ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
o0o
TẠ THỊ HOÀI THƯƠNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC TIẾNG ANH
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
Hà Nội - 2009
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
6. Giả thuyết khoa học 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
9. Cấu trúc luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC TIẾNG ANH 5
1.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý 5
1.1.1. Khái niệm quản lý và các chức năng quản lý 5
1.1.2. Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường 8
1.1.3. Quản lý hoạt động dạy- học 10
1.2. Quản lý hoạt động dạy- học Ngoại ngữ ở trƣờng Cao đẳng 15
1.2.1.Hoạt động dạy-học ngoại ngữ 15
1.2.2. Đặc trưng hoạt động giảng dạy tiếng Anh chuyên ban 19
1.2.3. Quản lý hoạt động dạy-học tiếng Anh chuyên ban 21
1.3. Quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động dạy- học tiếng Anh chuyên ban tại
trƣờng Cao đẳng 24
1.3.1. Chất lượng 24
1.3.2. Chất lượng đào tạo 24
1.3.3. Chất lượng dạy học 26
6
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp 62
3.1.3. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 64
3.2. Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động dạy - học tiếng
Anh tại trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Hà Tây 64
3.2.1. Nhóm biện pháp tăng cường hiệu quả quản lý đổi mới mục tiêu, nội dung chương
trình, xây dựng kế hoạch giảng dạy tiếng Anh 64
3.2.2. Nhóm biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy tiếng Anh của đội ngũ giảng viên 67
3.2.3. Nhóm biện pháp về đổi mới quản lý hoạt động học tập tiếng Anh của sinh viên . 75
3.2.4. Nhóm biện pháp về đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập tiếng Anh của sinh
viên 81
3.2.5. Nhóm biện pháp về đổi mới quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động
dạy - học tiếng Anh 84
3.3. Mối liên quan giữa các biện pháp quản lý 86
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 86
Tiểu kết chƣơng 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 7
DẠNH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 1.1: Thời lượng dành cho học ngoại ngữ của các loại trường Cao đẳng
Đại học 20
Bảng 2.1: Số lượng sinh viên của toàn trường từ 2005 đến nay 31
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động giảng dạy tiếng Anh
của GV 38
việc nâng cao chất lƣợng đào tạo tại các trƣờng cao đẳng, đại học
Muốn nâng cao chất lượng đào tạo cần phải tác động đến các yếu tố của
quá trình dạy - học (QTD-H). Bên cạnh hai yếu tố mục đích và nội dung,
“phương pháp dạy học (PPD-H) là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình
dạy học”. QTD-H sẽ không thể đạt hiệu quả như mong muốn nếu nội dung và
mục đích của nó không gắn kết với PPD-H phù hợp. Vì thế, quản lý hoạt động
dạy học (HĐD-H) nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một vấn đề thời sự được
nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, Đảng và Nhà nước quan tâm và là đòi
hỏi cấp thiết hiện nay. Trong những năm gần đây, xu thế xã hội phát triển mạnh
mẽ về nhiều mặt đã đặt nhiệm vụ của giáo dục nói chung và giáo dục đại học
(ĐH) - cao đẳng (CĐ) nói riêng trước đòi hỏi mới. Đó là, giáo dục phải đào tạo
nên nguồn nhân lực có đầy đủ các phẩm chất, năng lực, chủ động, sáng tạo và
linh hoạt để có thể thích nghi cao với thị trường lao động trong thời hội nhập.
Đối với Giáo dục - Đào tạo (GD-ĐT) thì vấn đề hàng đầu là chất lượng của GD-
ĐT vì chất lượng của GD-ĐT vừa là mục tiêu số một, vừa là động lực thúc đẩy
sự nghiệp GD-ĐT phát triển; đồng thời là điều kiện cơ bản bảo đảm cho những
con người được đào tạo ra có đủ năng lực và phẩm chất thực hiện được những
nhiệm vụ xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển nền kinh tế - xã hội
(KT-XH). Vì vậy nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học là nhiệm vụ
thường xuyên, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt QTD-H nói riêng và xuyên suốt toàn bộ
lịch sử phát triển của nhà trường và giáo dục nói chung. Nói đến GD- ĐT là nói
đến việc dạy, việc học, việc quản lý QTD-H và các mối quan hệ khác liên quan
đến việc đào tạo ra những sản phẩm nhân cách cho tương lai. Đổi mới cách thức
dạy, cách học, cách quản lý QTD-H trong các nhà trường là để nâng cao chất
lượng dạy học, đây là việc làm quan trọng nhất đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của mỗi nhà trường, cũng như của toàn ngành giáo dục.
Tính cấp bách không chỉ toàn ngành GD - ĐT quan tâm mà còn được thể hiện
trong đường lối lãnh đạo công tác GD - ĐT của Đảng và pháp luật của nhà nước, ví
dụ như: Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành Trung ương về việc
2
những đòi hỏi trên của xã hội mà còn cần phát triển những nhà quản lý giỏi,
những cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao để đáp ứng được sự phát triển
của xã hội.
3
1.4. Xuất phát từ thực tế hoạt động dạy - học tiếng Anh tại trƣờng Cao
đẳng sƣ phạm Hà Tây
Trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) Hà Tây là cơ sở đào tạo các chuyên
ngành đặc biệt đào tạo giáo viên tiếng Anh THCS. Hơn 49 năm xây dựng và
trưởng thành với nhiều thành tích xuất sắc, trong đó có sự đóng góp đáng kể
nguồn nhân lực đã qua đào tạo của khoa Ngoại ngữ, đáp ứng nhu cầu nguồn lực
cho ngành và cho xã hội, bước đầu khẳng định vị thế của nhà trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân. Trong thực tế, số lượng, chất lượng và hiệu quả đào
tạo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của trường và đòi hỏi mà xã
hội đặt ra. Có nhiều nguyên nhân và lý do khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo, trong đó cần phải kể đến một nguyên nhân rất quan trọng đó là công tác
quản lý HĐD-H còn nhiều bất cập. Vì vậy, cần phải có cái nhìn khách quan,
khoa học trong việc đánh giá thực trạng, tìm ra biện pháp tăng cường quản lý
nhằm nâng cao chất lượng HĐD-H trong nhà trường nói chung và HĐD-H tiếng
Anh ở khoa Ngoại ngữ nói riêng.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế nêu trên, tôi chọn: “Biện pháp
quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy- học tiếng Anh tại trường Cao
đẳng sư phạm Hà Tây” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động dạy-học tiếng Anh tại trường CĐSP Hà Tây.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt
động dạy - học tiếng Anh.
3.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý HĐD-H tiếng Anh tại
trƣờng CĐSP Hà Tây.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đề xuất một số biện pháp khả thi để quản lý
nhằm nâng cao chất lượng dạy-học tiếng Anh tại trường CĐSP Hà Tây.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày
trong ba chương có tên như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng
HĐD-H tiếng Anh.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý HĐD-H tiếng Anh tại trường CĐSP Hà Tây.
Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng HĐD-H
tiếng Anh tại trường CĐSP Hà Tây.
Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC TIẾNG ANH
1.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý
1.1.1. Khái niệm quản lý và các chức năng quản lý
1.1.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý (QL) là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và
lâu đời của con người. Nó “xưa cũ như chính con người vậy” [20, Tr.10]. Tuy
nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình
QL và dần dần hình thành các “lý thuyết quản lý”. Có thể điểm qua một số lý
thuyết đó như sau:
K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những
khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình,
còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [42, Tr. 408].
một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, các PP và biện pháp cụ thể,
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu mong muốn thông qua kế hoạch
hoá, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra”.
Như vậy, khái niệm QL được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau song
có thể hiểu QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động
của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra
một cách hiệu quả nhất.
1.1.1.2. Bản chất và các chức năng của quản lý
Bản chất của quản lý
Bản chất của hoạt động QL là sự tác động có mục đích đến tập thể người
nhằm thực hiện mục tiêu QL. Trong GD-ĐT đó là tác động của nhà quản lý giáo
dục đến tập thể GV, học sinh - sinh viên (HSSV) và các lực lượng giáo dục khác
nhau trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục (QLGD).
QLGD có bản chất vì lợi ích phát triển giáo dục nhằm mục tiêu tối thượng
là hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục, đối tượng giáo dục
và chủ thể giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH. Bản chất đó được thể
hiện ở sơ đồ sau: 7
Chỉ đạo
Chủ thể quản
lý
Khách thể
quản lý
Nội dung
quản lý
Mục tiêu
quản lý
Công cụ, PP
quản lý
8
- Lập kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý.
- Tổ chức: Sự chuyển hóa những ý tưởng trong kế hoạch thành hiện thực.
- Chỉ đạo: Điều kiện hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích
hợp với hai chức năng trên.
- Kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của QL.
Trong một chu trình QL cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên
tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối mật thiết với
nhau giữa chu trình này sang chu trình theo hướng phát triển.
1.1.2. Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường
1.1.2.1. Quản lý giáo dục
QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích
của chủ thể QL ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống
nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận
thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình
giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của con người. Chất lượng của
giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến QLGD phải nói đến
quản lý nhà trường (QLNT) cùng với hệ thống QLGD [21, Tr.71].
Trong cuốn Giáo dục học, Phạm Viết Vƣợng đã viết: “Mục đích cuối
chế sư phạm đơn thuần. Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất
là hình thành “Nhân cách- Sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng
cả nguồn vốn người (human capital), vốn tổ chức (organizational capital), và
vốn xã hội (social capital) [13, Tr.30].
Theo Phạm Minh Hạc: “QLNT ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên
lý giáo dục để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng
học sinh” [30, Tr. 561].
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo,
thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ. Thành tích tập trung nhất
của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ
của HSSV, ở việc đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường.
“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “cộng đồng là
trái tim của nhà trường”. Từ nhà trường, hai quá trình “xã hội hoá giáo dục” và
“giáo dục hoá xã hội” quyện chặt với nhau để hình thành “xã hội học tập”, tạo
nên sự đồng thuận xã hội, tăng trưởng kinh tế cho mỗi quốc gia với mục tiêu
phát triển nhân văn (Human Development) đưa giáo dục cho mỗi người, giáo
dục cho mọi người (Education for all) và huy động tiềm năng, nguồn lực của xã
hội cho giáo dục (All for education) [32, Tr.3].
10
QLNT thực chất là QLGD trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến
hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường. Đó là một hệ thống những hoạt
động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QLGD để đạt tới mục
tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành Giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của
đất nước.
Quản lý nhà trường gồm:
- QL chương trình dạy-học và giáo dục của nhà trường.
- Quản lý HSSV (QL các hoạt động của HSSV).
- Quản lý GV, phát triển nghề nghiệp của người thầy.
- Quản lý CSVC, TBDH, thư viện của nhà trường, đảm bảo cho nhà
nhất biện chứng với nhau, tạo thành một hoạt động chung. Dạy điều khiển học,
học tuân thủ dạy. Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học phải thông minh
và cách học phải sáng tạo. Dạy tốt dẫn đến học tốt. Thi đua dạy tốt, học tốt là
một phong trào hướng vào cải tiến PPD-H, là việc làm cho HĐD-H phù hợp với
quy luật của QTDH [49, Tr. 56].
HĐD- H giúp người học lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân
cách của người học. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý
nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của người học, giúp người học
nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Hoạt động dạy có chức năng
kép là truyền đạt và điều khiển. Nội dung, chương trình dạy học theo một quy
định bắt buộc và được thống nhất trong mỗi cấp học.
1.1.3.3. Quá trình dạy học
“QTDH là một hệ thống toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động
học. Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau sinh thành
ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác (cộng tác và hợp
tác) trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo” [45, Tr. 52].
Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: "QTD-H là một quá trình
sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáo dục và giáo
dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người
học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học,
những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành" [40, Tr. 25].
“Dạy học là bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những
con đường để thực hiện mục đích giáo dục. QTD-H được tổ chức trong nhà
trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt, nhằm trang bị cho học sinh hệ
thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn” [49, Tr. 52].
12
Trên nguyên tắc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, GV tổ
chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, làm cho việc học tập trở
thành một hoạt động có ý thức. Bằng sự khéo léo của phương pháp sư phạm,
lôgíc lĩnh hội của học sinh, thiết kế công nghệ dạy học hợp lý, tổ chức tối ưu quá
13
trình cộng tác, đảm bảo liên hệ nghịch để cuối cùng làm cho học sinh tự giác,
tích cực, tự lực chiếm lĩnh được khái niệm khoa học, phát triển thành năng lực
và hình thành thái độ” [45, Tr. 4].
1.1.3.4. Quản lý HĐD-H và đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy học tại trường
Cao đẳng sư phạm
Quản lý hoạt động dạy-học
Quản lý HĐD-H là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống
quản lý HĐD-H trong nhà trường. Quy định dạy học được thực hiện theo một
chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể trên lớp học. Quản lý HĐD-H được
phân hóa thành hai quá trình cơ bản:
- Quản lý QTD-H trên lớp
- Quản lý QTD-H ngoài giờ lên lớp
Hai quá trình này đã được ghi nhận trong mục tiêu, kế hoạch hoạt động
giáo dục của mỗi cấp, bậc học.
Quản lý HĐD-H do nhà trường hướng dẫn tổ chức và chỉ đạo nhưng nó
có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáo dục khác, hoặc các cơ
quan, tổ chức văn hóa, khoa học, thể dục thể thao, các tổ chức đoàn thể quần
chúng ngoài xã hội, nơi mà trò tham gia học tập, vui chơi, giải trí có tổ chức.
QL dạy học là QL một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố
như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thầy
với hoạt động học của trò, kiểm tra- đánh giá (KT-ĐG) kết quả dạy-học
v.v Tất cả các nhân tố cấu trúc của QTD-H tồn tại trong mối quan hệ
qua lại thống nhất với môi trường của nó. Môi trường xã hội - chính trị và môi
trường cách mạng khoa học- kỹ thuật. QL dạy học phải thực sự chú trọng tới các
thành tố này.
Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy- học tại trường Cao đẳng sư phạm
Qúa trình đào tạo ở trường CĐSP là một quá trình hoạt động có mục
đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các
giữa nội dung giáo dục tư tưởng chính trị với nội dung tri thức khoa học trên
cơ sở nền tảng những tri thức và kỹ năng nghề nghiệp tương lai. Mặt khác,
việc nắm vững tri thức, kỹ năng là cơ sở và điều kiện để phát triển năng lực
hoạt động trí tuệ của SV trong QTD-H. Trong mối tương quan giữa dạy học,
giáo dục và phát triển, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan và các phẩm
chất nhân cách của người GV trong tương lai vừa là mục đích, là kết quả
đồng thời cũng là cơ sở tư tưởng của việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và phát
triển trí tuệ của SV. Nó phản ánh rõ nét mục tiêu đào tạo của trường CĐSP
15
đáp ứng yêu cầu của xã hội, cách mạng khoa học, công nghệ và yêu cầu của
cuộc sống [39, Tr. 24].
QTD-H tại trường CĐSP là một quá trình phát triển không ngừng, bao
gồm nhiều thành tố cấu trúc tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Mỗi
thành tố cấu trúc cũng luôn luôn ở trạng thái vận động và phát triển. Chính sự
vận động và phát triển tổng hợp, đồng bộ của các thành tố cấu trúc này tạo nên
sự vận động và phát triển chung của QTD-H tại trường CĐSP.
1.2. Quản lý hoạt động dạy- học Ngoại ngữ ở trƣờng Cao đẳng
1.2.1. Hoạt động dạy-học ngoại ngữ
1.2.1.1. Bản chất và mục đích của hoạt động dạy học ngoại ngữ
- Bản chất của quá trình dạy học ngoại ngữ
V.I. Lê-nin định nghĩa về ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ là phương tiện
giao tiếp quan trọng nhất của con người ” ở đây V.I. Lê-nin chỉ ra chức năng
giao tiếp là thuộc tính quan trọng nhất, là bản chất ngôn ngữ. Với quan điểm này
giúp ta lý giải đúng đối tượng của môn học ngoại ngữ (dạy học ngoại ngữ nhằm
mục đích nắm vững và sử dụng được công cụ giao tiếp ấy), nội dung cơ bản của
môn học (dạy học ngoại ngữ là dạy học bằng tiếng nước ngoài ở bốn dạng cơ
bản của giao tiếp: Nghe, Nói, Đọc,Viết), PPD-H ngoại ngữ (đó là PP thực hành
giao tiếp, nghĩa là phải thông qua rèn luyện thực hành các kỹ xảo và kỹ năng
giao tiếp mà chiếm lĩnh công cụ giao tiếp).
- Mục đích của quá trình dạy - học ngoại ngữ
1.2.1.3. Phương pháp dạy-học ngoại ngữ
Ngày nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc dạy học
ngoại ngữ đều theo đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp. Nó đáp ứng được
những nhu cầu giao tiếp bằng ngoại ngữ qua hai kênh khẩu ngữ (Nghe và nói)
và bút ngữ (Đọc và viết ).
- Phương pháp dạy học nghe - nói
Theo các Nhà giáo học pháp ngoại ngữ (Howatt và Dakin 1974, Willis
1981), Nghe là khả năng xác định và hiểu những gì người khác đang nói. Điều
này bao gồm việc hiểu giọng điệu hay cách phát âm của người nói, ngữ pháp và
từ vựng của họ, và quan trọng hơn là hiểu được ý nghĩa của họ.
Có hai quan điểm về quá trình nghe hiểu: Nghe từ dưới lên (nghĩa là người
nghe quan tâm đến thông điệp từ những đơn vị nhỏ nhất- âm đến đơn vị lớn nhất-
văn bản) và quan điểm nghe hiểu từ trên xuống (nghĩa là, việc sử dụng kiến thức
trong đầu hay là kiến thức không được nhập mã trực tiếp trong ngôn từ). Ngày nay,
cả hai quan điểm này đều được công nhận rộng rãi và phải được tích hợp lại và sử
dụng trong giảng dạy thì mới có thể nâng cao khả năng và hiệu quả nghe của
17
HSSV nhưng sử dụng phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Đường hướng ngôn
bản chính là nơi hai hình thức nghe từ dưới lên và nghe từ trên xuống gặp nhau và
là nơi xử lí cùng một lúc thông tin nền, thông tin ngôn cảnh và thông tin ngôn ngữ
cho phép quá trình nghe hiểu và giải thích xảy ra. Để kỹ năng nghe được dạy có
hiệu quả, cần phải chia bài nghe làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi nghe; b)
Giai đoạn trong khi nghe; c) Giai đoạn sau khi nghe.
Trong việc học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng, Nói dường
như là kỹ năng quan trọng nhất và khó phát triển nhất. Trong tiếng Anh, những
người biết một ngôn ngữ được gọi là những “người nói của ngôn ngữ đó”
(Speakers of the language). Chính vì vậy mà các hoạt động phát triển khả năng
tự diễn đạt của người học thông qua nói dường như là một thành phần quan
trọng nhất trong việc học ngoại ngữ. Giống như kỹ năng nghe, kỹ năng nói cũng
được chia làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi nói; b) Giai đoạn trong khi
giao tiếp và đường hướng viết theo quá trình được xem là chủ đạo. Đường
hướng này được dựa trên bốn điểm cơ bản như: tại sao lại viết?; người ta viết để
giao tiếp với độc giả; người ta viết để hoàn thành những mục đích cụ thể; viết là
một quá trình phức tạp. Với quan điểm này, viết được xem như là một hành
động giao tiếp.
Theo I.Malcolm và K.Malcolm, dạy viết có hiệu quả nên đi theo quy
trình gồm sáu bước: (i) lập kế hoạch, (ii) viết nháp, (iii) sửa lại, (iv) gọt giũa, (v)
biên tập, (vi) chia sẻ. Còn theo Brown, để thực hành dạy viết có hiệu quả GV
nên đi theo một quy trình lên lớp gồm hai giai đoạn: a) giai đoạn trước khi viết
và b) giai đoạn trong khi viết.
Bên cạnh PP dạy các kỹ năng trên ta cũng phải nói đến một kỹ năng nữa
đó là sử dụng chính kỹ năng ngôn ngữ sản sinh ra để tư duy giúp cho SV hiểu và
nắm được kiến thức ngôn ngữ một cách hiệu quả.
1.2.1.4. Kiểm tra và đánh giá
Trong QTD-H ngoại ngữ, KT-ĐG có một ý nghĩa hết sức quan trọng cả
về mặt giáo dục lẫn giáo dưỡng. Kiểm tra trước hết đảm bảo mối liên hệ ngược
trong qúa trình điều khiển HĐD-H giúp cho thầy và trò nắm được chính xác kết
quả của từng khâu, từng giai đoạn, do đó có được những biện pháp điều chỉnh
kịp thời để hoạt động đúng mục tiêu và đem lại kết quả cao. Việc đánh giá học
tập bằng số điểm cho sau mỗi lần kiểm tra có tác dụng nâng cao ý thức trách
nhiệm, duy trì sự yêu thích thường xuyên với môn học, làm cho người dạy và
người học thấy rõ được hiệu quả lao động của mình trước, sự mong muốn và đòi
hỏi của xã hội, nhà trường và gia đình.
19
- Kiểm tra kỹ năng nghe-nói
Để đánh giá khả năng nghe- nói có thể sử dụng tất cả các hình thức kiểm
tra theo phương thức nghe bằng tiếng nước ngoài rồi truyền đạt lại nội dung
bằng tiếng Việt. Nghe thông tin rồi tóm tắt lại bài hoặc làm các dạng bài như
chọn đáp án đúng, câu hỏi đúng/sai v.v Còn hình thức kiểm tra nói chủ yếu