Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học Điện lực - Pdf 25



KHOA SƯ PHẠM
O0O

TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

2
7. Phng phỏp nghiờn cu
3
8. Cu trỳc lun vn
3
Chng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
4
1.1. Sơ l-ợc lịch sử vấn đề nghiên cứu
4
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
5
1.2.1. Qun lớ v cỏc khỏi nim liờn quan n vn v qun lý
5
1.2.1.1. Qun lớ
5
1.2.1.2. Cỏc chc nng c bn ca qun lý
9
1.2.1.3. Cỏc nguyờn tc qun lớ
10
1.2.1.4. Cỏc bin phỏp qun lý
12
1.2.2. Qun lý giỏo dc, qun lý trng hc
14
1.2.2.1. Qun lý giỏo dc
14
1.2.2.2. Qun lý trng hc
18
1.2.3. Qun lý hot ng dy hc
20
1.2.3.1. Hot ng

2.1.1. Lch s hỡnh thnh v phỏt trin
34
2.1.2. Chc nng, nhim v ca Trng i hc in lc
34
2.1.3. C cu t chc ca Trng v i ng GV, CB, cụng nhõn viờn
35
2.1.4. Quy mụ, cht lng o to
36
2.1.5. H thng c s vt cht s phm
38
2.2. Thc trng hot ng dy - hc trng i hc in lc
39
2.2.1. Thc trng hot ng ging dy ca ging viờn
39
2.2.2. Thc trng hot ng hc tp ca sinh viờn
45
2.2.3. Thc trng CSVC, trang thit b, phng tin k thut phc v HD-H
50
2.3. Thc trng QL hot ng dy - hc trng i hc in lc
51
2.3.1. Thc trng qun lý hot ng ging dy ca ging viờn
52
2.3.2. Thc trng qun lý hot ng hc tp ca sinh viờn
60
2.3.3. Thc trng qun lý vic s dng CSVC, trang thit b, phng tin
k thut phc v HD-H.
62
Tiu kt chng 2
64
Chng 3: biện pháp quản lí Hoạt động dạy - học nhằm nâng DANH MỤC BIỂU BẢNG Trang
Hình 1.1:
Quan hệ chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý
9
Hình 1.2:
Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình QL
10
Hình 1.3:
Quản lý các thành tố của quá trình dạy – học
20
Hình 1.4 :
Nội dung quản lý hoạt động dạy - học ở nhà trường.
24
Hình 1.5:
Quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo
28
Hình 2.1:
Bộ máy của nhà trường
35
Hình 2.2:
Mối liên hệ giữa các hệ và ngành nghề đào tạo của Trường
37


Bảng 2.10:
Thực trạng QL việc thực hiện kế hoạch và chương trình giảng dạy
54
Bảng 2.11:
Thực trạng QL hoạt động cải tiến nội dung, PP, hình thức tổ D-H
và đánh giá giờ dạy
56
Bảng 2.12:
Thực trạng quản lý hoạt động KT - ĐG kết quả học tập của SV
58
Bảng 2.13:
Thực trạng QL thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn của GV
59
Bảng 2.14:
Thực trạng quản lý hoạt động học tập của SV
60
Bảng 2.15:
Thực trạng quản lý việc sử dụng CSVC, trang thiết bị, phương
tiện - kỹ thuật phục vụ HĐD-H
63
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐVHT
Đơn vị học trình
ĐH - CĐ
Đại học - cao đẳng
ĐTB
Điểm trung bình

HTQT
Hợp tác quốc tế
KH
Khoa học
KT
Kiểm tra
KT-XH
Kinh tế, xã hội
NCKH
Nghiên cứu khoa học
NXB
Nhà xuất bản
PP
Phương pháp
PPD-H
Phương pháp dạy - học
QL
Quản lý
QLGD
Quản lý giáo dục
SV
Sinh viên
THCS
Trung học cơ sở
TNCS
Thanh niên cộng sản
TNKQ
Trắc nghiệm khách quan
VD
Ví dụ

phát triển của trƣờng
Trong thời đại ngày nay, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến
trình hội nhập kinh tế thế giới thì tri thức con người là một trong những yếu tố cơ
bản nhất để phát triển đất nước. Chất lượng đào tạo là điều kiện tồn tại và phát
triển đối với các cơ sở đào tạo hiện nay, góp phần nâng cao nguồn nhân lực cho
xã hội để phục vụ mục tiêu chung của đất nước, của xã hội.
Nhu cầu phát triển nguồn lực của ngành Điện không nằm ngoài những đòi
hỏi trên của xã hội mà còn cần phát triển những nhà quản lý giỏi, những cán bộ
khoa học kỹ thuật có trình độ cao và những công nhân kỹ thuật lành nghề để đáp
ứng được sự phát triển của xã hội.
1.4. Xuất phát từ thực tế hoạt động dạy - học của trƣờng Đại học Điện lực
Trường Đại học Điện lực trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam là cơ sở
đào tạo cán bộ có trình độ Đại học, Cao đẳng và các bậc học thấp hơn theo cơ cấu
khung của hệ thống GD quốc dân thuộc lĩnh vực ngành Điện. Bốn mươi năm qua, 2
trường đã đóng góp đáng kể nguồn nhân lực đã qua đào tạo cho ngành Điện, đáp
ứng phần nào nhu cầu lao động cho toàn ngành và cho xã hội, bước đầu khẳng
định uy tín và vị thế của nhà trường trong hệ thống GD quốc dân. Trong thực tế,
số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và
thế mạnh của Trường và đòi hỏi mà xã hội đặt ra. Có nhiều nguyên nhân và lý do
khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, trong đó cần phải kể đến một
nguyên nhân rất quan trọng đó là công tác quản lý HĐD-H còn nhiều bất cập. Vì
vậy, cần phải có cái nhìn khách quan, khoa học trong việc đánh giá thực trạng,
tìm ra biện pháp tăng cường quản lý HĐD-H ở Trường Đại học Điện lực.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế nêu trên, tôi chọn: “Biện pháp
quản lý hoạt động dạy - học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học
Điện lực” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu

7.2. Nhóm các PP nghiên cứu thực tiễn: điều tra chọn mẫu, phỏng vấn, thu thập
thông tin, lấy ý kiến chuyên gia, xử lý KQ khảo sát bằng thống kê toán học.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày
trong 3 chương có tên như sau:
 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
 Chƣơng 2: Thực trạng quản lí HĐD-H ở Trường Đại học Điện lực
 Chƣơng 3: Biện pháp quản lí HĐD-H nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo trong trường Đại học Điện lực
Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục.
trị và pháp trị trong nho giáo”, Giáo sư Vũ Khiêu phân tích về ảnh hưởng của
đường lôi pháp trị của triều đại Lê Thánh Tông như sau: “ Có thể nói đó là thời
kỳ kết hợp hài hoà giữa đức trị và pháp trị ở đỉnh cao của văn hoá dân tộc” [20,
tr33]. Như vậy, tư tưởng QL thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn của lịch sử.
Bước vào thế kỷ 21, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, tri thức
được coi là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế, GD và
QLGD là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần cho sự phát triển
của đất nước ta. Thời kỳ gần đây, chúng ta đã có hàng loạt thành tựu khoa học
quản lý nói chung, khoa học QLGD nói riêng. Mặc dù khoa học QLGD ở nước ta
còn non trẻ nhưng phát triển nhanh cả về cơ sở lý luận và thực tiễn. Sự nghiệp
đổi mới GD ở nước ta hiện nay cho thấy công tác nghiên cứu về QLGD có vai trò 5
rất quan trọng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề QLGD,
nâng cao chất lượng GD&ĐT của Việt nam ở nhiều góc độ khác nhau và những
biện pháp quản lý HĐD-H nhằm nâng cao chất đào tạo của các tác giả, nhà
nghiên cứu và các nhà QLGD như: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Phạm Minh
Hạc, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang,
Trong kỷ yếu Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ III,
(6/2002) và trong Chiến lược phát triển GD 2001 – 2010, Bộ GD&ĐT, cũng đề cập
đến tính cấp thiết của vấn đề QL và đổi mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc
ĐH.
Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII “Về định
hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
và nhiệm vụ đến năm 2000” đã chỉ rõ: "GD&ĐT hiện nay phải có một bước chuyển
nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo,
nhất là chất lượng D-H trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa GD&ĐT đáp
ứng yêu cầu mới của đất nước. Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp XD và phát triển đất nước" [21].

đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình
thành các “lý thuyết quản lý”. Từ khi F.W. Taylor phát biểu các nguyên lý về quản
lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Bất cứ một tổ
chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của
một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ
sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người QL và đối tượng bị
QL.
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận,
góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Có thể điểm qua một số
lý thuyết đó như sau:
- K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những
khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn
một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [31, tr.480].
- F.W. Taylor (1856 – 1915) là người được mệnh danh là cha đẻ của lý
luận quản lý khoa học, đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc
dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”. “Quản lý là
nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng
phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr.1].
- Henry Fayol (1841 – 1925) thì lại coi quản lý là một loại công việc đặc
thù, khác với các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc
lập, phát huy tác dụng riêng có của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không
thể nào thay thế được. Ông nói về nội hàm của khái niệm quản lý như sau: “Quản
lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [22, tr.59]. Năm
yếu tố trên đã tồn tại như những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến
trong quản lý hiện đại.
- H.Koontz (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức).

nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách
thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức quản lý là khoa
học” [19, tr.33].
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL nhằm làm cho hệ
thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới”.
Quản lý = Quản + Lý
Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định .
- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển.
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển
mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển 8
- Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là một hoạt động có chủ đích,
được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để
thực hiện những mục tiêu xác định của công tác quản lý” [26, tr.1].
- Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn
Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa rõ hơn cả về quản lý đó là: “Quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và
kiểm tra” [2, tr.1]. Hoạt động quản lý là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ
thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ
chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [15, tr1].
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận quản lý, song các định nghĩa đều đề cập
tới bản chất chung của hoạt động quản lý đó là:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể QL.
- Quản lý xét cho đến cùng, bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật khách quan.
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Là một khoa học vì các

chức và đặc thù hoạt động của mình thì những quy luật trong QL mới phát huy
tác dụng. Tác động QL thường mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác
nhau. Vì vậy, trong QL không thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà
phải linh hoạt, mềm dẻo.
Quá trình tác động này được thể hiện qua hình sau:

Hình 1.1: Quan hệ chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu QL
1.2.1.2. Các chức năng cơ bản của quản lý
Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý. Quản lý có bốn chức năng cơ bản, có quan hệ
chặt chẽ với nhau là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
 Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng QL.
Kế hoạch hoá bao gồm việc XD mục tiêu, chương trình hành động và quyết định
cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống
QL để đạt được mục tiêu. Kế hoach hoá giúp nhà QL có cái nhìn tổng thể, toàn
diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận. Việc lập kế hoạch
cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả
hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi. Ngoài ra,
nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra. Không có kế hoạch sẽ không thể
xác định tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu và không biết khi nào đạt
được mục tiêu. Cũng do đó kiểm tra trở thành vô căn cứ. Nhà quản lý thông qua
kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh những quyết định trước đó,
bảo đảm hướng vào mục tiêu đã định.
CÔNG CỤ

QL thống nhất với một trình tự nhất định. Ngoài bốn chức năng trên trong hệ thống
QL, yếu tố thông tin luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện
phương tiện không thể thiếu được đối với việc thực hiện các chức năng QL. Hệ
thống thông tin QL có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu thiếu thông tin hoặc thông
tin sai lệch thì công tác QL sẽ gặp khó khăn, dễ dẫn đến những quyết định sai.
Mối quan hệ giữa các chức năng QL với hệ thống thông tin QL được thể hiện qua
hình sau:

Hình 1.2: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình QL
1.2.1.3. Các nguyên tắc quản lý
Kiểm tra
Tổ chức
Lãnh đạo/Chỉ đạo
Lập kế hoạch
Thông tin 11
Các nguyên tắc QL là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn, hành vi mà
các cơ quan QL, các nhà lãnh đạo phải tuân thủ trong quá trình QL theo đúng kế
hoạch của mục tiêu QL đã định.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có
sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của

lực lượng lao động hiện có của tổ chức có thể tạo ra được một thành quả lớn nhất, 12
chất lượng tốt nhất và hiệu quả cao nhất. Hiệu quả không những là nguyên tắc
quản lý mà còn là thước đo trình độ tổ chức, lãnh đạo và tài năng quản lý.
- Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu:
Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải có khả năng phân tích chính
xác các tình thế của hệ thống trong quá trình xây dựng và phát triển để tìm ra các
khâu, các việc chủ yếu, những vấn đề then chốt có ý nghĩa quan trọng trong sự
thành bại của tổ chức. Nắm vững nguyên tắc này người quản lý khắc phục được
tình trạng dàn trải chung chung, tập trung vào những vấn đề then chốt quyết định
trong việc quản lý tổ chức thực hiện mục tiêu.
- Nguyên tắc kiên định mục tiêu
Đây là nguyên tắc đòi hỏi người quản lý các tổ chức phải có ý chí kiên định
thực hiện cho được mục tiêu đã xác định. Bởi vì một tổ chức dù mục tiêu đúng đắn
nhưng không phải lúc nào cũng được xã hội chấp nhận, đồng tình ủng hộ. Nếu
người quản lý thiếu tự tin, không quyết tâm thì mục tiêu không thể đạt được.
1.2.1.4. Biện pháp quản lý
Biện pháp, theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) do Nguyễn Như Ý chủ biên,
được xác định là: “Cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể,
một công việc cụ thể nào đó” 51, tr.161.
Trong quản lý, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để
giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt
mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan và nâng
cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra. Biện pháp quản lý đòi
hỏi sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Như vậy, biện pháp quản lý là việc người quản lý sử dụng các chức năng
quản lý, công cụ quản lý một cách phù hợp cho từng tình huống vào đối tượng mà

mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định. Biện pháp này dựa vào quyền uy tổ chức của
người quản lý để bắt buộc người dưới quyền phải thực hiện mệnh lệnh quản lý,
đó là biện pháp mang tính mệnh lệnh và tính kế hoạch, là quan hệ chỉ huy - thực
hiện. Đây là biện pháp cưỡng bức đơn phương, một bên ra quyết định, một bên
phục tùng, mức độ cưỡng bức tuỳ theo từng trường hợp, tính chất của bộ máy.
Biện pháp này thể hiện sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự, kỷ cương của bộ
máy, giúp cho các quyết định quản lý được thi hành nhanh chóng và chính xác,
tăng hiệu quả hoạt động quản lý.
- Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL
thông qua các lợi ích kinh tế tạo động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động.
Hay nói cách khác, biện pháp kinh tế là sự tác động một cách gián tiếp lên đối
tượng QL không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng cơ chế kích thích, con
đường tự nguyện, tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để người thực
hiện tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ, cho đối tượng lựa
chọn theo khả năng của họ hoặc tạo ra những lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể
phù hợp với lợi ích chung.
Sử dụng biện pháp này có ưu điểm không hạn chế về quan hệ tổ chức và
không phụ thuộc về mặt hành chính, đồng thời biện pháp này tăng cường được
tính chủ động cho cá nhân và tập thể, giảm bớt được sự kiểm tra đôn đốc vụn vặt
chi li của nhà quản lý. 14
- Biện pháp tâm lý – giáo dục: (còn được gọi là biện pháp tuyên truyền giáo dục)
là cách tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua đời sống tâm lý cá
nhân, các hệ tư tưởng, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ. Biện pháp này dựa trên
cơ sở các chức năng quy luật tâm lý của con người và dựa vào uy tín của người quản lý
để lôi cuốn các thành viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc. Biện pháp
tâm lý – giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý vì đối tượng quản lý trước hết là con
người. Do vậy khi tác động tới con người trước hết phải sử dụng các tác động tâm lý

phổ biến trong sự phát triển lý thuyết là áp dụng các mô hình quản lý công việc 15
và bối cảnh GD. Vào giữa những năm 1990, QLGD từ chỗ là một lĩnh vực
nghiên cứu mới mẻ đã trở thành một lĩnh vực có lý luận riêng và có dữ liệu thực
nghiệm với độ tin cậy được kiểm tra trong GD. Cũng giống như khái niệm quản
lý, khái niệm QLGD có nhiều cách hiểu và được nhiều tác giả định nghĩa khác
nhau.
Có khái niệm như sau: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV và SV, đến những lực
lượng GD trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt
những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy
mạnh mẽ công tác GD thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội.
Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy
và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc
khác, giữa GV với SV, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt
động giảng dạy và học tập, giữa GV – SV và CSVC phục vụ cho GD.
Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, GD
không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là GD cho mọi người, cho nên QLGD được
hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Theo lý luận GD hiện đại, QLGD được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các
chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt
động giáo dục 3, tr.17. Quá trình của hệ quản lý này dựa trên cơ sở của việc ra
những quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt và việc xử lý thông tin về
các hoạt động GD một cách kịp thời.
Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên xô trước đây): “QLGD là
tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý
ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD (từ bộ đến trường) nhằm

hiểu theo nghĩa rộng nhất. Còn chỉ nói đến hoạt động GD trong ngành giáo dục
đào tạo thì lúc đó QLGD sẽ được hiểu là quản lý một số cơ sở GD&ĐT (là quản lý
nhà trường) và quản lý một số cơ sở GD&ĐT ở một bộ phận hành chính nào đó
(huyện, tỉnh, toàn quốc) ta gọi là quản lý một hệ thống GD. Nghĩa là khái niệm
QLGD được hiểu theo nghĩa hẹp hơn. Nhưng rõ ràng là, dù được hiểu theo nghĩa
rộng hay nghĩa hẹp thì mục đích cuối cùng của QLGD vẫn là nâng cao chất lượng
GD.
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận:
QLGD là những tác động có hệ thống, có khoa học, có ý thức và có mục
đích của chủ thể QL lên đối tượng QL là quá trình D-H và GD diễn ra ở các cơ sở
GD.
QLGD được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục đó có
thể là một trường học, một trung tâm khoa học kỹ thuật, hướng nghiệp, dạy nghề,
một tập hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư.
QL một cách có khoa học (là việc tối ưu) trong đó chủ thể QL phải nắm
được các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng QL.
Trong lịch sử phát triển của khoa học QL thì QLGD ra đời sau khoa học QL kinh tế.
 Đối tượng của quản lý GD&ĐT
Đối tượng của quản lý quá trình GD&ĐT là quá trình GD&ĐT trong nhà
trường, các hoạt động của GV, SV, các hoạt động sư phạm trong quá trình thực
hiện kế hoạch, nội dung chương trình nhằm đạt được mục tiêu GD&ĐT đã định.
Theo nghĩa hẹp, quá trình D-H là một bộ phận quan trọng của quá trình GD&ĐT, 17
là bộ phận cấu thành trong toàn bộ hoạt động của nhà trường, vì vậy quản lý quá
trình GD&ĐT là quản lý toàn bộ các hoạt động sư phạm trong nhà trường.
Đối tượng quản lý quá trình GD&ĐT gồm 04 thành tố: Tư tưởng (các quan
điểm, chủ trương, chính sách, chế độ, …), con người (cán bộ công nhân viên,
GV, SV), quá trình thực hiện và các hoạt động liên quan đến việc thực hiện chức


18
Đảng và Nhà nước ta đã định hướng chủ trương, chính sách và biện pháp
về công tác QLGD trong “Chiến lược phát triển GD 2001-2010”, chúng ta phải
tập trung vào các nhiệm vụ sau:
“Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng GD theo hướng tiếp cận với
trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, phục vụ thiết
thực cho sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước, của từng vùng, từng địa
phương; hướng tới một xã hội học tập. Phấn đấu đưa nền GD nước ta thoát khỏi
tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực”.
Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng trong
nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, CBQL, kinh doanh giỏi và công
nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của
nền kinh tế, đẩy mạnh tiến bộ thực hiện phổ cập GD.
Đổi mới mục tiêu, nội dung, PP, chương trình GD các cấp, bậc học và trình
độ đào tạo; phát triển đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu, vừa tăng quy mô vừa nâng
cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới PPD-H; đổi mới QLGD cơ sở pháp lý và
phát triển nội lực, phát triển GD. [25, tr22, 23]
 Phương pháp quản lý quá trình GD&ĐT
- Phương pháp quản lý tổ chức - hành chính: Là cách tác động trực tiếp về
mặt tổ chức hành chính, nhằm đảm bảo cho quá trình dạy học được đồng bộ liên
tục nhịp nhàng. Tác động về mặt tổ chức hành chính được thể hiện qua các mệnh
lệnh của Hiệu trưởng và những quy định bắt buộc mọi cá nhân phải thực hiện.
Phương pháp tổ chức - hành chính tác động tới cơ cấu tổ chức của hệ thống, tạo
mối liên hệ chặt chẽ, làm cho hoạt động quản lý của Nhà trường có hiệu quả cao.
- Phương pháp kinh tế trong quản lý: Là cách tác động gián tiếp lên đối
tượng quản lý thông qua việc tác động vào lợi ích kinh tế của đối tượng, làm cho
đối tượng quản lý hoạt động có hiệu quả. Trong QLGD, phương pháp kinh tế
được thể hiện bằng các chế độ, chính sách mang tính chất kích thích, khuyến
khích bằng vật chất. Trong Nhà trường, người quản lý sử dụng PP này phù hợp

- Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thống GD.
- Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hội của mình
với sự tham gia tích cực và trách nhiệm của những thực thể hữu quan ngoài nhà trường.
- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của một GV.
- Hình thành các cơ cấu cần thiết để các thực thể hữu quan ngoài nhà trường có
thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường. Đồng thời tăng cường
trách nhiệm và quyền hành của GV tham gia quá trình ra quyết định quản lý trong nhà
trường.
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết
khác để GV thực sự tham gia công việc quản lý nhà trường. Hình thành cơ chế
phân cấp quản lý tài chính, nhân sự, thực hiện cải tiến thích hợp nội dung và PP
giảng dạy phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường.
- XD môi trường sư phạm trong nhà trường và XD nhà trường thành một
hệ thống mở nhằm công khai hoá các hoạt động của nhà trường.
- Hình thành thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà trường dựa
trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình sư phạm và quá trình QL nhà trường.
Nhà trường là nơi trực tiếp, cửa mở đầu tiên tạo nên chất lượng GD, do vậy
khi nói đến QLGD là nghĩ đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống nhà trường. 20
Mục tiêu của quản lý nhà trường:
- Đảm bảo kế hoạch GD kế tiếp, tuyển dụng SV vào đúng số lượng theo kế
hoạch GD hàng năm, đúng chất lượng theo quy định của bộ GD&ĐT. Duy trì sĩ
số SV và hạn chế tối đa số SV lưu ban, bỏ học.
- Đảm bảo chất lượng, hiệu quả, quá trình D-H và GD, tiến hành các hoạt động
GD theo đúng chương trình, đảm bảo đạt yêu cầu của các môn học và hoạt động GD.
- XD đội ngũ GV của nhà trường đồng bộ về cơ bản, có đủ loại hình và
chất lượng ngày càng cao. XD đội ngũ nhân viên phục vụ có nghiệp vụ tương
ứng thích hợp, am hiểu về đặc thù của GD trong công việc của mình.

P
N
M
M: Mục tiêu dạy học
N: Nội dung dạy học
P: Phương pháp dạy học
TH: Thầy giáo
TR: Trò (SV)
ĐK: Điều kiện (CSVC - Trang
thiết bị)
QL: Quản lý

Trích đoạn Nhúm biện phỏp QL nõng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả CSVC, trang thiết bị, phương tiện – kỹ thuật phục vụ HĐD-H Kiểm chứng tớnh cần thiết và tớnh khả thi của cỏc biện phỏp Sự tương quan giữa tớnh cần thiết và tớnh khả thi của cỏc biện phỏp KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status