1
MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM TRONG GIỜ HỌC VẬT LÝ CẤP THCS
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
1.Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu:
Làm các thí nghiệm vật lí ở nhà trường là một trong các biện pháp quan trọng
nhất để phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học Vật lí. Điều này quyết định bởi đặc
điểm của khoa học Vật lí vốn là khoa học thực nghiệm và bởi nguyên tắc dạy học là
nguyên tắc trực quan “học đi đôi với hành”.
2. Thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu:
Thường thì, do kinh nghiệm sống học sinh đã có một số vốn hiểu biết nào đó về
các hiện tượng Vật lí. Nhưng không thể coi những hiểu biết ấy là cơ sở giúp họ tự
nghiên cứu Vật lí bởi vì trước một hiện tượng vật lí, học sinh có thể có những hiểu biết
khác nhau, thậm chí là sai. Ví dụ: Học sinh nào cũng thấy được mọi vật rơi là do Trái
Đất hút, nhưng không ít học sinh lại cho rằng vật nặng thì rơi nhanh hơn vật nhẹ. Vì
vậy, khi giảng dạy Vật lí, giáo viên một mặt phải tận dụng những kinh nghiệm sống
của học sinh, nhưng mặt khác phải chỉnh lí, bổ sung, hệ thống hoá những kinh nghiệm
đó và nâng cao lên mức chính xác, đầy đủ bằng các thí nghiệm Vật lí, nhờ đó mà tránh
được tính chất giáo điều, hình thức trong giảng dạy.
Làm các thí nghiệm Vật lí có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận thức của
học sinh, giúp các em quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các
em được tập quan sát, đo đạc, được rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, điều đó rất cần
cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế.
Do được tận mắt, tự tay tháo lắp các dụng cụ, thiết bị và đo lường các đại lượng, , các
em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và thiết bị dùng trong đời sống và
sản xuất sau này.
Đặc biệt, việc thực hiện các thí nghiệm Vật lí là rất phù hợp với đặc điểm tâm,
sinh lí và khả năng nhận thức của học sinh , đặc biệt là học sinh THCS đồng thời tạo
điều kiện rèn luyện cho học sinh các kỹ năng thực hành và thái độ ứng xử trong thực
hành, cần thiết cho việc học tập Vật lí ở các cấp học trên.
2. Lý do chọn đề tài:
cú hin tng ú? gii thớch c, chỳng ta i vo nghiờn cu bi mi.
b) Thớ nghim gii quyt vn :
3
Thí nghiệm thuộc bài này được thực hiện giải quyết vấn đề đặt ra sau phần nêu
vấn đề. Bao gồm hai loại thí nghiệm:
b.1. Thí nghiệm khảo sát:
Là thí nghiệm tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra thông qua đó giáo viên hướng
dẫn học sinh đi đến khái niệm cần thiết.
Ví dụ: Thí nghiệm về sự sinh ra lực của chất rắn khi dãn nở gặp vật cản.
b.2. Thí nghiệm kiểm chứng:
Là thí nghiệm dùng để kiểm tra lại những kết luận được suy ra từ lí thuyết.
Ví dụ: Thí nghiệm kiểm tra lại hiện tượng suy ra từ lí thuyết ở bài tập 1 – Bài
30: Bài tập vận dụng quy tắc nắm tay phải và quy tắc bàn tay trái - Vật lí 9.
c. Thí nghiệm củng cố:
Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đã nghiên cứu bao gồm cả
những thí nghiệm nói lên ứng dụng của kiến thức Vật lí trong đời sống và trong kỹ
thuật.
Ví dụ: Khi nghiên cứu về áp suất khí quyển giáo viên có thể làm thí nghiệm ứng
dụng để chế tạo ra áp kế như hình vẽ:
Hoặc: Khi học về chương âm học (Vật lí 7) có thể cho học sinh làm những chiếc
đàn bằng những kiến thức đã học.
2. Thí nghiệm thực hành:
Thí nghiệm thực hành Vật lí là thí nghiệm do tự tay học sinh tiến hành dưới sự
hướng dẫn của giáo viên.
*Phân loại:
Với dạng thí nghiệm này có nhiều cách phân loại, tuỳ theo căn cứ để phân loại:
a. Căn cứ vào nội dung:
Có thể chia thí nghiệm thực hành làm hai loại:
a.1. Thí nghiệm thực hành định tính:
Loại thí nghiệm này có ưu điểm nổi bật bản chất của hiện tượng.
-Lenxơ” - Vật lí 9.
c. Căn cứ vào hình thức tổ chức thí nghiệm:
Có thể chia thí nghiệm thực hành thành 3 loại:
c.1. Thí nghiệm thực hành đồng loạt.
Loại thí nghiệm này tất cả các nhóm học sinh đều cùng làm một thí nghiệm,
cùng thời gian và cùng một kết quả. Đây là thí nghiệm được sử dụng nhiều nhất hiện
nay vì có nhiều ưu điểm. Đó là:
+ Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả trung
bình đáng tin cậy hơn.
+ Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắn hướng dẫn,
sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh.
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
+ Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khi thao
tác dẫn đến hạn chế kết quả.
+ Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị.
c.2. Thí nghiệm thực hành loại phối hợp:
Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm khác nhau,
mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần trong thời gian như nhau, sau đó phối hợp các
kết quả của các nhóm lại sẽ được kết quả cuối cùng.
Ví dụ: Trong bài “Công thức tính nhiệt lượng” - Vật lí 8. Giáo viên phân công:
+ Nhóm 1, 2: Tiến hành thí nghiệm khảo sát quan hệ giữa nhiệt lượng vật cần
thu vào để nóng lên và khối lượng của vật.
5
+ Nhóm 3, 4: Tiến hành thí nghiệm khảo sát quan hệ giữa nhiệt lượng vật cần
thu vào để nóng lên và độ tăng nhiệt độ của vật.
+ Nhóm 5, 6: Tiến hành thí nghiệm khảo sát quan hệ giữa nhiệt lượng vật cần
thu vào để nóng lên với chất làm vật.
=>Kết quả thí nghiệm của các nhóm khái quát thành công thức tính nhiệt lượng
vật thu vào để nóng lên: Q = m.c.
∆
Vật lí 8.
6
III. Cơ sở thực tiễn:
Trước đây, qua trực tiếp đứng lớp giảng dạy và qua dự giờ các đồng nghiệp tại
trường THCS Quang Trung, tôi nhận thấy hầu hết trong các tiết học vật lí không có thí
nghiệm, hay những dụng cụ thí nghiệm đã hỏng, mà GV phải dùng thí nghiệm ảo
thường nội dung kiến thức cần thu được mang tính áp đặt, học sinh lĩnh hội kiến thức
một cách thụ động.
Bên cạnh đó, có những tiết học có sử dụng dụng cụ thí nghiệm, nhưng học sinh
lại không có kỹ năng thực hành thì làm mất rất nhiều thời gian của tiết học. Thậm chí
không thể rút ra kiến thức mới
Qua thời gian trăn trở, tôi nhận thấy ở những tiết học mà học sinh có kỹ năng
thực hành thí nghiệm vật lí, thì học sinh làm việc rất tích cực và hoạt động sôi nổi hơn.
Đặc biệt, lượng kiến thức thu được dường như được các em nạp ngay tại trường. Kết
quả là học sinh rất hứng thú khi giờ học Vật lí bắt đầu. Nào :Thí nghiệm vật lí. Tiết học
đã được chuyển tải một cách nhẹ nhàng, học sinh lĩnh hội tri thức một cách hứng thú,
nội dung bài học được chuyển tải cũng nhanh hơn, một cách trọn vẹn hơn.
IV. Nội dung nghiên cứu:
1. Đối với thí nghiệm biểu diễn:
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các thí nghiệm biểu diễn, bản thân tôi
luôn có gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
1.1. Thí nghiệm phải đảm bảo thành công: Nếu thí nghiệm thất bại học sinh sẽ
mất tin tưởng vào bài học và ảnh hưởng xấu đến uy tín của giáo viên. Muốn làm tốt
được điều này, giáo viên phải:
-Am hiểu bản chất của các hiện tượng vật lí xảy ra trong thí nghiệm.
-Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm cùng với
những trục trặc có thể xảy ra để biết cách kịp thời khi phải sửa chữa. Muốn vậy, giáo
viên phải làm trước nhiều lần trong khi chuẩn bị bài.
7
1.2. Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí. Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ khó
phương pháp đàm thoại và vẽ hình.
-Thí nghiệm chỉ có hiệu quả tốt khi có sự tham gia tích cực, có ý thức của học
sinh. Vì vậy giáo viên phải làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của thí nghiệm, cách bố
8
trí thí nghiệm và các dụng cụ của thí nghiệm. Học sinh trực tiếp quan sát và rút ra kết
luận cần thiết.
2. Đối với thí nghiệm thực hành:
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của thí nghiệm thực hành, bản thân tôi luôn
cố gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
2.1. Chuẩn bị tốt dụng cụ thí nghiệm thực hành, đảm bảo đủ vể số lượng,
chất lượng. Điều này đòi hỏi giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình thực hành ngay
từ đầu năm học, xác định cần dụng cụ gì, số lượng bao nhiêu, còn thiếu những gì để có
kế hoạch giải quyết trong năm bằng cách mua thêm hoặc tự làm hoặc hướng dẫn học
sinh tự làm.
2.2. Trình tự tổ chức một thí nghiệm thực hành. Tôi thường tiến hành theo các
bước sau:
a. Chuẩn bị
-Giáo viên cần đặt vấn đề vào bài, gợi ý để học sinh phát hiện được nội dung
kiến thức cần nghiên cứư, từ đó tiếp tục gợi ý đê học sinh nêu rõ mục đích của thí
nghiệm là gì.
-Giáo viên có thể dùng phương pháp đàm thoại kết hợp vẽ hình để học sinh lập
kế hoạch tiến hành thí nghiệm.
-Giáo viên giới thiệu dụng cụ thí nghiệm và các thao tác mẫu.
b. Tiến hành thí nghiệm
-Nhóm trưởng nhận dụng cụ, điều khiển nhóm tiến hành thí nghiệm. Các nhóm
học sinh tiến hành thí nghiệm. Giáo viên theo dõi chung và giúp đỡ nhóm gặp khó
khăn, nếu cần thì giáo viên yêu cầu cả lớp ngừng thí nghiệm để hướng dẫn, bổ sung.
Cần tránh trường hợp một số em chuyên làm thí nghiệm, một số em chuyên ghi chép.
c. Xử lí kết quả thí nghiệm
-Với thí nghiệm thực hành khảo sát: Cả nhóm cùng dựa vào kết quả thí nghiệm
Lớp trưởng báo cáo sĩ số lớp:
2. Nội dung tiết học
Trợ giúp của GV Hoạt động của HS Ghi bảng
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ, tổ chức tình huống học tập (7 phút)
* Lớp phó học tập báo cáo tình
hình chuẩn bị bài của các bạn
trong lớp?
* Cho cô biết: Công suất của
một dụng cụ điện hoặc một
đoạn mạch liên hệ với hiệu điện
thế và cường độ dòng điện bằng
hệ thức nào?
- Cá nhân thực hiện theo
yêu cầu của GV:
+ P = U.I Trong đó:
U là hiệu điện thế (V)
I là cường độ dòng điện (A)
P là công suất (W)
10
(HS trả lời – GV ghi vào phần
bảng nháp)
* Dựa vào hệ thức này, muốn
xác định công suất của một
dụng cụ điện bằng TN ta cần
phải đo được các đại lượng
nào?
* Sử dụng các dụng cụ đo điện
nào để đo hiệu điện thế? Nêu
cách mắc dụng cụ đo điện đó
vào mạch điện?
sao cho chốt (+) của ampe
kế được mắc về phía cực
dương của nguồn điện.
+ 1 HS lên bảng vẽ sơ đồ
mạch điện theo yêu cầu của
GV, HS dưới lớp vẽ vào vở,
nêu nhận xét.
+ Vôn kế đo hiệu điện thế
giữa hai đầu bóng đèn,
ampe kế đo cường độ dòng
điện qua đèn.
+ Dùng thêm biến trở, mắc
biến trở nối tiếp với bóng
đèn.
11
thêm bộ phận nào? Cách mắc
bộ phận đó vào mạch điện?
GV: Đặt 1 biến trở vào sơ đồ
trên bảng và hỏi:
* Giả sử hai đầu của mạch điện
được nối với hai chốt của biến
trở như thế này, vậy cần dịch
chuyển con chạy về phía nào để
điện trở của biến trở tham gia
vào mạch là lớn nhất?
GV: Nhận xét về sự chuẩn bị
bài về nhà của lớp.
GV: Đặt vấn đề vào bài mới:
Để giúp các em vận dụng
những kiến thức vừa nêu, tiết
thực hành, cá nhân nêu lên
các dụng cụ cần dùng của
I. Chuẩn bị
1. Dụng cụ
- SGK
12
- Xác định công suất của quạt
điện khi mắc vào hiệu điện thế
bằng hiệu điện thế định mức
của quạt.
* Để thực hiện những nội dung
đó cần phải chuẩn bị những
dụng cụ gì?
GV: Đưa ra các dụng cụ giới
thiệu để HS quan sát và chốt
cách sử dụng một số dụng cụ.
Ngoài ra còn chuẩn bị mỗi bạn
một báo cáo thực hành.
tiết thực hành.
2. Báo cáo thực hành:
Hoạt động 3: Thực hành xác định công suất của bóng đèn với các hiệu điện thế khác
nhau (19 phút)
* Để thực hiện nội dung này
cần những dụng cụ nào?
- Cá nhân nêu lên dụng cụ
cần dùng.
II. Nội dung thực
hành:
* hãy đọc thông tin hướng dẫn
thực hành của mục I phần II
giá trị lớn nhất.
Bước 2: Điều chỉnh biến
trở để:
U
1
= U
v
= 1V
=>I
1
= I
a
= ?
Bước 3: Lặp lại bước 2
với:
U
2
= U
v
= 1,5V =>I
2
= ?
U
3
= U
v
= 2,0V => I
3
= ?
Bước 4: Thảo luận
của một bóng đèn ta cần phải có
những dụng cụ gì? hãy nêu các
bước đo công suất tiêu thụ của
bóng đèn đó?
GV: thông báo: Dựa trên cơ sở,
cách tiến hành TN như hôm
nay, trong kĩ thuật người ta chế
tạo ra dụng cụ đo trực tiếp công
suất. Dụng cụ đó có tên gọi là
oát kế. Thang đo của oát kế
được chia vạch theo tích P =
- Cá nhân hoàn thành báo
cáo thực hành.
- Nhóm bình bầu chấm
điểm về ý thức thực hành
của từng thành viên trong
nhóm.
- Cá nhân trả lời:
Nếu tăng hoặc giảm hiệu
điện thế giữa hai đầu dụng
cụ điện đi n lần thì công
suất tiêu thụ điện của dụng
cụ sẽ tăng hoặc giảm đi n
2
.
+ Khi dụng cụ được dùng ở
hiệu điện thế định mức thì
công suất tiêu thụ điện của
dụng cụ bằng công suất
định mức.
- Trình bày được phương pháp đo tiêu cự của thấu kính hội tụ.
- Đo được tiêu cự của một thấu kính hội tụ.
2. Kỹ năng
- Có kỹ năng thực hành khi thao tác thí nghiệm, kỹ năng đề xuất phương án thí
nghiệm.
3. Thái độ
15
Cẩn thận, tích cực, trung thực trong thí nghiệm.
II. Chuẩn bị đồ dùng:
1. Cho mỗi nhóm HS:
- 1 thấu kính hội tụ có tiêu cự cần đo.
- 1 vật sáng hình chữ F khoét trên màn chắn sáng.
- 1 nguồn sáng.
- 1 màn hứng nhỏ (màu trắng).
- 1 giá quang học có thước đo.
2. Lớp
Giấy trong ghi tóm tắt các bước thí nghiệm.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Đo chiều cao của vật : h = mm.
Bước 2: Đo vật và màn ảnh ở khá gần thấu kính, cách thấu kính những khoảng
bằng nhau. Dịch chuyển đồng thời vật và màn ảnh ra xa thấu kính những khoảng bằng
nhau => dừng khi thu được ảnh rõ nét.
Bước 3: Kiểm tra điều kiện d’ = d, h’ = h có thoả mãn không.
Bước 4: Khi 2 điều kiện trên đã thoả mãn thì đo khoảng cách từ vật tới màn ảnh
và tính tiêu cự của thấu kính theo công thức : f = (d’ + d) / 4.
Làm thí nghiệm thêm 2 lần, hoàn thành các kết quả đo vào báo cáo thí nghiệm.
Tính giá trị trung bình của tiêu cự thấu kính đo được.
- Mỗi HS chuẩn bị một mẫu báo cáo thí nghiệm đã trả lời sẵn các câu hỏi.
III. Tiến trình bài giảng
1. Ổn định tổ chức (1 phút):
giờ. Tổng điểm là 10. Vì vậy cô
mong các em cùng cố gắng.
- Cá nhân nắm vấn đề cần
nghiên cứu của tiết học.
- Cá nhân ghi tên bài học
vào vở.
Bài 46:
THỰC HÀNH ĐO
TIÊU CỰ CỦA
THẤU KÍNH HỘI
TỤ
Hoạt động 2: Trình bày việc chuẩn bị báo cáo thực hành, đó là việc trả lời câu hỏi về
cơ sở lí thuyết của bài thực hành (10 phút)
GV: Giờ trước cô đã dặn các
em về nhà chuẩn bị báo cáo thí
nghiệm trong đó trả lời sẵn các
câu hỏi.
H: Lớp phó học tập báo cáo kết
quả chuẩn bị bài của lớp?
GV: Vẽ hình lên bảng.
H: 1 em lên bảng dựng hình ảnh
A’B’ của vật AB khi d = 2f,
AB vuông góc
∆
, A
∈
∆
.
H: Dưới lớp nêu cho cô cách
dựng ảnh của một vật AB khi
H: Trong trường hợp này ta có
thể rút ra được công thức tính
tiêu cự của thấu kính như thế nào
?
GV: Giới thiệu: Trong tiết thực
hành hôm nay chúng ta sẽ sử
dụng công thức này để xác định
tiêu cự của một thấu kính hội tụ
bất kì.
H: Như vậy cần phải chuẩn bị
vuông góc với trục chính
của thấu kính, A nằm trên
trục chính), chỉ cần dựng
ảnh B’ của B bằng cách vẽ
đường truyền của hai tia
sáng đặc biệt, sau đó từ B
’
hạ vuông góc xuống trục
chính ta có ảnh A’ của A.
- Cá nhân HS trả lời theo
yêu cầu của GV:
+ Chứng minh:
Tứ giác ABIO là HCN =>
OF’ là đường trung bình
của
∆
BIB’.
=>
∆
ABO =
GV: Cho HS khác nhận xét, đưa
ra các câu hỏi củng cố phương
pháp tiến hành như:
H: Tại sao phải thấy ảnh rõ nét?
H: Tại sao khi thấy ảnh rõ nét
cần phải kiểm tra lại hai điều
kiện d = d’, h = h’ ?
GV:Chốt các bước làm thí
nghiệm, yêu cầu HS đọc nắm
được các bước thực hiện.
ảnh, 1 giá quang học có các
giá đỡ vật và có gắn thước
đo.
- Cá nhân HS quan sát các
dụng cụ GV giới thiệu và
nắm cách sử dụng chúng.
- Cá nhân HS nêu cách bố
trí và tiến hành TN. Trả lời
theo yêu cầu của GV.
+ Khi có ảnh rõ nét thì vị trí
của màn ảnh là vị trí của
ảnh.
+ Vì cảm nhận độ rõ nét của
ảnh ở mỗi người khác nhau
nên phải kiểm tra lại hai
điều kiện.
- Nắm các bước TN do GV
chốt.
Hoạt động 3: Thực hành đo tiêu cự của thấu kính hội tụ
(20 phút)
Hoạt động 4: Hoàn thành báo cáo, củng cố bài học
(8 phút)
GV: yêu cầu các cá nhân dựa
trên kết quả TH của nhóm, hoàn
thành báo cáo của mình.
H: Báo cáo kết quả TN của
nhóm?
H: Tại sao các nhóm lại có kết
quả khác nhau đến như vậy?
GV: Cho các nhóm kiểm tra kích
thước, độ dày của các nhóm để
tìm ra nguyên nhân, rút ra nhận
xét: Với các thấu kính cùng loại
có cùng kích thước, thấu kính
nào dày hơn thì có tiêu cự nhỏ
hơn.
H: Qua tiết thực hành hôm nay,
các em nắm được những kiến
thức gì?
GV: Mở rộng: Phương pháp
chúng ta tiến hành có tên gọi là
phương pháp Đin – Bec man.
Ngoài phương pháp này ra còn
có thể sử dụng phương pháp Bét
– xen với công thức xác định là:
f = (L
2
– l
2
)/4L, trong đó L là
chung của các máy ảnh đó.
- Đọc bài mới: “Sự tạo ảnh trên
phim trong máy ảnh”.
- Cá nhân ghi nhớ nội dung
về nhà.
IV: Về nhà
IV: Rút kinh nghiệm
o0o
V. Kết quả nghiên cứu:
Với sự trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị đồ dùng dạy học, cùng với sự cố
gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã đạt được một số kết quả trong quá trình giảng dạy của
mình. Cụ thể:
1. Về kiến thức
Học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản của các bài học dựa trên cơ sở tái
hiện lại được các thí nghiệm của bài học. Có mở rộng và nâng cao một số kiến thức
phù hợp cho đối tượng học sinh giỏi.
2. Về kĩ năng
Học sinh có kĩ năng quan sát các hiện tượng và quá trình vật lí để thu thập các
dữ liệu thông tin cần thiết. Kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo lường Vật lí phổ biến, lắp
ráp và tiến hành các thí nghiệm Vật lí đơn giản. Kĩ năng phân tích, xử lí các thông tin
và các dữ liệu thu được để giải thích được một số hiện tượng Vật lí đơn giản, để giải
các bài tập Vật lí đòi hỏi những suy luận lôgíc và những phép tính cơ bản cũng như để
giải quyết một số vấn đề trong cuộc sống. Kỹ năng đề xuất các dự án hoặc các giả
thuyết đơn giản về các mối quan hệ về bản chất của các hiện tượng hoặc sự vật Vật lí.
Có khả năng đề xuất phương án thí nghiệm đơn giản để kiểm tra dự đoán hoặc giả
thuyết đã đề ra. Có kĩ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác bằng ngôn ngữ Vật lí.
3. Về tình cảm thái độ
21
Học sinh có hứng thú trong việc học tập bộ môn Vật lí cũng như áp dụng các
kiến thức kĩ năng vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình và cộng đồng. Có thái độ
22
1 Tài liệu hướng dẫn xử dụng thí nghiệm Vật lí 6_ Thiết bị Hồng Anh
2 Tài liệu hướng dẫn xử dụng thí nghiệm Vật lí 7_ Thiết bị Hồng Anh
3 Tài liệu hướng dẫn xử dụng thí nghiệm Vật lí 8_ Thiết bị Hồng Anh
4 Tài liệu hướng dẫn xử dụng thí nghiệm Vật lí 9_ Thiết bị Hồng Anh
5 Tô Xuân Giáp, Phương tiện dạy học, Nhà xuất bản giáo dục, 1998.
6 Nguyễn Minh Hoàng, Tìm hiểu khoa học vật lý, Nhà xuất bản trẻ, 2003.
7 Sách giáo khoa, sách GV Vật lí 6,7,8,9 Nhà xuất bản Giáo Dục
MỤC LỤC
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
MỤC LỤC:…………………………………………………………………….23