Định hướng ra đề làm văn theo hướng mở ở cấp trung học phổ thông - Pdf 25


i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGÔ VĂN NGHĨA

ĐỊNH HƯỚNG RA ĐỀ LÀM VĂN THEO HƯỚNG MỞ Ở CẤP
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
ĐỊNH HƯỚNG RA ĐỀ LÀM VĂN THEO HƯỚNG MỞ Ở CẤP
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
M· sè: 60 14 10
Người h-íng dÉn khoa học: TS. NguyÔn Träng Hoµn

Hµ Néi - 2012

iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CĐ : Cao đẳng
ĐH : Đại học
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
HS : Học sinh
KT : Kiểm tra
KN : Kĩ năng
KTĐG : Kiểm tra đánh giá
KHXH-NV : Khoa học xã hội- nhân văn
NXB : Nhà xuất bản
PT : Phổ thông
SGK : Sách giáo khoa
TL : Tự luận
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
TNKQ : Trắc nghiệm khách quan
TNTHPT : Tốt nghiệp trung học phổ thông

v
DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG 1.1. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA Error! Bookmark not
defined.
BẢNG 1.2. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA Error! Bookmark not
defined.
BẢNG 1.3 THỐNG KÊ LOẠI ĐỀ, PHẠM VI, HÌNH THỨC NGHỊ LUẬN
Error! Bookmark not defined.



2
sự nghiệp giáo dục. Giáo dục và Đào tạo cũng nằm trong sự đổi mới sâu sắc
ấy. Đặc biệt từ năm học 2012-2013 nền giáo dục Việt Nam thực hiện đổi mới
sâu sắc toàn diện thực hiện chiến lược giáo dục giai đoạn 2011-2020.
Môn Ngữ văn trong nhà trường cũng không thể không có những thay
đổi về nội dung và phương pháp học tập để đáp ứng được những yêu cầu về
sự đổi mới, một trong những biểu hiện của sự đổi mới ấy là thực hiện giảm
tải, đưa văn học gắn liền với thực tiễn đời sống và mang tính nhật dụng cao.
Trong sự đổi mới dạy và học bộ môn Ngữ văn việc đổi mới phương pháp
giảng dạy, đổi mới ra đề kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt có ý nghĩa quyết
định bởi kiểm tra như thế nào sẽ yêu cầu dạy và học như thế ấy.
Chúng ta đã biết môn Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân
văn, môn học mang tính nghệ thuật cao, môn học này có nhiệm vụ cung
cấp cho học sinh những kiến thức về Tiếng Việt, Văn học và Làm văn, hình
thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt, năng lực tiếp
nhận tác phẩm văn học, khả năng ứng dụng sử dụng ngôn ngữ vào việc tạo
lập văn bản. Qua môn học này học sinh còn có thêm những hiểu biết về văn
hoá xã hội, lịch sử, đời sống nội tâm của con người và bản thân, nắm bắt
những tinh hoa văn hoá của nhân loại. Nói như Mác xim Gorki: “Văn học
là nhân học”.
Môn Ngữ văn là môn học công cụ. Vì vậy môn học này sẽ trang bị cho
học sinh những kiến thức công cụ để học sinh học tập và sinh hoạt, có nhận
thức đúng đắn về xã hội và con người từ đó bồi dưỡng tư tưởng tình cảm,
nhân cách cho chính bản thân người học.
Môn Ngữ văn là môn học công cụ đồng thời là môn học thuộc lĩnh vực
giáo dục thẩm mĩ từ đó bồi dưỡng năng lực tưởng tượng sáng tạo làm giàu
xúc cảm thẩm mĩ, định hướng thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh nhằm hoàn thiện
và phát triển nhân cách cho chính bản thân mình và từ đó lan toả ảnh hưởng
tới những người xung quanh và cộng đồng xã hội.

thắp lửa được cho học sinh, chưa thổi bùng lên ngọn lửa yêu văn chương

4
trong mỗi học sinh, chương trình còn nặng nề thiếu tính thực tiễn, chậm đổi
mới phương pháp giảng dạy, dạy theo lối mòn nhắc đi nhắc lại những điều đã
cũ, ra đề kiểm tra, đánh giá theo lối mòn cũ, lối học còn nặng tính hàn lâm, ít
tính thực tiễn dẫn đến học sinh không còn hứng thú với môn học này. Trước
thực trạng ấy, vấn đề đổi mới chương trình sách giáo khoa, phương pháp
giảng dạy và học tập đã được đặt ra. Chúng ta đã thực hiện sự đổi mới ấy và ít
nhiều đã đem lại hiệu quả tích cực cho môn Ngữ văn và môn học này phần
nào đã lấy lại được vị trí của mình như nó vốn có và phải có.
Hiện nay, chương trình, sách giáo khoa ở bậc phổ thông đã được thay
đổi và có những tiến bộ đáng kể: hiện đại nhưng vẫn đảm bảo được tính
truyền thống tính dân tộc, tích hợp liên môn, văn chương đã gần gũi với cuộc
sống hơn Sự đổi mới này được đội ngũ các nhà giáo, học sinh và dư luận xã
hội quan tâm và đánh giá cao. Sách giáo khoa không chỉ đổi mới về hình thức
mà đặc biệt đã có sự đổi mới tích cực về nội dung. Hiện nay, các tác giả biên
soạn đã mạnh dạn đưa vào trong chương trình những tác phẩm văn học hiện
đại kể cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài (bên cạnh những tác phẩm
văn học trung đại, những tác phẩm đã trở thành kinh điển), đưa những văn
bản nhật dụng vào trong chương trình gần gũi với đời sống và thực tế và đòi
hỏi của xã hội.
Sự đổi mới là tích cực phù hợp với xu thế xã hội và sự phát triển của
đất nước cũng như sự hội nhập quốc tế trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Tuy nhiên muốn việc đổi mới việc dạy và học văn trong nhà trường phổ thông
hiện nay đạt được kết quả và có sự chuyển biến tích cực thì phải đổi mới đồng
bộ từ chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy đến việc ra đề
kiểm tra, đánh giá. Trong kiểm tra, đánh giá thì việc ra đề kiểm tra như thế
nào là điều quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định mặc dù kiểm tra, đánh
giá là khâu cuối cùng của việc dạy học nhưng nó chính là khâu kiểm nghiệm

chí còn phản ánh là “đề thi lạ” hay đề thi có vấn đề.

6
Việc ra đề thi, đề kiểm tra luôn có vai trò quan trọng trong việc đánh
giá xếp loại phân loại học sinh. Ở các nước có nền giáo dục phát triển như
Mĩ, Pháp, Trung Quốc , họ luôn có ý thức ra đề ở bộ môn Ngữ văn theo
hướng mở bởi đề mở là dạng đề mà học sinh sẽ có cơ hội bày tỏ quan điểm
thái độ của mình trước một vấn đề nào đó và từ đó người dạy có điều kiện
đánh giá năng lực tư duy, khả năng thẩm mĩ kĩ năng vận dụng kiến thức kĩ
năng của học sinh, thái độ tâm tư tình cảm của học sinh một cách khách quan
chính xác.
Hiện nay, xu thế ra đề văn theo hướng mở đang được sự quan tâm của
dư luận xã hội, của các nhà trường, của người dạy và người học, các cấp quản
lí giáo dục Vì những lẽ trên chúng tôi chọn đề tài: “Định hướng ra đề làm
văn theo hướng mở ở cấp trung học phổ thông” từ đó muốn góp một tiếng
nói đề bàn sâu hơn, rộng hơn về vấn đề ra đề văn theo hướng mở, ít nhiều góp
tiếng nói vào việc đổi mới phương pháp dạy và học bộ môn Ngữ văn trong
nhà trường phổ thông hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu
Nhìn lại việc ra đề kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn những gần đây và
chương trình sách giáo khoa thì việc ra đề văn theo hướng mở không phải là
hoàn toàn mới mẻ. Điểm lại chương trình sách giáo khoa Ngữ văn từ cấp
THCS cho đến cấp THPT đặc biệt là từ năm 2006 đến nay thì chúng ta có thể
nhận ra những đổi mới sự đổi mới. Điều đó được thể hiện trong sách giáo
khoa:
SGK Ngữ văn 6 tập 1, trang 47 nêu một vấn đề: “Ngày sinh nhật em”;
“Kỉ niệm ngày thơ ấu”;
SGK Ngữ văn 7 tập 1 trang 88 cũng giới thiệu một số đề: “Loài cây em
yêu”; “Vui buồn tuổi thơ”;
SGK Ngữ văn lớp 8 tập 1 trang 37 dạng đề mở tiếp tục xuất hiện: “Tôi

về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống con người”. Cũng trong cuốn sách
này ở trang 66 nêu: “Chia chiếc bánh của mình cho ai”; “Anh /chị suy nghĩ

8
gì về hiện tượng “nghiện” ka- ra -ô -kê và in-tơ - net trong nhiều bạn trẻ
hiện nay”?
Chỉ cần điểm qua như vậy, chúng ta cũng thấy gợi ý về câu hỏi mở,
dạng câu hỏi mở đã xuất hiện nhiều trong các cuốn SGK ở nhà trường phổ
thông. Những câu hỏi mở này có câu hỏi mở về nội dung có câu hỏi mở về
hình thức. Có cả câu hỏi mở về nghị luận xã hội, cả câu hỏi mở về nghị luận
văn học. Vậy là tính bao quát của dạng đề mở là khá rộng. Ai đó vẫn băn
khoăn rằng câu hỏi mở chỉ có thể hỏi ở dạng câu hỏi nghị luận xã hội là một
cái nhìn phiến diện thiếu đi cơ sở khoa học của nó.
Những năm gần đây việc dạy và học môn Ngữ văn ở trường phổ thông
cùng với việc ra đề kiểm tra, đánh giá trong đó có việc ra đề thì sự xuất hiện
đề mở không chỉ có tính chất cá lẻ ở một vài trường vài tỉnh vài địa phương
nữa mà nó đã được xuất hiện ở các kì thi mang tính Quốc gia như kì thi
TNTHPT, kì thi tuyển sinh vào các trường Đại học và Cao đẳng trong cả
nước. Điều đó được thể hiện khá rõ, nhất là từ năm học 2008 trở lại đây.
Ở đây chúng ta điểm lại một số dạng đề mở từ năm 2009 đến nay.
Trước hết ở kỳ thi TNTHPT: về mặt cấu trúc đề gồm có hai phần: phần
chung và phần riêng, ở phần riêng học sinh được lựa chọn một trong hai ý và
ở phần chung từ năm 2009 đến nay ở câu số 2 đề thi đã được ra theo hướng
mở. Cụ thể như sau:
Năm 2009: Anh /chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) phát
biểu về tác dụng của của việc đọc sách.
Năm 2010: Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ
của anh/ chị về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.
Năm 2011: Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai chỉ có chính bạn
mới lựa chọn được con đường đúng cho mình. Viết một bài văn ngắn (khoảng

Qua khảo sát chương trình sách giáo khoa và các đề thi của cả hai kì thi
TNTHPT và ĐH, CĐ những năm gần đây, chúng tôi cũng thấy rằng việc đổi

10
mới đề thi theo hướng mở đã có những mạnh dạn và tích cực tuy nhiên mới
chỉ dừng lại ở các dạng đề nghị luận xã hội còn nghị luận văn học thì chưa
nhiều. Ở nghị luận văn học vẫn phổ biến chỉ là những câu hỏi tái hiện và cảm
thụ. Trước thực tế trên tôi nhận thấy việc đổi mới ra đề thi môn Ngữ văn theo
hướng mở là cần thiết, bởi nhiều lí do:
Thứ nhất, học sinh ở cấp THPT đều đã ở độ tuổi từ 15-18 đây là độ tuổi
phát triển mạnh cả về tâm- sinh lí. Đây là giai đoạn học sinh có nhu cầu có
khám phá tìm tòi hiểu biết chính mình và xung quanh và đặt biệt luôn có
mong muốn được khẳng định mình, việc ra đề theo hướng mở nhất là những đề
hay sẽ giúp cho học sinh có cơ hội tự bộc lộ mình nói ra những điều các em suy
nghĩ các em muốn. Chúng ta đều hiểu rằng ngôn ngữ là công cụ để tư duy, từ tư
duy sẽ dẫn đến hành động và đây là điều kiện thuận lợi để giáo viên nắm bắt uốn
nắn kịp thời tư tưởng tình cảm thái độ hành vi của học sinh điều chỉnh cách dạy và
cách học cho phù hợp. Hơn nữa, văn học bồi dưỡng cho học sinh năng lực cảm
thụ cái đẹp, thị hiếu thẩm mĩ vì vậy trước một tác phẩm văn học cụ thể nhất là các
tác phẩm văn học có giá trị thì học sinh qua tác phẩm ngoài việc nhận thức được
thế giới xung quanh, hiểu được giá trị giáo dục, giá trị thẩm mĩ thì còn có cả giá
trị dự báo.
Thứ hai, chương trình SGK sau những lần biên soạn thay đổi đã có
hướng đổi mới tích cực, đưa những vấn đề có tính thời đại những văn bản có
tính nhật dụng vào trong chương trình, kể cả một số gợi ý về đề tập làm văn.
Điều này đã được thể hiện ở sách Ngữ văn từ lớp 6 cho đến lớp 12 của NXB
Giáo dục và thống nhất giảng dạy trong toàn quốc. Xu thế hội nhập đòi hỏi
người chủ tương lai của đất nước phải có quan niệm thái độ rõ ràng trước một
vấn đề nào đó đồng thời phải có năng lực tư duy sáng tạo độc lập. Chúng ta
đều biết ngôn ngữ là công cụ của tư duy, ra đề theo hướng mở học sinh sẽ có

ngày 8/5/2009 về kết luận hội thảo đổi mới phương pháp dạy học.
Gần đây, dạng đề mở đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các tiết kiểm
tra môn Ngữ văn ở các bậc học nhất là cấp THCS và THPT đặc biệt đề thi mở

12
đã góp mặt trong những kì thi quan trọng như: thi tuyển sinh lớp 10, thi tốt
nghiệp THPT, thi tuyển sinh vào Cao đẳng, Đại học.
Ví dụ như trong kì thi THPT năm 2009 vừa qua, câu 2 phần chung cho
tất cả các thí sinh được mở ra theo hướng mở: Anh (chị) hãy viết một bài văn
ngắn (không quá 400 từ) phát biểu ý kiến về tác dụng của việc đọc sách.
Ở các kì thi tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng năm 2009
phần chung của đề thi ở cả hai khối C, D của môn Ngữ Văn ở câu 2 thuộc
dạng đề mở.
Từ một câu trong lá thư của một danh nhân gửi cho thầy giáo của con
trai “xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian
lận trong khi thi”;
Đề thi khối C yêu cầu thí sinh viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ)
trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và cuộc sống.
Gần đây một số tác giả đã cho xuất bản những tuyển tập đề văn nghị
luận xã hội có hướng ra mở như cuốn:
199 bài văn nghị luận xã hội ngắn của Lê Anh Xuân, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Tuyển tập đề bài và bài văn nghị luận (2 tập) của Nguyễn Văn Tùng và
Thân Phương Thu - NXB Giáo dục Việt Nam.
Cuộc thi viết về đề văn theo hướng mở trên Văn học và tuổi trẻ do tạp
chí văn học và tuổi trẻ phát động đã thu hút đông đảo các nhà giáo đang trực
tiếp giảng dạy tham gia…
Trên thế giới, việc xuất hiện các đề thi đề kiểm tra theo hướng mở
không còn xa lạ. Ví dụ như các đề thi của các nước có nền giáo dục phát triển
như Anh, Pháp, Mĩ, Trung Quốc. Ở đây chỉ xin lấy một ví dụ đề thi trên toàn

- Phương pháp thực nghiệm khoa học.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Đề xuất các hướng ra đề môn Ngữ văn theo hướng mở
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm 14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1.Thế nào là một đề làm văn
Trước khi đi vào vấn đề thế nào là một đề văn, chúng ta cần phải xác
định rõ dạy học là cả một quá trình gồm có nhiều khâu nhiều công đoạn trong
đó có khâu kiểm tra, đánh giá. Kiểm tra đánh giá được coi là khâu cuối cùng
nhưng là khâu quan trọng nhất. Kiểm tra, đánh giá là đánh giá kết quả học tập
của học sinh và quá trình giảng dạy của các thầy cô, việc thực hiện chương
trình mục tiêu giáo dục của các nhà trường cũng như chương trình sách giáo
khoa đồng thời nhằm theo dõi quá trình học tập của học sinh. Từ đó đưa ra
các giải pháp kịp thời nhằm điều chỉnh phương pháp giảng dạy của thầy,
phương pháp cách thức con đường học tập của trò giúp học sinh tiến bộ và đạt
được mục tiêu giáo dục và cũng là những căn cứ để biên soạn điều chỉnh
chương trình sách giáo khoa cho phù hợp thực tế và xu thế chung của thời đại.
Theo từ điển Tiếng Việt, kiểm tra được hiểu là: “xem xét thực chất thực tế”
ví dụ như: kiểm tra chất lượng; kiểm tra sức khoẻ; kiểm tra sổ sách. [16, tr. 843]
Theo cách hiểu thông thường, với nghĩa chung nhất, đánh giá có nghĩa
là định giá trị cho một đối tượng nào đó theo một tiêu chuẩn nhất định với
một mức độ và phạm vi nhất định. Có hoạt động tất yếu phải có đánh giá để

Dưới đây là một số khái niệm thường gặp trong các tài liệu về đánh giá kết
quả học tập của học sinh:
“Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí kịp thời có hệ thống thông tin
về hiện trạng khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục
căn cứ vào mục tiêu giáo dục làm cho những chủ trương biện pháp và hành
động giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả khắc phục thiếu sót”.[19, tr. 3]
“Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lí
thông tin về trình độ, khả năng đạt được mục tiêu học tập mà học sinh cùng
với tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những
quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường để học sinh ngày một học tập
tiến bộ hơn”. [19, tr. 3]

16
“Đánh giá có nghĩa là thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp có
giá trị và đáng tin cậy và xem xét mức độ phù hợp thông tin này và một tập
hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong
quá trình thu thập thông tin nhằm ra một quyết định”. [19, tr. 3]
“Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định phán
đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối
chiếu với mục tiêu tiêu chuẩm đã đề nhằm đề xuất những quyết định thích
hợp để cải thiện thực trạng điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác giáo dục”. [19, tr. 3]
Như vậy, có thể có những cách định nghĩa khác nhau về kiểm tra, đánh
giá nhưng bản chất của nó có những điểm chung. Đến đây chúng ta có thể rút
ra một kết luận là: đánh giá gồm 3 khâu chính là thu thập, xử lí thông tin và ra
quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục
tiêu phải theo đuổi và kết thúc khi đưa ra quyết định liên quan đến mục tiêu
đó đồng thời lại mở đầu cho một chu trình tiếp theo. Khâu kiểm, tra đánh giá
là khâu cuối cùng trong dạy và học. Đây là khâu then chốt, ở khâu này việc ra
đề kiểm tra, đánh giá như thế nào cho phù hợp với mục tiêu chương trình là

Ra đề là một hoạt động chuyên môn thường nhật, thường niên của
người giáo viên Ngữ văn, việc ra đề làm văn sẽ thể hiện được năng lực
chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp, sự đam mê tìm tòi sáng tạo của
người giáo viên.
Trong quá trình đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục THCS,
THPT nói riêng, việc đổi mới được tiến hành từ từ mục tiêu, nội dung,
phương pháp nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội đang phát triển,
xu thế hội nhập, giao lưu rộng rãi.
Việc đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng và xem như một
khâu đột phá quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục. Đổi mới phương
pháp dạy học cần hình thức kiểm tra tương xứng với nó để tạo ra động lực
thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy
học. Để đáp ứng những mục tiêu mới của giáo dục, việc kiểm tra, đánh giá
cũng phải đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh

18
nhằm phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng
linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ
những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề được đặt ra trong
cuộc sống phức tạp biến động nhanh chóng hiện nay.
Kiểm tra, đánh giá có vai trò ý nghĩa đối với cả học sinh và giáo viên vì
qua KTĐG sẽ giúp cho giáo viên giảng dạy, các nhà quản lý giáo dục và bản
thân học sinh có những thông tin xác thực để có tác động kịp thời nhằm điều
chỉnh và bổ sung phương pháp trong quá trình dạy và học điều chỉnh kĩ năng
con đường cách thức tiếp nhận. Không đổi mới kiểm tra đánh giá thì tất cả trở
nên vô nghĩa.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một mắt xích quan
trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo. Kiểm tra đánh giá có hệ thống và
thường xuyên sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết giúp học sinh tự
điều chỉnh hoạt động học, giúp giáo viên có thông tin phản hồi để điều chỉnh

mt cỏch chớnh xỏc cỏc mc nhn thc v vn dng ca hc sinh.
Th hai: i mi ỏnh giỏ kt qu hc tp mụn Ng vn ca hc sinh
c cn c trờn nhng i mi v ni dung chng trỡnh v sỏch giỏo khoa
Ng vn THCS, THPT. i vi b mụn Ng vn trng THPT ỏnh giỏ
hc sinh 3 cp : Nhn bit, Thụng hiu, Vn dng (trong vn dng thỡ cú
vn dng thp v vn dng cao). C th nh sau:
+ Theo quan im tớch hp, bao gm 3 xu th: tớch hp ni dung kin
thc, k nng ca ba mch kin thc Vn hc, Ting Vit, Lm vn; tớch hp
dy kin thc Ng vn vi rốn luyn cỏc k nng nghe, núi, c, vit; tớch hp
kin thc liờn mụn vo tng bi hc, cú liờn thụng v lp li cỏc bi hc khỏc
giỏo dc ý thc cụng dõn, giỏo dc thỏi k nng sng giỏo dc mụi trng.
+ Chỳ trng hỡnh thnh, phỏt trin v hon thin c 4 k nng nghe,
núi, c, vit c bit l qua 4 k nng ny hỡnh thnh nng lc cm th,
nng lc bc l, biu t t tng, tỡnh cm bng ngụn ng núi, vit Ting
Vit cho hc sinh; quan tõm hn n vic hỡnh thnh nng lc c vn (c
hiu vn bn) v nng lc lm vn (to lp, sn sinh vn bn).

20
+ Chú trọng giảm kiến thức lý thuyết hàn lâm, tăng những kiến thức, kỹ
năng có ý nghĩa và ích dụng cho cuộc sống, dành thời gian cho những vấn đề
có tính địa phương, có tính toàn cầu, tăng thời lượng cho việc thực hành nói
và viết Tiếng Việt gắn với những vấn đề của thực tiễn đời sống, phù hợp với
nhu cầu và khả năng tiếp nhận của HS.
+ Theo tinh thần phát triển các năng lực thiết yếu ở người học như
năng lực tự học, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực tự khẳng
định một chiến lược sư phạm chú trọng tới việc tích cực hóa hoạt động học
tập của người học và xuất phát từ quyền lợi và mong muốn của người học sau
khi kết thúc chương trình học tập môn Ngữ văn.
Thứ ba: Mở rộng phạm vi kiến thức kỹ năng được kiểm tra qua mỗi lần
đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh. Trong đánh giá, coi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status