SKKN một số phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn phần truyện ngắn hiện thực phê phán việt nam ở cấp trung học phổ thông - Pdf 32

Sở giáo dục và đào tạo lào cai
Trờng thpt số 1 bát xát

Đề TàI SáNG KIếN

Một số phơng pháp hớng dẫn học sinh đọc hiu phần truyện ngắn hiện
thực phê phán Việt Nam ở cấp Trung học Phổ thông

Họ và tên: Đỗ Thị Ngọc Quyên
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Văn - Sử - GDCD
Đơn vị công tác: Trờng THPT số 1 Bát Xát

Năm học 2013 - 2014


MỤC LỤC
TRANG
PHẦN 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN.....................................1
PHẦN 2: MÔ TẢ SÁNG KIẾN.....................................................................3
1. Mở đầu ........................................................................................................3
1.1. Lí do chọn đề tài.......................................................................................3
1.1.1. Cơ sở lí luận............................................................................................3
1.1.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................3
1.2. Mục đích nghiên cứu................................................................................4
1.3. Bản chất cần được làm sáng tỏ của vấn đề nghiên cứu........................4
1.4. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................2
1.5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................2
1.6. Kế hoạch nghiên cứu................................................................................2
2. Nội dung........................................................................................................4
2.1. Cơ sở lí luận..............................................................................................4

góc
độ
tình
huống
truyện
........................................................................................................................
10
2.3.2.1.
Tác
phẩm
“Chí
Phèo”
của
Nam
Cao
........................................................................................................................
10
2.3.2.2. Tác phẩm “ Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan
........................................................................................................................
10
1


2.3.2.3. Đoạn trích “ Hạnh phúc của một tang gia” – trích tiểu thuyết “ Số
đỏ”
của

Trọng
Phụng
........................................................................................................................

chức
thực
hiện

đánh
giá
kết
quả
........................................................................................................................
16
2.5.1.
Tổ
chức
thực
hiện
........................................................................................................................
16
2.5.2.
Kết
quả
đạt
được
........................................................................................................................
26
PHẦN
3:
KẾT
LUẬN

KIẾN

HS: học sinh

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.1.1. Cơ sở lí luận
Đầu thế kỉ xx, văn học Việt Nam phân hóa thành hai xu hướng văn học
chính: văn học lãng mạn, văn học hiện thực. Văn học hiện thực phê phán là một
trong những trào lưu văn học nổi bật, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, có đóng
3


góp quan trọng trong việc phản ánh tư duy, phương thức sáng tạo của người nghệ
sĩ theo khuynh hướng hiện thực, làm nên sự phong phú cho nền văn học dân tộc.
Đồng thời văn học HTPP cũng được coi là một trong những nghệ thuật tiền cách
mạng, bám sát đời sống, có giá trị thức tỉnh nhân dân. Và thúc đẩy cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc bằng những điển hình văn học bất hủ. Nó đã khơi dậy được
lòng bất bình, bồi dưỡng ý thức tự bứt phá, vươn lên đón chào cuộc sống mới đẹp
tươi. Do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu cho sáng kiến kinh nghiệm, để giúp các
em học sinh tiếp cận tác phẩm văn học HTPP một cách hiệu quả nhất. Từ đó,
hiểu sâu sắc về vai trò, những đóng góp, thành tựu của dòng văn học này đối với
văn chương nước nhà.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Môn văn là môn học giữ vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông.
Do đặc thù riêng của bộ môn, những tác phẩm văn học HTPP khi đưa vào giang
dạy trong nhà trường đều thuộc ở thế kỉ trước, có khoảng cách khá xa với thực
tại. Để hiểu được những tư duy, quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của nhà văn, của
thời đại là khó khăn lớn đối với người học.
Mặt khác, dung lượng kiến thức lớn, lại bị hạn chế trong thời gian 1 đến 2
tiết học, khiến nhiều giáo viên khi giảng dạy chưa đạt tới đích những giá trị của
tác phẩm văn học HTPP.

1.4. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu nội dung giảng dạy truyện ngắn HTPP, người viết chỉ giới hạn chọn
phần truyện ngắn HTPP Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 11-cơ bản-Học kì
I làm đối tượng nghiên cứu chính. Cụ thể là tác phẩm: “Chí Phèo” (Nam Cao);
đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” –Trích tiểu thuyết “Số đỏ” (Vũ Trọng
Phụng); “Tinh thần thể dục” (Nguyễn Công Hoan).
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp chia nhỏ các chi tiết, hình
ảnh, tình tiết để tìm hiểu một cách cụ thể, cặn kẽ. Từ đó, làm rõ bản chất của các
hình ảnh, sự kiện đó.
Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp đặt hai đối tượng trong mối
tương quan với nhau để làm nổi bật sự khác biệt. So sánh giúp ta thấy được nét
độc đáo trong cách sáng tạo tình huống truyện của từng nhà văn.
Phương pháp tổng hợp- khái quát: Sau khi phân tích các hình ảnh, chi tiết,
người viết sẽ tiến hành tổng hợp- khái quát để rút ra ý nghĩa của vấn đề nghiên
cứu.
1.6. Kế hoạch nghiên cứu
Bước 1: Tìm hiểu thực trạng của vấn đề.
Bước 2: Đưa ra các giải pháp để thay đổi thực trạng.
Bước 3: Tiến hành soạn giảng một tác phẩm một tác phẩm truyện ngắn
trong nhà trường có lồng ghép phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn phần
truyện ngắn HTPP.
Bước 4: Đánh giá về hiệu quả của giải pháp.

5


PHẦN 2: NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái niệm

thế xảy ra chuyện, thế là coi như xong một nửa…. Những nhà văn có tài đều là
những người có tài tạo ra những tình thế xảy ra truyện vừa rất cá biệt vừa mang
tính phổ biến hoặc tượng trưng” và “….những người cầm bút có cái biệt tài có
thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó
cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc
sống….. nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần
tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi là khoảnh khắc chứa
đựng cả một đời người, một đời nhân loại” (Nguyễn Minh Châu- Trang giấy
trước đèn, NXB KH XH, 1994,trang 258).
Như vậy, tình huống còn được gọi là tình thế. Nhà vaen Nguyễn Kiên đã
hơn một lần nói về bản chất và vai trò của tình huống: “Theo quan niệm của tôi,
6


mỗi truyện ngắn chỉ tập trung vào một tình thế nảy sinh trong cuộc sống. Nếu
truyện ngắn có đến hơn một tình thế thì truyện ngắn đó lập tức bị phá vỡ”.
Từ một số ý kiến trên, có thể khái quát về tình huống truyện như sau: tình
huống truyện là tình thế xảy ra truyện, là khoảnh khắc mà trong đó sự việc diễn
ra rất đậm đặc, là khoảnh khắc chứa đựng cả đời người. Tình huống truyện còn
được hiểu là mối quan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhân vât khác, giữa
nhân vật với hoàn cảnh và môi trường sống. Qua tình huống, nhà văn bộc lộ tâm
trạng, tính cách, thân phận của nhân vật… Tình huống góp phần thể hiện tư
tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ một cách sâu sắc.
* Phân loại tình huống truyện
Hiện nay, có nhiều cách phân loại tình huống khác nhau. Về cơ bản có 3
loại tình huống như sau:
- Tình huống hành động: là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị
đẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động. Tình
huống này thường hướng tới một kiểu nhân vật: Nhân vật hành động. Tức là loại
nhân vật chủ yếu được hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động của nó, các


- Nhân vật văn học là một hình tượng có tính chất ước lệ, có những dấu
hiệu để nhận biết: tên gọi, dấu hiệu về tiểu sử, sự nghiệp, đặc điểm riêng về ngoại
hình, ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ. Các yếu tố này có thể xuất hiện tập trung hoặc
rải rác tùy thuộc vào mục đích của tác giả. Những điểm đó có thể có quá trình
vận động. Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách nhân vật:
nhân vật chính diện, nhân vật phản diện; nhân vật trung tâm, nhân vật chính,
nhân vật phụ; nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch.
* Nhân vật điển hình
- Trong đời sống xã hội, ta thường gặp những khái niệm điển hình: học
sinh điển hình, một gia đình điển hình cho khu phố về cách giáo dục con cái.
Chúng có nghĩa là những cái bình thường nhất, tiêu biểu nhất, lí tưởng nhất của
một người nào đó, một điều gì hoặc một môi trường nhất định. Song điển hình
nghệ thuật không hoàn toàn giống hệt điển hình xã hội. Về bản chất, điển hình
không phải là cá biệt nhưng lại là cái cá biệt, là một cá tính xác định, độc đáo
riêng biệt khác nhau, có ở nhân vật này mà không có ở nhân vật khác. Đó chính
là “người lạ” theo cách nói của Bê-ê-lin-xki. Có thể hiểu nhân vật điển hình là
nhân vật tính cách đã đạt đến độ sâu sắc, là sự thống nhất cao độ giữa cái riêng
và cái chung, cái cá thể và cái cộng đồng. Nhân vật điển hình được coi là một
quy định nghiêm ngặt của phương pháp sáng tác hiện thực.
- Giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn phát triển nhảy vọt của cái tôi cá nhân. Văn
học phản ánh nhân vật như một tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình tạo
nên nghệ thuật đặc sắc của văn học hiện thực phê phán.
* Nhân vật điển hình trong văn xuôi hiện thực phê phán
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các kiểu nhân vật, sáng kiến dựa
vào thực tiễn văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX và chọn một tiêu chí được coi như
một đóng góp nhỏ của mình. Đó là dựa vào hiện tượng tha hóa của con người,
đem áp dụng vào trong nghiên cứu điển hình văn học, ta sẽ thấy các kiểu nhân
vật đó như sau:
- Kiểu nhân vật lao động bị áp bức, bị dồn vào đường cùng tha hóa, nhưng

Nam Cao đã nói về họ với sự cảm thông sâu sắc và hiểu biết thực sự.
2.2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Việc giảng dạy truyện ngắn HTPP hiện nay
- Một là, tác phẩm truyện ngắn chiếm một số lượng khá lớn trong chương
trình Ngữ văn ở trường phổ thông. Điều này, phản ánh đúng tương quan của
thành tựu truyện ngắn so với những thể loại văn xuôi khác trong đời sống văn
học của chúng ta. Theo phân phối chương trình Ngữ văn lớp 11 (Ban cơ bản),
truyện ngắn HTPP dạy 6 tiết, cụ thể: Tiết 44;45: Hạnh phúc của một tang gia”Vũ Trọng Phụng; Tiết 52,53: Chí Phèo- Nam Cao; Tiết 56,57: Đọc thêm: Cha
con nghĩa nặng, Vi hành, Tinh thần thể dục (trong tiết này chỉ có “Tinh thần thể
dục thuộc truyện ngắn HTPP.
- Hai là, một trong những đặc trưng quan trọng của văn học HTPP là mô tả
cuộc sống bằng hình tượng, xây dựng các điển hình hóa nhân vật vừa mang tính
cụ thể, lại vừa đạt được tính khái quát cao trong việc phản ánh hiện thực của đời
sống xã hội. Bên cạnh đó, truyện ngắn HTPP còn thành công ở việc xây dựng
những tình huống độc đáo. Tuy nhiên việc khai thác, tìm hiểu, khám phá truyện
ngắn HTPP trên thực tế của học sinh chưa được sâu sắc. Bởi vì, thời lượng số tiết
học không nhiều, kiến thức lí luận của các em về trào lưu văn học này cũng còn
hạn chế.
- Ba là, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dẫn của bộ Giáo dục và
Đào tạo đã được triển khai, nhằm tăng cường sự hứng thú, tích cực của học sinh.
Nhưng trên thực tế, việc giảng dạy văn học HTPP vẫn còn những khó khăn chưa
thể khắc phục.
2.2.2. Những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh trong việc
dạy và học môn Ngữ văn
2.2.2.1. Thuận lợi
- Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiến
thức cho nhau. Và thông qua hoạt động này, những học sinh yếu kém được hoạt
động một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên và học sinh khá, giỏi.
- Trong quá trình dạy học, đã kết hợp với các đồ dùng dạy học, khai thác
triệt để các phương tiện dạy học như tranh ảnh, phim, ứng dụng công nghệ thông

truyện
2.3.1.1. Những vấn đề chung khi tiếp cận tình huống truyện
- Khi giảng dạy một tác phẩm truyện ngắn HTPP, sau phần Giới thiệu
chung (giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tác giả; giới thiệu về
hoàn cảnh ra đời của tác phẩm,vị trí của đoạn trích/tác phẩm….), trong phần
Đọc- hiểu văn bản, tôi thường hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tình huống truyện.
Xuất phát từ tình huống truyện, tôi khai thác tác phẩm về các khía cạnh: nhân
vật, kết cấu, nghệ thuật trần thuật,….. Từ đó, tôi hướng dẫn học sinh rút ra được
chủ đề tác phẩm.
2.3.1.2. Xác định tình huống truyện
- Đặt câu hỏi: Sự kiện nào bao trùm và chi phối toàn bộ thiên truyện này?
Hay sự kiện bao trùm nào đã giúp tác giả dựng lên toàn bộ truyện ngắn này?...
- Tổng hợp các tình tiết: Lướt qua những tình tiết chính và xác định một
trong các tình tiết ấy đóng vai trò bao trùm, chi phối quán xuyến toàn truyện, hay
chúng chỉ là những thành tố nối kết với nhau để làm thành một sự kiện lớn hơn,
sự kiện ấy mới trùm lên tất cả?
- Tìm tên gọi để định danh. Đây là khâu khá then chốt, chưa tìm được tên
thích hợp thì xem như tình huống vẫn còn nằm ngoài tầm tay của ta vậy.
2.3.1.3. Phân tích tình huống
cần phân tích trên các bình diện cơ bản sau:
- Diện mạo của tình huống (bình diện không gian).
10


- Diễn biến của tình huống (bình diện thời gian).
- Mối liên kết của tình huống với các khâu khác của tác phẩm (chi phối
đến tổ chức hình thức của văn bản nghệ thuật thuật truyện ngắn).
2.3.1.4. Rút ra ý nghĩa tư tưởng của tình huống
- Về quan niệm: Toát lên quan niệm gì về nhân sinh, thẩm mĩ ?
- Về cảm xúc: Chứa đựng cảm xúc chủ đạo gì ?

- Nỗi thống khổ ghê ghớm của Chí Phèo không phải ở chỗ tất cả cuộc đời
người nông dân cố cùng này chỉ là một số không: không nhà không cửa, không
cha không mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm rùi, cả đời không hề
biết đến một bàn tay chăm sóc của đàn bà nếu không gặp Thị Nở….,mà chính là
ở chỗ Chí đã bị xã hội rạch nát cả bộ mặt người, cướp đi linh hồn người, để bị
loại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp sống tối tăm của thú vật.
- Thông qua tác phẩm, Nam Cao muốn gửi gắm một thông điệp: Hãy cứu
lấy linh hồn của những người nông dân bằng tình yêu thương đồng loại: Giá trị
hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
11


2.3.2.2. Tác phẩm “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan
2.3.2.2.1. Xác định tình huống
- Tình huống của truyện chính là tờ sức của quan tri huyện Lê Thăng, yêu
cầu hương lí xã Ngũ Vọng thực hiện việc đi cổ vũ bóng đá…..Và đó chính là tình
thế xảy ra câu chuyện- tình huống truyện. Từ đây, để thực hiện mệnh lệnh của
quan tri huyện, mà 5 cảnh bi- hài kịch cười ra nước mắt đã diễn ra, tiếng cười
trào phúng cũng vì thế mà trở nên sâu sắc hơn.
2.3.2.2.2. Phân tích tình huống truyện
- Nội dung tờ sức (chỉ thị) mà quan tri huyện yêu cầu hương lí xã Ngũ
Vọng phải thực hiện: Tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, chỉ thị cho các
thầy “phải thông báo cho dân làng biết và phải dẫn đủ một trăm người, đúng 12
giờ trưa đến xem”, ai cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh và phải “vỗ
tay luôn luôn”; “làng Ngũ Vọng lại phải có 5 lá cờ, sẵn sàng từ 10 giờ sáng”….
Nếu không tuân lệnh sẽ bị khiển trách.
- Tờ sức của quan tri huyện thật oái oăm, kì lạ:
+ Ngôn ngữ nửa tây, nửa ta, xen cả tiếng Tàu.
+ Việc đi xem bóng đá, thể dục thể thao vốn là tự nguyện nay trở thành
“ép buộc” quá đáng.

“thể dục thể thao” do thực dân Pháp khởi xướng, cổ động rầm rộ hòng đánh lạc
hướng thanh niên khi đó.
- Một khi người dân còn đói cơm rách áo thì mọi sự cổ động cho phong
trào thể dục thể thao chỉ là trò bịp bợm.
2.3.2.3. Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”- trích tiểu thuyết
“Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
2.3.2.3.1. Xác định tình huống
- Tình huống truyện được gợi lên ngay từ nhan đề chương truyện: “Hạnh
phúc của một tang gia”.
- Nhan đề chương 15 là một nghịch lí đầy ý vị, chua cay. Tang gia là gia
đình có tang, ở đây là đại tang, tất phải đau thương, buồn thảm. Ấy vậy mà lại
hạnh phúc. Cái gia đình tam đại đồng đường này, khi cụ cố Tổ chết đã làm cho lũ
con cháu “sung sướng lắm”. Tình huống xảy ra truyện ở đây chính là mâu thuẫn
giữa việc tang gia theo đạo lí thông thường với tang gia ở gia đình cụ cố Hồngmột tang gia hạnh phúc.
2.3.2.3.2. Phân tích tình huống truyện
- Vũ Trọng Phụng đã xây dựng thành công một tình huống điển hình, để
phơi bày những bộ mặt đồi bại trong cái gia đình trưởng giả này. Đồng thời, vạch
trần những cặn bã, những “quái thai” của xã hội nửa tây, nửa ta buổi ấy.
Cha chết ông chết, bọn con cháu vô tâm cũng sung sướng thỏa thích. Đây là dịp
hiếm có để khoe của, khoe giàu, phô cái sang cho thiên hạ biết.
- Từ tình huống trào phúng được gợi lên ở đầu chương truyện mà bao
nhiêu cảnh bi hài kịch, bao nhiêu cái “rởm đời” của xã hội ấy được phơi bày.
+ Người con trai cả- cụ cố Hồng- hút liền một chập những điếu thuốc
phiện, hả hê lim dim đôi mắt. Bữa nay cha chết, cụ vui vẻ lắm, nhưng thằng bồi
tiêm vẫn còn đếm được 1872 câu gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Trong cái dư
vị êm ái của thuốc phiện, cụ “Nhắm nghiền mắt lại để mơ màng” đến cái giờ phút
hạnh phúc: được mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để
cho thiên hạ phải trầm trồ: “Một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế”,….
Rồi ngạc nhiên chỉ trỏ: “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa….”. Con trai
đã “báo hiếu” cha như vậy! Đó là một nét biếm họa thần tình. Tâm hồn sa đọa,

hay của bọn bù nhìn ban phát cho. Khi tả bộ râu của đám quan khách này, tác giả
Vũ Trọng Phụng đã sáng tạo nên những chi tiết, ngôn từ, giọng điệu trào phúng
chua cay. Một lối nói nhạo, chế giễu thần tình. Đằng sau bộ râu ấy là những mặt
người tha hóa vô luân.
+ Xuân tóc đỏ và ông Phán “mọc sừng” xuất hiện như một cặp bài trùng.
Phán mọc sừng khóc thật to: “Hứt!...Hứt!...Hứt…” để báo hiếu vẫn không quên
giữ chữ “tín” với ân nhân rồi tranh thủ “dúi vào tay” Xuân “một cái giấy bạc 5
đồng gấp tư”. Cuộc mua bán hay trả nghĩa diễn ra song phẳng và kín đáo quá ?
Đúng là hai diễn viên siêu hạng, “đại tài”. Cảnh này là tột đỉnh của sự trào lộng
trong màn hài kịch “đám ma gương mẫu”. Qua đây, sự giả dối, thô bỉ của bọn
thượng lưu, đã lên tới độ vô liêm sỉ. Những con người “chó đểu” trong cái xã hội
“chó đểu” là như thế đó.
2.3.2.3.3. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện
- Tác giả vạch trần bộ mặt của xã hội thượng lưu. Nấp dưới vẻ ngoài sang
trọng, danh giá, nấp dưới những chiêu bài văn minh, tiến bộ, Âu hóa….là những
sự thật nghiệt ngã: sự tàn nhẫn, vô đạo đức, sự để cáng, giả dối, bịp bợm đến
mức vô liêm sỉ.
2.4. Phương pháp tiếp cận truyện ngắn HTPP từ nhân vật điển hình
2.4.1. Xác định nhân vật điển hình
- Nhân vật điển hình là nhân vật tính cách đã đạt đến độ sâu sắc, là sự
thống nhất cao độ giữa cái riêng và cái chung, cái cá thể và cái cộng đồng.
- Đặt câu hỏi: Nhân vật nào là nhân vật trung tâm trong suốt mạch truyện?
Nhân vật ấy có những nét chung, nét khái quát và net điển hình so với các nhân
vật khác cùng loại, cùng giai cấp, cùng số phận….? Nhân vật ấy có vai trò như
thế nào trong việc thể hiện chủ đề của truyện, tư tưởng của nhà văn?
2.4.2. Phân tích nhân vật điển hình
- Phân tích tính chung, tính khái quát của nhân vật: đại diện cho một loại
người, một lực lượng xã hội, có khi là một giai cấp, một thời đại nhất định.

14

phải cầm dao để sống, để buộc Chí phải rơi từng giọt máu, bán lần nhân phẩm để
mưu sinh, để đè bẹp cái khát khao lương thiện bằng những chuỗi dài say rượu
triền miên.
+ Cuộc đời , số phận bi thảm của Chí Phèo mang tính biểu trưng cho một
quy luật tất yếu của xã hội đó: Một khi còn tồn tại những thế lực thống trị tàn
bạo, độc ác thì con đường bị bần cùng hóa, lưu manh hóa vẫn chưa chấm dứt, bất
công giai cấp vẫn còn. Đây là tính khái quát mang ý nghĩa xã hội rộng lớn của
hiện tượng Chí Phèo.
+ Hành động vác dao đâm chết Bá Kiến của Chí Phèo cũng mang tính biểu
trưng cho mâu thuẫn giữa người nông dân và giai cấp thống trị. Trong mâu thuẫn
đó, người nông dân luôn âm ỉ, nung nấu một mối thù phản kháng; khi mâu thuẫn
xã hội lên đến đỉnh điểm thì đấu tranh giai cấp sẽ xảy ra.
+ Cái chết của Chí Phèo là tất yếu khi giai cấp thống trị còn mạnh, giai cấp
bị trị còn yếu thế, cô độc.
- Lai lịch: là đứa con hoang bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ, không cha, không
mẹ, không họ hàng thân thích, không nhà cửa; hết đi ở lại đi làm canh điền, Chí
trở thành công cụ làm giàu và thỏa mãn nhục dục cho những ông chủ, bà chủ.
15


- Diện mạo, hình hài: cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt đen
và rất cơng cơng….
- Hành động, tính cách: chuyên đập phá, kêu gào chửi bới, la làng, rạch
mặt ăn vạ…..
=>Chí Phèo mang những nét cá tính riêng độc đáo không gặp ở bất kì nhân
vật nào trong văn học.
- Đặc biệt nét riêng được khắc học sâu sắc ở bi kịch của nhân vật- bi kịch
bị cự tuyệt quyền làm người.
+ Sau những cơn say vô tận, kể từ đêm gặp Thị Nở, Chí đã sống lại những
cảm xúc đầy nhân tính. Hắn cảm nhận được không gian xung quanh với “cái lều

 Đó là nỗi khổ đau cùng cực, ghê ghớm chỉ có ở nhân vật Chí Phèo. Nhà
văn đã triệt để khai thác diễn biến nội tâm phức tạp của Chí Phèo để làm rõ: Nỗi
thèm khát làm người lương thiện, nỗi uất hận của một kẻ không được làm người.
2.4.4.3. Đánh giá vai trò, ý nghĩa tư tưởng của nhân vật
16


- Với phương pháp điển hình hóa, nhân vật Chí Phèo được xây dựng hết
sức sống động, vừa có cá tính sắc nét vừa có tính chung phổ biến. Nhờ vậy nhân
vật có sức sống lâu bền trong lòng độc giả.
- Nhờ việc xây dựng thành công nhân vật điển hình, tác phẩm đạt được
giá trị hiện thực và nhân đạo hết sức độc đáo, mới mẻ.
- Khẳng định tài năng độc đáo, trình độ xây dựng nhân vật điển hình bậc
thầy của Nam Cao, với tư cách là nhà văn hiện thực xuất sắc.
2.5. Tổ chức thực hiện – đánh giá kết quả
2.5.1.Tổ chức thực hiện
Để làm sáng tỏ cho giải pháp trên, sau đây người viết sẽ minh họa bằng tiết
dạy cụ thể:

17


Ngày soạn:
Ngày dạy:
Tiết 52,53:
CHÍ PHÈO
Nam Cao
A. Mục tiêu cần đạt
1.Kiến thức
- Thấy được số phận khốn cùng, bi thảm của người nông dân nghèo trong

cuộc đời và số phận bi kịch của Chí Phèo, nhà văn đã thể hiện rõ tư tưởng nhân
đạo và tiếng nói tố cáo hiện thực xã hội của mình bằng nghệ thuật tạo dựng tình
huống truyện và xây dựng nhân vật điển hình xuất sắc.

18


Hoạt động của giáo viên và học sinh
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu
những kiến thức chung về tác phẩm
PPDH: Phát vấn, thuyết giảng
Thời gian: 10’
-GV: Anh (chị) hãy cho biết xuất xứ và
bối cảnh của truyện ngắn “Chí Phèo” ?
-HS trả lời.

Nội dung cần đạt
I. Tìm hiểu chung
1.Xuất xứ
-Tác phẩm được viết năm 1939,
thuộc đề tài người nông dân nghèo
trước cách mạng tháng 8- 1945; in
thành sách lần đầu năm 1941.
-Bối cảnh: Từ cơ sở những việc thật,
người thật ở làng quê mình, tác giả
đã hư cấu và xây dựng nên tác phẩm.
-GV: Nhan đề tác phẩm đã trải qua 2. Nhan đề tác phẩm
những thay đổi như thế này ?
- Đầu tiên, Nam Cao đặt nhan đề:
-HS trả lời.

+ Hắn chửi tất cả: từ trời, đời, cả
khởi phát từ đâu ? Phân tích tình huống làng Vũ Đại, “Chửi cha đứa nào
truyện ?
không chửi nhau với hắn”, “đứa
- HS suy nghĩ, trả lời.
chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”=> Đối
tượng chửi đã được xác định: xã hội
thực dân nửa phong kiến đã sinh ra
cái thằng Chí Phèo, đối tượng chửi
qua đó cũng thu hẹp dần => chứng tỏ
Chí đang rơi vào ngõ cụt của sự bế
19


Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung cần đạt

- GV: Anh (chị) hãy nêu ý nghĩa của
tiếng chửi mở đầu truyện ?
- HS: suy nghĩ, trả lời.

- GV: nhận xét câu trả lời của học sinh,
bổ sung và kết luận.
Tiết 2

- GV: Trước khi bị đẩy vào tù, Chí Phèo
là người như thế nào ?
- HS: Suy nghĩ, trả lời
- GV nhận xét câu trả lời của HS, bổ

được toàn bộ số phận, cuộc đời nhân
vật.
2. Quá trình tha hóa của Chí Phèo
* Từ người nông dân lương thiện
thành kẻ lưu manh:
- Chí là một nông dân hiền lành,
lương thiện.
+ Khi mới sinh ra, Chí Phèo bị bỏ rơi
bên cạnh chiếc lò gạch cũ, được dân
làng nhặt về nuôi nấng. Tuổi thơ bất
hạnh, tủi cực “hết lang thang đi ở
cho nhà người này lại đi ở cho nhà
người khác, năm 20 tuổi thì làm
canh điền cho nhà Bá Kiến”.
+ Bà ba sai bóp đùi, hắn “vừa làm
vừa run”, “thấy nhục chứ yêu đương
gì” trước một việc làm mà hắn cho là


Hoạt động của giáo viên và học sinh

- GV: Nguyên nhân nào đã khiến Chí
Phèo bị đẩy vào tù ?
- HS: suy nghĩ, trả lời.

Câu hỏi trao đổi thảo luận

- Nhóm 1. Em hãy phác họa chân dung
nhân vật Chí Phèo sau khi ở tù về ?
- Nhóm 2. Từ khi ra tù, Chí đã có những

vằm nát bộ mặt người.
. Gương mặt: “cái đầu thì trọc lốc,
cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì
đen và rất cơng cơng, hai mắt gườm
gườm trông ghớm chết”.
. Trang phục: “mặc quần nái đen
với cái áo tây vàng”.
. Thân thể: “cái ngực phanh đầy
những nét chạm trổ rồng phượng với
một ông tướng cầm chùy, cả hai
cánh tay cũng thế”.
+ Nhân tính: Hành động và lời nói
thể hiện tính cách của một kẻ liều
lĩnh, hung hăng:
. “Hắn về hôm trước, hôm sau đã
thấy ngồi uống rượu với thịt chó suốt
từ trưa đến xế chiều…. Rồi say
khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến
cổng nhà Bá Kiến gọi tận tên tục ra
mà chửi”. Chí Phèo bộc lộ tính lưu
manh cùng đường: “đập cái chai vào


Hoạt động của giáo viên và học sinh

Tiết 2:
- GV: Quá trình tha hóa từ kẻ lưu manh
trở thành con quỷ dữ của Chí Phèo diễn
ra như thế nào ?
- HS: Suy nghĩ, trả lời.

mắt của biết bao nhiêu người dân
lương thiện: “Hắn đã đập nát biết
bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy
máu và nước mắt của biết bao nhiêu
người dân lương thiện”.
Hắn làm những việc ấy trong lúc say:
ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say,
thức dậy vẫn còn say…đập đầu, rạch
mặt, giết người trong lúc say để rồi
say nữa say vô tận. Chưa bao giờ hắn
tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời.
Chí Phèo đã trở thành con quỷ dữ,
thành nỗi ghê sợ cho bao người dân
làng Vũ Đại.
=>Qua quá trình tha hóa của Chí
Phèo, Nam Cao muốn khẳng định
một sự thật đau đớn ở làng quê Việt
Nam trước cách mạng tháng 8- 1945:
Hiện tượng người nông dân lương
thiện bị chà đạp về tinh thần, thể xác,
bị đẩy vào con đường tha hóa không
lối thoát, bị xã hội phi nhân tính biến
họ thành lưu manh, quỷ dữ. Chí Phèo
là nhân vật trung tâm mang tính điển
hình cho tình trạng tha hóa của người


Hoạt động của giáo viên và học sinh

- GV: Quá trình thức tỉnh của Chí Phèo

Phèo
+ Cảm nhận được thời gian và âm
thanh của cuộc sống thường ngày:
“Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ
quá. Tiếng mấy bà đi chợ về, tieenga
anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá
trên sông”.
+ Hắn nao nao buồn, nhớ về một thời
hắn đã từng ước mơ “có một gia đình
nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê,
vợ dệt vải….”.
+ Hắn thấy mình già mà vẫn cô độc,
hắn đã tới cái dốc bên kia của cuộc
đời, cơ thể đã hư hỏng nhieuf.
+ Nghĩ đến tương lai: tuổi già, đói
rét, ốm đau, cô độc.
+ Khao khát hoàn lương, mong ước
hạnh phúc.
- Chí xúc động thấy mắt mình ươn
ướt khi Thị Nở mang “một nồi cháo
hành còn nóng nguyên”. Bởi đây là
lần đầu tiên hắn được một người đàn
bà cho. Chí lại nghĩ đến bà Ba và


Hoạt động của giáo viên và học sinh

- GV: Em rút ra được bài học nhân sinh
nào từ quá trình thức tỉnh của Chí Phèo ?


người bị tha hóa. Bản tính ấy sẽ trỗi
dậy khi có chất xúc tác. Đó là sự yêu
thương, quan tâm. Từ đó, nhà văn
kêu gọi chúng ta cần tin vào con
người, tin vào bản chất tốt đẹp của
mỗi con người và cần giúp đỡ họ tìm
lại những cái tốt đẹp nhất của phần
“người”.
* Bài học nhân sinh: Con người cần
phải quan tâm, chia sẻ tình thương
giữa người với người. Tình thương
có khả năng có khả năng cảm hóa
được con người.
4. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm
người của Chí Phèo
- Nguyên nhân: cả làng Vũ Đại, cả
xã hội không ai đón nhận linh hồn
người vừa trở về của Chí. Định kiến
của bà cô cũng là định kiến của cả xã
hội đương thời.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status