạt các tác
động tiêu cực của Internet như: ảnh hưởng chính trị của những tư tưởng phản động;
hội và thử thách; sự tin cậy; thách thức với việc dạy học sinh ảo; quan hệ đối tác với
người học; sự lựa chọn khó khăn đối với người dạy và dễ dàng với người học; người
học không chỉ là khách hàng; thầy trò là một; sự cam kết của người học bảo đảm sự
thành công; làm sao tăng cường sự giao tiếp người dạy - người học…
Có thể nhận thấy, một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài đã không chỉ
quan tâm đến vấn đề quản lý sử dụng Internet, mà đi sâu nghiên cứu những tác động
của Internet tới xã hội, tới giới trẻ, tới việc dạy và học… ở góc nhìn của một tổ chức
đại diện cho quốc gia cũng như của một nhóm tác giả hay một cá nhân (Chứng
nghiện Internet, Tác động tiêu cực của Internet và những giải pháp, Tác động của
việc sử dụng Internet đối với kết quả học tập của sinh viên…). Tuy nhiên, các
nghiên cứu cũng không đề cập nhiều và sâu trong việc đánh giá tác động cũng như
quản lý những tác động của Internet trong đối tượng thanh niên học sinh, sinh viên.
1.2. Một số vấn đề về quản lý
1.2.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người
quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn
hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,
các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
10
phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực,
quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể.
Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện
tài chính… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước. Chủ thể
muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng quản lý đặt ra
phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ.
Quản lý nền sản xuất - xã hội là loại hình quản lý đặc biệt phát sinh từ tính
chất xã hội hóa lao động. Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến
một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là
một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý
tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý.
Tác động có thể chỉ là một lần, mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục
tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
Tác động của chủ thể phải có kế hoạch và có tính mục đích.
Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc
nhiều người (trong tổ chức xã hội).
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có
sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của
mình.
Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt
đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
Như vậy có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng
dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích
đã đề ra. Sự tác động quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn
hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho
tổ chức và cho cả xã hội.
Quản lý là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự
nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý và xã
12
hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới
mục đích.
1.2.2. Đặc điểm và chức năng của quản lý
* Đặc điểm của quản lý:
- Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý.
Đây là đặc điểm cơ bản, đầu tiên của quản lý đã được đề cập sơ bộ ở trên.
liên hệ ngược) của quản lý.
- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi). Đây là đặc
điểm thứ ba của quản lý.
Khi đối tượng quản lý mở rộng về quy mô, phức tạp về các mối quan hệ thì
không phải chủ thể quản lý chịu bó tay, mà nó vẫn tiếp tục quản lý có hiệu quả nếu
nó đổi mới quá trình quản lý thông qua việc cấu trúc lại hệ thống và việc ủy quyền
quản lý cho các cấp trung gian.
Trường hợp ngược lại, khi chủ thể quản lý trở nên xơ cứng, quan liêu, đưa ra
những tác động quản lý độc đoán, lỗi thời, phi lý thì không phải tất cả các đối tượng
quản lý đều chịu bó tay, mà họ vẫn có thể thích nghi tồn tại theo hai cách: i) họ phải
tồn tại tương ứng với các tác động quản lý của chủ thể; ii) họ biến đổi cấu trúc của
bản thân để thích nghi với các mệnh lệnh quản lý phi lý của chủ thể.
- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.
Đây cũng là đặc điểm quan trọng của quản lý. Nói quản lý là một khoa học vì
quản lý như đã xét ở trên, có đối tượng nghiên cứu riêng là các mối quan hệ quản lý.
Quản lý còn có phương pháp luận nghiên cứu riêng và chung, đó là quan điểm triết
học Mác - Lênin, là quan điểm hệ thống. Quản lý có những phương pháp cụ thể
được được sử dụng để nghiên cứu như các phương pháp phân tích, các phương pháp
toán kinh tế, các phương pháp tổ chức-hành chính, các phương pháp xã hội học, các
phương pháp tâm lý, các phương pháp lịch sử… Quản lý đồng thời còn là một nghệ
thuật vì nó còn tùy thuộc một phần vào tài nghệ, bản lĩnh, trí tuệ, nhân cách, bề dày
kinh nghiệm của người lãnh đạo của tổ chức. Quản lý còn là một nghề với nghĩa các
nhà lãnh đạo tổ chức phải có tri thức quản lý (qua tự học, tự tích lũy và qua các quá
trình được đào tạo ở các cấp độ khác nhau, hoặc ít nhất họ phải có các chuyên gia về
quản lý trợ giúp cho họ).
- Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.
Người lãnh đạo có ưu thế quan trọng trong tổ chức, họ có khả năng điều
khiển người khác và chi phối các nguồn lực và tài sản của tổ chức. Người lãnh đạo
còn là người có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện các mong muốn của mình
dẫn dắt tổ chức. Một số học giả gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động. Dù gọi tên
thế nào, lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viện họ hoàn
thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc
15
lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất,
mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia.
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một
cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và
tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động
phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những
hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính
chu kỳ như sau: i) người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động;
ii) người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt
ra; iii) người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch; iv) người quản lý hiệu
chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.
1.3. Một số vấn đề về thông tin, truyền thông và Internet
1.3.1. Thông tin và quản lý thông tin
- Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách
quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. Điều cơ bản là con
người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành
những hoạt động có ích cho cộng đồng.
Thông tin được lưu trữ trên nhiều dạng vật liệu khác nhau như được khắc trên
đá, được ghi lại trên giấy, trên bìa, trên băng từ, đĩa từ Ngày nay, thuật ngữ "thông
tin" (information) được sử dụng khá phổ biến. Thông tin chính là tất cả những gì
mang lại hiểu biết cho con người. Con người luôn có nhu cầu thu thập thông tin
bằng nhiều cách khác nhau: đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người
khác Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là
cơ sở của quyết định.
Môi trường vận động thông tin là môi trường truyền tin, nó bao gồm các kênh
chức nào, cá nhân nào có nhiều thông tin (trở thành tri thức) thì nước đó, tổ chức đó
và cá nhân đó sẽ có tiềm năng phát triển nhanh, phát triển vượt bậc.
Tuy nhiên, trong một xã hội tràn ngập thông tin, con người mà rộng hơn là tổ
chức, quốc gia nếu không biết quản lý, chọn lọc thông tin thì sẽ bị “chết chìm” trong
“biển thông tin” hỗn độn ấy. Vì thế, hơn lúc nào hết, mỗi quốc gia trên thế giới hiện
nay đều rất coi trọng việc quản lý, khai thác và định hướng thông tin trong phạm vi
lãnh thổ quốc gia mình để phục vụ cho đường lối chiến lược lâu dài cũng như mục
tiêu phát triển trong từng thời kỳ cụ thể. Ngày nay, muốn phát triển được, các quốc
gia không còn cách nào khác là mở cửa mạnh mẽ để giao lưu với thế giới, trong đó
việc mở cửa về lĩnh vực thông tin, truyền thông, đặc biệt thông qua việc phát triển
mạng Internet.
17
Trong phạm vi đề tài này, đối với nước ta, việc hoạch định chiến lược phát
triển cũng như quản lý thông tin và những tác động từ mạng Internet có ý nghĩa hết
sức quan trọng góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường giao thương và
giao lưu quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh Trong đó, việc quản lý những tác
động của Internet đối với người trong lứa tuổi thanh thiếu niên - nguồn nhân lực, thế
hệ tương lai của nước nhà - có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Vì thế hệ trẻ
ngày nay, nhất là lứa tuổi học sinh, sinh viên rất năng động, sáng tạo, có khả năng sử
dụng, khai thác thông tin trên phương tiện truyền thông hiện đại như Internet; đồng
thời họ cũng luôn có mong muốn tìm hiểu, khám phá cái mới và dễ thích nghi với
cái mới, với sự thay đổi. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà Internet mang
lại cho xã hội nói chung, giới trẻ nói riêng thì bản thân nó cũng chứa đựng nhiều
nguy cơ với những thông tin nhiều chiều, không thống nhất, có tính ảo và khó có thể
kiểm định và kiểm soát. Thông tin trên Internet có thể mang cho người ta sự thành
công rực rỡ, song cũng có thể hướng con người ta, nhất là người trẻ, thanh niên học
sinh, sinh viên tới chỗ sống lai căng, phi đạo đức, thực dụng, dối trá, lừa đảo và
thậm chí là vi phạm pháp luật, nhận thức lệch lạc, phiến diện, xâm phạm đến an ninh
quốc gia Vì thế việc quản lý thông tin nói chung, thông tin trên mạng Internet nói