1
Định hướng ra đề làm văn theo hướng mở ở
cấp trung học phổ thông
Orientation of giving literature exam questions with the open trend at High School”
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 92 tr. + Ngô Văn Nghĩa Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học( bộ môn Ngữ văn); Mã số:601410
Cán bộ hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài định hướng ra đề làm văn theo hướng
mở ở cấp trung học phổ thông. Đề xuất các hướng ra đề môn ngữ văn theo hướng mở: đề truyền
thống và những thành tựu và hạn chế của đề truyền thống; quan niệm về đề văn theo hướng mở;
các hướng ra đề theo hướng mở. Thiết kế thực nghiệm.
Keywords: Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn; Trường trung học phổ thông
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin và sự hội nhập. Con người
muốn tồn tại muốn hội nhập, muốn tự khẳng định mình thì nhất định phải là những thành viên năng động,
tích cực, sáng tạo, có óc quan sát nhạy bén tinh tế, trí tuệ linh hoạt, có thái độ lựa chọn thông tin và hiểu
thông tin một cách sáng tạo nhanh nhạy.
nhiều vấn đề cần trao đổi như: tình trạng học sinh không còn hứng thú với môn học, chán học, học mang
tính đối phó, học chỉ nhằm mục đích thi cử sau đó quên ngay. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng theo
chúng tôi có một nguyên nhân cơ bản là người thầy giáo dạy văn chưa thắp lửa được cho học sinh, chưa
thổi bùng lên ngọn lửa yêu văn chương trong mỗi học sinh, chương trình còn nặng nề thiếu tính thực tiễn,
chậm đổi mới phương pháp giảng dạy, dạy theo lối mòn nhắc đi nhắc lại những điều đã cũ. Ra đề kiểm
tra, đánh giá theo lối mòn cũ, lối học còn nặng tính hàn lâm, ít tính thực tiễn dẫn đến học sinh không còn
hứng thú với môn học này.
Trước thực trạng ấy, vấn đề đổi mới chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy và học
tập đã được đặt ra. Chúng ta đã thực hiện sự đổi mới ấy và ít nhiều đã đem lại hiệu quả tích cực cho môn
Ngữ văn. Từ đó môn học này ít nhiều đã lấy lại được vị trí của mình như nó vốn có và phải có.
Trong văn chương, kiến thức và kĩ năng không phải là mục đích cuối cùng mà chỉ là phương tiện
giúp chủ nhân của nó biết cảm nhận cuộc sống ở một mức độ cao hơn và lựa chọn cách sống tốt hơn. Nói
cách khác, văn chương là phương tiện để học sinh phát huy tiềm năng chứ không phải tái hiện những gì
được trang bị.
3
Trong quá trình nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông, việc đổi mới chương trình và
sách giáo khoa cũng như cách dạy và ra đề thi là vấn đề then chốt cần được tiến hành đồng bộ giữa mục tiêu,
nội dung, phương pháp và kiểm tra đánh giá để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.
Việc ra đề thi, đề kiểm tra luôn có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đánh giá xếp loại phân
loại học sinh. Ở các nước có nền giáo dục phát triển như Mĩ, Pháp, Trung Quốc họ luôn có ý thức ra đề ở
bộ môn Ngữ văn theo hướng mở. Đề mở là dạng đề mà học sinh có cơ hội bày tỏ quan điểm thái độ của
mình trước một vấn đề nào đó, từ đó người dạy có điều kiện đánh giá năng lực tư duy, khả năng thẩm mĩ
kĩ năng vận dụng kiến thức kĩ năng của học sinh, thái độ tâm tư tình cảm của học sinh một cách khách
quan chính xác.
Hiện nay, xu thế ra đề văn theo hướng mở đang được sự quan tâm của dư luận xã hội, của các nhà
trường, của người dạy và người học, các cấp quản lí giáo dục Vì những lẽ trên chúng tôi chọn đề
tài:“Định hướng ra đề làm văn theo hướng mở ở cấp trung học phổ thông”. Qua đó muốn góp một
tiếng nói bàn sâu hơn, rộng hơn về vấn đề ra đề văn theo hướng mở, ít nhiều góp tiếng nói vào việc đổi
mới phương pháp dạy và học bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay.
ràng trước một vấn đề nào đó đồng thời phải có năng lực tư duy sáng tạo, độc lập. Chúng ta đều biết ngôn
ngữ là công cụ của tư duy, ra đề theo hướng mở học sinh sẽ có cơ hội bộc lộ tư duy khả năng hiểu biết
vốn sống và kỹ năng sống của mình. Tất cả những điều ấy phải được thể hiện thông qua ngôn ngữ.
Việc ra đề kiểm tra phục vụ cho kiểm tra định kì, kiểm tra cuối năm, thi hết cấp, thi tuyển sinh là
một khâu rất quan trọng nó là kết quả của cả một quá trình dạy và học đồng thời cũng thể hiện được năng
lực chuyên môn của người giáo viên và là kết quả của cả quá trình đổi mới. Nhưng như đã nói ở trên vấn
đề ra đề văn theo hướng mở ở nước ta hiện nay còn nhiều điều cần phải trao đổi.
Gần đây khi ý thức được vai trò và tác dụng của việc ra đề mở, cơ quan chủ quản là Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã có những văn bản chỉ thị định hướng về việc ra đề theo hướng mở. Cụ thể là chỉ thị năm
học đối với cấp học từ năm học 2006 đến nay.
“Triển khai dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tập
trung chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy các môn Ngữ Văn, Lịch sử, Địa lý, Đạo đức, Giáo dục
công dân, gắn kết chặt chẽ với việc mỗi trường nhận chăm sóc và phát huy giá trị một di tích văn hoá, lịch
sử, cách mạng. Tiến hành kiểm tra, đánh giá theo hướng khuyến khích tinh thần tự học và ý thức sáng tạo
của học sinh, giảm yêu cầu học thuộc lòng, nhớ nhiều sự kiện, không làm bài rập khuôn theo bài mẫu; tổ
chức dạy học các môn Mỹ thuật, Âm nhạc, Thủ công, Kỹ thuật, Thể dục, Giáo dục công dân, Công nghệ
và các hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp với thực tế địa phương và điều kiện nhà trường; coi trọng việc
thực hành vận dụng, tổ chức hình thức dạy học linh hoạt theo hướng tích hợp; đánh giá sâu môn Thủ
công, Kỹ thuật (ở cấp tiểu học) và môn Giáo dục công dân (ở cấp trung học)”(Chỉ thị về nhiệm vụ trọng
tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp năm học
2008 – 2009).
Điều đó cũng được thể hiện rất rõ ở thông báo số 287/TB – BGDĐT ngày 05/05/2009 của Bộ
Giáo dục và đào tạo, thông báo số 300/TB - BGDĐT ngày 8/5/2009 về kết luận hội thảo đổi mới phương
pháp dạy học.
Đặc biệt gần đây một số tác giả đã cho xuất bản những tuyển tập đề văn nghị luận xã hội có hướng
ra mở như cuốn:
199 bài văn nghị luận xã hội ngắn của Lê Anh Xuân, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
5
Tuyển tập đề bài và bài văn nghị luận (2 tập) của Nguyễn Văn Tùng và Thân Phương Thu - NXB
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1.Thế nào là một đề làm văn
Trước khi đi vào vấn đề thế nào là một đề văn, chúng ta cần phải xác định rõ dạy học là cả một
quá trình gồm có nhiều khâu nhiều công đoạn trong đó có khâu kiểm tra, đánh giá.
Theo từ điển Tiếng Việt, kiểm tra được hiểu là: “xem xét thực chất thực tế” ví dụ như: kiểm tra
chất lượng; kiểm tra sức khoẻ; kiểm tra sổ sách. [16, tr. 843]
Một số nhà nghiên cứu cho rằng:
“Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động của giáo viên sử dụng để thu tập thông tin về
biểu hiện kiến thức kĩ năng và thái độ học tập của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ liệu làm cơ sở
cho việc đánh giá”. [19, tr.2]
“Kiểm tra được hiểu theo nghĩa rộng như là theo dõi quá trình học tập và cũng có thể được hiểu
theo nghĩa hẹp là công cụ kiểm tra hoặc một bài kiểm tra trong các kì thi.” [19, tr. 2]
“Việc kiểm tra cung cấp dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá”. [19, tr. 2]
Như vậy việc kiểm tra, đánh giá sẽ cung cấp những dữ liệu, thông số những thông tin cần thiết
làm cơ sở để thấy được kết quả hoạt động học của học sinh.
Trong giáo dục, từ xưa đến nay, người ta vẫn dùng thi cử và điểm của bài thi theo một thang đánh
giá nào đó để đánh giá kết quả học tập của người học (đỗ hay trượt, giỏi hay yếu, đạt hay không đạt).
Cách đánh giá như vậy thực ra mới dừng ở mức đo đạc và xếp loại kết quả học tập. Vì thi và đánh giá là
hai cấp độ khác nhau. Thi là một hình thức cụ thể của đánh giá dùng để phân loại hoặc tuyển chọn người
học theo những yêu cầu khác nhau nói chung. Thi chỉ kiểm tra được một phạm vi kiến thức nhất định của
người học vì thi thường diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định và còn tuỳ thuộc vào mục đích của
từng kỳ thi. Đánh giá là xem xét lại quá trình dạy và học quá trình nhận thức của học sinh. Tuy nhiên, có
4. Đảm bảo tính công khai và tính phát triển
5. Đảm bảo tính công bằng
Ra đề là một hoạt động chuyên môn thường nhật, thường niên của người giáo viên Ngữ văn, việc
ra đề làm văn sẽ thể hiện được năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp, sự đam mê tìm tòi
sáng tạo của người giáo viên.
Đổi mới phương pháp dạy học cần hình thức kiểm tra tương xứng với nó để tạo ra động lực thúc
đẩy đổi mới phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Để đáp ứng những mục tiêu mới của giáo
dục, việc kiểm tra, đánh giá cũng phải đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm
phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học
vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề được đặt ra
trong cuộc sống phức tạp biến động nhanh chóng hiện nay. Không đổi mới kiểm tra đánh giá thì tất cả trở nên
vô nghĩa.
Do yêu cầu đặc trưng bộ môn nên kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn nhằm mục đích đánh giá
học sinh một cách toàn diện và rèn luyện cho học sinh về hai kỹ năng rất cơ bản là năng lực đọc hiểu văn
bản và tạo lập văn bản, tạo điều kiện cho HS phát triển toàn diện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và xúc
cảm thẩm mĩ. Những năng lực này đã được cụ thể hóa trong chuẩn chương trình môn học với những yêu
cầu cần đạt trên cả ba mặt kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Trong đánh giá môn Ngữ văn, cần lưu ý một số điểm sau:
8
Thứ nhất: Việc đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn trước hết cần phải bám sát mục tiêu môn
học, chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đánh giá.
Thứ hai: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh được căn cứ trên những đổi
mới về nội dung chương trình và sách giáo khoa. Đối với bộ môn Ngữ văn ở trường THPT đánh giá học
sinh ở 3 cấp độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng (trong vận dụng thì có vận dụng thấp và vận dụng cao).
Thứ ba: Mở rộng phạm vi kiến thức kỹ năng được kiểm tra qua mỗi lần đánh giá kết quả học tập
môn Ngữ văn của học sinh.
Thứ tư: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh luôn dựa trên quan điểm tích
cực hoá hoạt động học tập của học sinh (với ý nghĩa học sinh tự giác, chủ động, linh hoạt trong lĩnh hội
và vận dụng kiến thức kỹ năng).
trình sau:
Bƣớc 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra
Bƣớc 2. Xác định hình thức đề kiểm tra
Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)
Bƣớc 4. Biên soạn câu hỏi theo ma trận
Bƣớc 5. Xây dựng hƣớng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
Bƣớc 6. Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra
1.1.3.2. Một số đề thể hiện tính vừa sức
Đề bài số 1
Câu 1. (2,0 điểm)
Văn bản là gì? Nêu đặc điểm của văn bản?
Câu 2. (3.0 điểm)
Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn khoảng 300 từ bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề sử dụng
điện thoại di động của học sinh trung học phổ thông trong trường học hiện nay.
Câu 3. (5,0 điểm)
Anh (chị) hãy phân tích quá trình biến hoá của nhân vật Tấm trong truyện cổ tích“ Tấm Cám”. (SGK
Ngữ Văn 10- Tập 1, chương trình Cơ bản).
Đề bài số 2
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Trong truyện ngắn “Người trong bao”(A. P. Sê- khốp), nhân vật Bê- li- cốp có một khát vọng mãnh
liệt và một nỗi lo sợ thường trực. Đó là gì?
b. Những chi tiết trên góp phần bộc lộ chủ đề nào của tác phẩm?
Câu 2. (3,0 điểm)
Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn khoảng 400 từ bày tỏ suy nghĩ của mình về câu nói: “Trong
mắt người khác, bạn có thể thất bại vài ba lần, nhưng với bản thân, bạn không được phép trở nên mềm
yếu vì đó là sự thất bại thảm hại nhất”.
Câu 3. (5,0 điểm)
Anh (chị ) hãy trình bày những cảm nhận của mình về đoạn thơ sau đây trích trong bài thơ “Vội
vàng” của thi sĩ Xuân Diệu. Từ đó, hãy chỉ ra những đóng góp mới mẻ của Xuân Diệu với thơ ca đương
thời?
giúp đỡ học sinh phát huy điểm mạnh khắc phục điểm yếu trong học tập; các cấp quản lí cũng điều chỉnh
các hoạt động dạy và học kiểm tra đánh giá một cách kịp thời. Quán triệt đặc trưng môn học để tăng
cường hiệu quả giảng dạy học các môn KHXH - NV. Khắc phục tình trạng thiên về kiểm tra ghi nhớ tăng
cường ra đề “mở” nhằm kiểm tra mức độ thông hiểu và vận dụng tổng hợp tri thức để giải quyết vấn đề,
rèn luyện các kĩ năng và học sinh được tự do biểu đạt chính kiến khi trình bày, hiểu biết và tôn trọng các
giá trị lịch sử văn hoá của quê hương đất nước.
Đối với môn Ngữ văn: coi trọng kiểm tra, đánh giá kĩ năng biểu đạt trình bày một chủ đề bằng lời
nói chữ viết, bồi dưỡng tình cảm hứng thú học tập, thái độ trân trọng tiếng mẹ đẻ, yêu di sản văn hoá của
nhân loại và truyền thống văn hoá dân tộc, biết coi đó là vốn văn hoá tối cần thiết đối với mỗi con người.
11
“Đối với một số môn khoa học xã hội và nhân văn như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công
dân, cần coi trọng đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng hạn chế yêu cầu học sinh chỉ ghi nhớ máy móc,
không nắm vững kiến thức, kỹ năng môn học. Trong quá trình dạy học, cần từng bước đổi mới kiểm tra
đánh giá bằng cách nêu vấn đề mở, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng và biểu
đạt chính kiến của bản thân”. (Số: 4718/BGDĐT-GDTrH ngày 11 tháng 8 năm 2010 về việc hướng dẫn
thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011).
Những năm qua, việc ra đề kiểm tra, đánh giá, thi cử ở bộ môn Ngữ văn thường tập trung ở một số
loại câu hỏi, phạm vi nội dung nghị luận, hình thức thao tác nghị luận chính (xem bảng thống kê dưới
đây) (Đây được xem là dạng đề truyền thống).
BẢNG 1.1.THỐNG KÊ LOẠI ĐỀ, PHẠM VI, HÌNH THỨC NGHỊ LUẬN
Loại đề
Phạm vi nội dung nghị luận
Hình thức thao tác
nghị luận chính
Hiểu và cảm tác
phẩm văn học
Bình giảng một bài thơ, một đoạn
12
xã hội
Một vấn đề chính trị
Một vấn đề văn hoá tư tưởng
Một vấn đề kinh tế
Một vấn đề lịch sử
Một vấn đề địa lí môi trường
bình luận
CHƢƠNG 2
ĐỀ XUẤT CÁC HƢỚNG RA ĐỀ THEO HƢỚNG MỞ
2.1. Đề truyền thống - những thành tựu và hạn chế của đề truyền thống
Dạng đề truyền thống là dạng đề thường kèm theo những câu mệnh lệnh, gợi dẫn về thao tác lập
luận như: “hãy chứng minh, hãy phân tích, hãy giải thích, hãy bình luận”, hoặc phương thức biểu đạt
như: “hãy phát biểu cảm nghĩ, hãy kể”…
Phải nói rằng cách ra đề kiểm tra đánh giá này có những ưu điểm như kiểm tra được khả năng
nắm bắt các tác phẩm văn chương đã học. Học sinh tái hiện lại những kiến thức và kĩ năng mà thầy cô đã
truyền thụ cho các em, giúp học sinh ghi nhớ một cách chính xác khoa học các tác phẩm văn học, các vấn
đề về Tiếng Việt đã được học đã học, ghi nhớ những điều thầy cô đã dạy và kiến thức trong bài kiểm tra
sẽ mang tính hàn lâm bác học. Về cơ bản cách ra đề như thế này sẽ tránh được những sai sót như lệch
chuẩn, sai lệch về mặt kiến thức. Học sinh có điều kiện để củng cố kiến thức đã được học và thực hiện
đúng phương châm học gì thi nấy.
Tuy nhiên, việc ra đề kiểm tra như vậy cũng sẽ dẫn đến cách ra đề của chúng ta còn khá khô cứng,
những vấn đề văn học như tác phẩm, tác giả, nhân vật văn học, đoạn trích văn học cũng như yêu cầu đặt
ra trong đề thường sẽ trùng nhau bởi số lượng các tác phẩm trong chương trình là có hạn phạm vi kiến
thức bị đóng khung bởi một số văn bản nhất định. Kỹ năng vận dụng của học sinh sẽ bị hạn chế. Các bài
kiểm tra chỉ tập trung kiểm tra được những điều ghi nhớ học thuộc (nội dung học tập từ SGK, từ GV) hơn
là vận dụng sáng tạo những hiểu biết này vào các tình huống thực tiễn (các kĩ năng thực hành vận dụng).
Việc cho điểm của GV không thống nhất và có sự khác biệt lớn giữa các GV khi đánh giá HS do chưa
độ lập trường trước các vấn đề xã hội, các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm là hết sức cần thiết vậy ra đề
làm văn thuộc lĩnh vực xã hội sẽ phát huy được những yêu cầu và đòi hỏi bức thiết này.
Bởi vậy, CT và SGK Ngữ văn mới có nhiều thay đổi nhằm điều chỉnh lại thực tiễn dạy học. Đó là
cân đối lại tỉ lệ giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội. SGK Ngữ văn THPT hiện nay, tình trạng mất
cân bằng giữa nghị luận xã hội và nghị luận văn học đã được khắc phục.
Ngoài xu hướng chú trọng nghị luận xã hội, cân đối nghị luận xã hội và nghị luận văn học, hiện
nay, ra đề theo hình thức trắc nghiệm khách quan cũng rất được ủng hộ. Kiểm tra trắc nghiệm khách quan
giúp kiểm tra được nhiều đơn vị kiến thức hơn và cũng đảm bảo tính khách quan, chính xác hơn. Tuy
nhiên, trắc nghiệm khách quan chỉ có thể áp dụng ở mức nhất định.
Có thể khái quát những xu hướng ra đề theo hướng mở như sau:
Ra đề theo hướng mở: Chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận hoặc chỉ nêu đề tài.
Tùy thuộc vào nội dung vấn đề, đề tài được nêu ra trong đề bài mà người viết lựa chọn và quyết
định sử dụng các thao tác nghị luận phù hợp. Đề mở yêu cầu cao ở HS sự sáng tạo, linh hoạt, những suy
nghĩ cảm thụ độc lập, khó có thể lệ thuộc vào các tài liệu tham khảo. Đề mở không những kích thích khả
năng tư duy sáng tạo cho HS mà còn có thể phân loại được HS.
14
Đề văn mở nhưng xuất phát từ văn học để mở cho HS một vấn đề nào đó về cuộc sống cũng như
văn chương.
Sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo tính đại trà
Đề thi văn vẫn là đề thi của một môn học nên dù mở vẫn phải là đề của bộ môn Văn trong đó HS
phải dùng kiến thức văn học để luận giải các vấn đề của đề bài. Những đề mở mà vẫn xuất phát từ kiến
thức văn học đã được tích lũy của HS mở ra không gian rộng lớn cho các em suy nghĩ, tưởng tượng sáng
tạo, kích thích được trí thông minh văn học và hứng thú làm bài của các em.
Đề mở là dạng đề chỉ nêu ra yêu cầu về nội dung vấn đề cần nghị luận mà không yêu cầu bắt buộc
về thao tác nghị luận cũng như phạm vi nội dung của vấn đề nghị luận. Dạng đề này đòi hỏi người viết
phải chủ động trong nhận thức nội dung đề cũng như nhận thức về thao tác nghị luận sẽ sử dụng khi làm
bài. Dạng đề mở sẽ cơ bản đáp ứng được những yêu cầu trong việc kiểm tra, đánh giá môn học này, nói
một cách khác là có thể hiện thực hoá được những yêu cầu trong việc kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn.
Trước hết là quan niệm về đề thi môn Văn?
không gian rộng lớn cho các em suy nghĩ, tưởng tượng sáng tạo kích thích được trí thông minh, khả năng
văn học và hứng thú làm bài của các em. Đó là những đề hay.
2.3. Các hƣớng ra đề theo hƣớng mở
Khi nói đến đề kiểm tra ra theo hướng mở thì sẽ có rất nhiều cách hiểu khác nhau về việc ra đề
theo hướng mở từ nội dung kiến, vùng kiến thức đến hình thức kết cấu bố cục
Dưới đây chúng tôi xin trao đổi một số cách mở cơ bản
- Mở nội dung:
Mở về mặt nội dung.
Ở đây chúng ta cũng cần chia ra mở về mặt nội dung ở dạng câu hỏi nghị luận văn học và dạng
câu hỏi về nghi luận xã hội.
Câu hỏi ở dạng văn học là câu hỏi xuất phát từ những vấn đề thuộc văn học như tác giả văn học, trào
lưu, xu hướng văn học, tác phẩm văn học, lí luận văn học. Câu hỏi ở dạng văn học vừa tồn tại ở dạng tái hiện
và dạng nghị luận. Làm thế nào để ra đề kiểm tra có tính mở như đã nói ở trên là vấn đề cần trao đổi.
“Mở” về câu hỏi nghị luận văn học, trên cơ sở những tác phẩm văn học đã được học trong
chương trình chúng ta cũng có thể có nhiều cách hỏi mở khác nhau.
“Mở” ở câu hỏi nghị luận văn học theo chúng tôi nên có sự so sánh đối chiếu giữa các tác phẩm văn
giữa các nhân vật hoặc có cách hỏi là yêu thích hoặc tâm đắc nhất đoạn trích nào, tác phẩm nào, nhân vật
nào, hay tác giả tác phẩm văn học nào có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến bản thân, ra câu hỏi để học sinh tự trình
bày những suy nghĩ phát biểu kiến giải riêng về vấn đề nghị luận, câu hỏi chỉ nêu vân đề nghị luận mà không đòi
hỏi thao tác nghị luận cụ thể.
Đối với câu hỏi về nghị luận xã hội “mở” về mặt nội dung có thuận lợi hơn. Bởi vì nghị luận xã
hội là dạng nghị luận bàn bạc trao đổi thảo luận bày tỏ chính kiến của người viết về một vấn đề xã hội nào
đó trên một lập trường quan điểm nhất định.
- Mở về yêu cầu của đề:
Đây chính là mở về hình thức của đề, yêu cầu về thao tác nghị luận. Nó chính là câu lệnh của đề bài.
Từ trước cho đến nay câu lệnh vẫn được hiểu là thao tác nghị luận chính mà học sinh phải vận dụng. Trước
đây thường hay có các lệnh như: “hãy phân tích, bình giảng, chứng minh, giải thích”. Những câu lệnh này
được xem là những câu lệnh có tính chất đóng.
16
3.3. Kết quả thực nghiệm và đánh giá
Chúng tôi ra đề cho kiểm traở cả 3 khối lớp, cả ban Cơ bản và Nâng cao. Chúng tôi áp dụng và
thực nghiệm tại hai trường THPT của Quận Long Biên: THPT Lý Thường Kiệt và THPT Vạn Xuân. Tiến
hành thực nghiệm chúng tôi đều tiến hành đối chứng nghĩa là cùng song song kiểm tra. Sau đó, chúng tôi
17
tiến hành chấm, pphân loại và đánh giái rút ra nhận xét. Vì thế kết quả thực nghiệm là khách quan và
đáng tin cậy.
Kết quả được thể hiện qua bảng so sánh đối chiếu giữa lớp được thực nghiệm và lớp không thực
nghiệm (lớp không thực nghiệm chúng tôi vẫn ra đề theo lối truyền thống, lớp thực nghiệm chúng tôi ra
đề theo hướng mở)
Kết quả như sau:
Không thực nghiệm
Thực nghiệm
Lớp
Sĩ
số
Số bài
giống
nhau
Số bài
khá
giỏi
Số
bài
TB
Số
bài
yếu
90
10
25
49
16
11
90
4
40
42
8
10
90
13
27
44
19
10
90
3
42
37
11
Nhìn vào bảng kết quả thực nghiệm chúng ta có thể dễ dàng nhận ra với việc áp dụng việc ra đề
kiểm tra theo hướng mở ở cấp THPT hiện nay là cần thiết. Vì việc ra đề kiểm tra như vậy đã thức dậy ở
học sinh lòng đam mê học văn khơi dậy ở các em ngọn lửa văn chương. Hơn nữa kết quả thực nghiệm
cho thấy học sinh khá giỏi ở bộ môn Ngữ văn tăng lên đáng kể, số lượng bài giống nhau (có thể chép của
nhau, hoặc ở một tài liệu tham khảo nào đó) giảm một cách đáng kể, số lượng bài viết thể hiện được quan
điểm cá nhân, phát huy được khả năng và năng lực tư duy cũng như ngôn ngữ của học sinh được tăng lên.
xây dựng các đề kiểm tra đề thi phù hợp với tiến độ dạy học, đối tượng học sinh và mục đích của mỗi kì
thi, kiểm tra. Bộ, Sở phải đi đầu trong việc đổi mới ra đề thi kiểm tra định kì kiểm tra định kỳ, kiểm tra
học kỳ trong các kỳ thi Olympic, thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh, thi chọn học sinh giỏi… Có hình thức
khen thưởng kịp thời thích đáng cho những tập thể và cá nhân tích cực trong việc ra đề kiểm tra theo
hướng mở. Có những tiêu chí cụ thể, xác định môn Ngữ văn là môn học cơ bản trọng tâm có định hướng
để làm sao môn Ngữ văn được trở về đúng vị trí như đã xác định. Đưa môn Ngữ văn vào chương trình thi
tuyển sinh của tất cả các cấp học, bậc học, môn Ngữ văn được xem như là môn điều kiện, bắt buộc.
Bộ mạnh dạn lên kế hoạch thay đổi cho việc kiểm tra thi từ thi TNTHPT đến tuyển sinh vào các
trường Cao đẳng và Đại học: kiểm tra kiến thức bên cạnh kiến thức Văn học, cần tăng thêm kiểm tra khả
năng sử dụng tiếng Việt. Về kiến thức văn học, bên cạnh văn học hiện đại, cần kiểm tra cả văn học cổ
điển để cho học sinh khỏi mất gốc. Hơn nữa để cho học sinh hiểu rằng văn học cổ của ông cha ta sáng tạo
ra là đáng học không kém gì văn học hiện đại là cội nguồn để văn học hiện đại phát triển. Phần nghị luận
văn học ra bài, đoạn trích, vấn đề mới mà học sinh chưa được học để kiểm tra khả năng vận dụng kiến
thức, phương pháp phân tích tác phẩm, khả năng cảm thụ và diễn đạt kĩ năng đọc hiểu vận dụng của học
sinh. Nghị luận xã hội kiểm tra thái độ, năng lực, sự hiểu biết của học sinh về các vấn đề đạo đức nhân
sinh, những vấn đề nổi cộm, vấn đề toàn nhân loại quan tâm.
19
Người thầy chỉ dạy học sinh phương pháp học để học vận dụng vào tác phẩm mới tương tự, những
vấn đề của đời sống xã hội chứ không dạy học sinh học vẹt, học máy móc.
Để đưa ra được những ý kiến của mình chúng tôi đã dựa trên nhiều cơ sở đáng tin cậy của các
quan điểm lý luận nhưng dù sao cũng chỉ là những nghiên cứu bước đầu, chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót.
Kính mong các thầy cô, bạn bè đóng góp cho chúng tôi những ý kiến quý báu.
References.
1. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương. Nxb Đại học Quốc Gia
Hà Nội.
2. Phạm Văn Đồng (1986), Mấy vấn đề văn học giáo dục. Nxb Sự thật, Hà Nội.
3. Nguyễn Trọng Hoàn (2006), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương.