1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ THỊ THU HÀ
NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT NGOÀI VĂN BẢN
ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: GS. NGND. Phan Trọng Luận 3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
3
3. Mục đích nghiên cứu
4
4. Giới hạn và đối tƣợng nghiên cứu
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
6. Giả thuyết của luận văn
5
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
6
8. Cấu trúc của luận văn
6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
7
1.1. Cơ sở lí luận
7
45
2.1. Hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu văn học sử và mục Tiểu dẫn SGK
45
2.2. Hƣớng dẫn học sinh vận dụng những hiểu biết về tâm sự của
nhà văn để giải mã tác phẩm
50
2.3. Hƣớng dẫn học sinh khai thác ý kiến các nhà phê bình nghiên
cứu, ý kiến các nhà văn khác về nhà văn và tác phẩm đƣợc học
55
2.4. Hƣớng dẫn học sinh khai thác hiểu biết ngoài văn bản từ chính bản
thân
64
Chƣơng 3. THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM ÁP DỤNG
NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT NGOÀI VĂN
BẢN ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG Ở TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG
67
3.1. Thiết kế bài giảng
67
3.2. Kết luận rút ra từ việc thiết kế bài giảng áp dụng những biện pháp
vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chƣơng ở
Trung học phổ thông
từng trƣờng phái mà văn nghệ mác xít, văn học là một hình thái ý thức xã hội
đặc thù mang tính thẩm mĩ, văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời
sống, bày tỏ quan điểm, lập trƣờng của ngƣời viết với đời sống. Đối tƣợng
phản ánh của văn học là các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con ngƣời xã
hội. Vì vậy, muốn hiểu nội dung ý nghĩa các hình tƣợng nghệ thuật nhà văn
hƣ cấu trong tác phẩm, cần phải đƣợc soi chiếu từ góc độ hiện thực.
Theo thời gian, trong sự biến động nhiều mặt của nền kinh tế, chính trị, xã
hội thế giới, một số trƣờng phái lí luận mới xuất đề cao vai trò của văn bản
2
hay của ngƣời đọc trong việc khám phá ý nghĩa tác phẩm văn chƣơng. Họ
cho rằng, phƣơng pháp cắt nghĩa tác phẩm bằng các hiện tƣợng xã hội, đi từ
những hiểu biết ngoài văn bản để hiểu văn bản là cách thức lỗi thời, lạc hậu,
mang tính áp đặt và dung tục. Bởi nếu chỉ quan tâm đến những hiểu biết xã
hội, con ngƣời nhà văn để tìm hiểu một tác phẩm văn học dễ đi đến khuynh
hƣớng xã hội học dung tục. Nhƣng không vì thế mà gạt bỏ hoặc xem nhẹ
khuynh hƣớng tiếp cận lịch sử xã hội đã khẳng định giá trị và sự tồn tại của
nó qua nhiều thập kỉ nay.
Trong sự chồng chéo phức tạp của những luồng tƣ tƣởng khác nhau ở các
trƣờng phái đối lập, đã xuất hiện một phƣơng pháp mới tiến bộ trên thế giới
cũng nhƣ ở Việt Nam: khuynh hƣớng tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chƣơng.
Đây là hƣớng đi đúng đắn cho các hệ thống phƣơng pháp lí luận văn học đang
trong giai đoạn phát triển đa chiều nhƣng thiếu sự thống nhất và đồng thuận.
Phƣơng pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chƣơng chú trọng sự hài hòa,
tiếp thu những mặt ƣu điểm, tích cực, hợp lí, khoa học của tất cả các khuynh
hƣớng khác nhau để tạo thành một phƣơng pháp hoàn chỉnh, có khả năng tìm
hiểu tác phẩm văn chƣơng trong cái nhìn bao quát, đầy đủ và toàn vẹn.
Trên cơ sở phát triển lí thuyết về phƣơng pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm
văn chƣơng, không thể không quan tâm đến phƣơng pháp tiếp cận lịch sử phát
sinh. Đây là một trong ba phƣơng pháp quan trọng gắn kết thành một thế chân
ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn học một cách hiệu quả nhất, nhằm
nâng cao chất lƣợng dạy và học tác phẩm văn chƣơng ở THPT.
2. Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử phát triển văn học, những hình thức tiếp cận, đánh giá tác
phẩm văn chƣơng đƣợc giới nghiên cứu phê bình văn học rất quan tâm chú ý.
Tuy nhiên, đối với khuynh hƣớng tiếp cận lịch sử phái sinh hầu nhƣ chƣa thực
sự có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách rõ ràng, cụ thể.
4
Ngƣời viết đề tài căn cứ vào bài viết của giáo sƣ Phan Trọng Luận trong cuốn
Phương pháp dạy học văn (xuất bản năm 2004) bàn về phƣơng pháp tiếp cận
đồng bộ tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng và phát triển sâu hơn một
bƣớc một trong ba mũi tiếp cận của phƣơng pháp này: mũi tiếp cận lịch sử
phát sinh.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Trong quá trình phát triển của lịch sử lí luận, phƣơng pháp tiếp cận văn
học, đã có thời kì phƣơng pháp tiếp cận lịch sử phát sinh đƣợc đề cao. Theo
thời gian, sự xuất hiện của những phƣơng pháp mới dần chiếm lĩnh và có xu
hƣớng phủ nhận cái cũ, việc giải mã tác tác phẩm văn chƣơng thông qua
những kiến thức lịch sử xã hội không còn đƣợc xem trọng. Phƣơng pháp tiếp
cận đồng bộ với bƣớc phát triển mới và những ƣu thế đang đƣợc khẳng định
đã trả lại vị trí, vai trò không thể thiếu của phƣơng pháp tiếp cận lịch sử phát
sinh trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ với các phƣơng pháp khác. Vì vậy,
ở đề tài này chúng tôi muốn một lần nữa khẳng định vai trò, ý nghĩa quan
trọng của việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn
chƣơng ở THPT.
3.2. Cùng với việc nghiên cứu lí thuyết, mục đích của đề tài còn trực tiếp
tham gia tìm hiểu việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm
văn chƣơng trong giảng dạy của GV ở THPT. Trên cơ sở đó sẽ đƣa ra các
phƣơng án tối ƣu, những biện pháp thích hợp góp phần nâng cao chất lƣợng,
hiệu quả của việc khám phá, phân tích, cắt nghĩa tác phẩm văn học.
6.2. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, luận văn tiến hành nghiên cứu và
đề xuất các biện pháp vận dụng hợp lí hiểu biết ngoài văn bản để giúp GV có
cái nhìn toàn diện, chính xác, hệ thống về các cách thức hƣớng dẫn HS tìm
hiểu tác phẩm thông qua kiến thức lịch sử xã hội. Từ đó sẽ góp phần nâng cao
chất lƣợng và hiệu quả giờ học tác phẩm văn chƣơng ở THPT hiện nay.
6
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống; phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu; tổng
hợp và vận dụng lí luận.
7.2. Phƣơng pháp khảo sát thực tế: Tiến hành khảo sát giáo án và dự giờ dạy
của GV và HS trong nhà trƣờng THPT.
7.3. Phƣơng pháp thể nghiệm giáo án bài dạy: soạn giáo án minh họa.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo;
phần nội dung đƣợc trình bày trong ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Những biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải
mã tác phẩm văn chƣơng ở THPT
Chƣơng 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm áp dụng biện pháp vận dụng
hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chƣơng ở THPT 7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
bình lãng mạn chủ nghĩa lại xem tác phẩm là sự biểu hiện của tình cảm, cảm
xúc, cá tính nhà văn nên đã tập trung chú ý vào cá nhân nhà văn.
Nhƣ vậy, trƣớc thế kỷ XX, khuynh hƣớng tiếp cận tác phẩm theo phƣơng
pháp lịch sử xã hội luôn đƣợc xem trọng và đề cao. Đến thế kỷ XX, những
quan niệm mới về tác phẩm văn học dần đƣợc hình thành.[44,tr.12-17]
* Khuynh hƣớng tiếp cận tác phẩm theo hình thức, cấu trúc văn bản
Chủ nghĩa hình thức Nga là trƣờng phái lý luận văn học đầu tiên nghiên
cứu văn học nhƣ 1 giá trị sáng tạo ngôn ngữ độc lập. Họ phản đối phƣơng
pháp nhị phân tác phẩm văn học thành nội dung và hình thức. Họ đề nghị xem
tác phẩm nhƣ là hiện tƣợng đời sống, là kinh nghiệm sống do nhà văn lựa
chọn, nắm bắt, còn hình thức là sự gia công, cải tạo chất liệu bằng thủ pháp
nghệ thuật. Do đó, để hiểu tác phẩm, không cần bàn về chất liệu đời sống mà
chỉ cần phân tích thủ pháp nghệ thuật để hiểu nội dung là đủ. Đây là quan
niệm có phần thiên lệch, giản đơn, rút gọn nghệ thuật vào thƣ pháp, quá đề
cao tầm quan trọng của hình thức, khẳng định tính quyết định của hình thức,
đi ngƣợc lại quan niệm truyền thống.
Trƣờng phái “phê bình mới” của Anh, Mĩ cũng cho rằng việc tách bạch cơ
giới nội dung với hình thức là điều phi lí. Họ coi nội dung tác phẩm là cấu
trúc, coi biểu hiện ngôn từ là cơ chất, cơ chất mới là nơi biểu hiện chất văn.
Chủ nghĩa cấu trúc đi sâu hơn một bƣớc, đem “văn bản” thay cho “tác phẩm”,
chủ trƣơng không nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể, mà chỉ nghiên cứu cấu
trúc trừu tƣợng của văn học, tức là chỉ tìm những nguyên tắc chìm, có tác
dụng chi phối làm cho tác phẩm ngôn từ trở thành tác phẩm có “chất văn
học”.
Chủ nghĩa cấu trúc xem văn học nhƣ một ngôn ngữ. Vận dụng sự phân biệt
“ngôn ngữ” và “lời nói” là do nhà ngôn ngữ học F.De Saurssure đƣa ra. Nhà
9
cấu trúc chủ nghĩa đã phân biệt tác phẩm cụ thể ( lời nói ) với cấu trúc ( ngôn
ngữ ) và chỉ nghiên cứu cấu trúc mà thôi. Cấu trúc là một cấu tạo trừu tƣợng,
sinh. Văn bản luôn có những khoảng trống, khoảng trắng chỗ đứt đoạn để cho
ngƣời đọc đồng sáng tạo. Tuy nhiên, không nên hiểu tính lƣợc đồ này chỉ là
sơ đồ trừu tƣợng, không cụ thể, vì văn bản văn học với chữ nghĩa, hình tƣợng
bao giờ cũng sinh động giàu chi tiết và sức gợi. Vấn đề là văn bản thƣờng chỉ
cung cấp cái thông báo, mà thông báo có khoảng trống nên ý nghĩa không xác
định. Sự cụ thể hoá văn bản của ngƣời đọc cũng có quy luật của nó, không
phải mọi sự cụ thể hóa đều có giá trị thẩm mỹ nhƣ nhau.
Quan niệm hậu cấu trúc cho rằng văn bản có tính liên văn bản, nghĩa là mọi
văn bản đều giống nhƣ loại đồ khảm các hành văn khác nhau, văn bản nào
cũng hấp thu và chuyển hóa các văn bản khác (J.Kristeva). Tất nhiên liên văn
bản không có nghĩa là sao chép lẫn nhau, mà nhƣ R.Barthes nói, mọi văn bản
đều là liên văn bản với nghĩa là bao hàm tiền văn bản, văn bản văn hoá, văn
bản nhìn thấy và văn bản không nhìn thấy, sự dẫn văn vô thức và tự động. Vì
thế liên văn bản nói lên tính xã hội, tính chỉnh thể, tính sản sinh của văn bản.
Nó là một sự truyền bá. Do sự tồn tại giữa các văn bản, có vô vàn quan hệ
chằng chịt với các văn bản khác, một văn bản trong quá trình hình thành và
tiếp nhận đều mang tính liên văn bản.
Cùng với lí thuyết tiếp nhận, lý luận phản ứng của ngƣời đọc xem văn bản
chỉ là cái khung trống rỗng, chỉ khi ngƣời đọc xuất phát từ tình huống của
mình để tìm ý nghĩa “rót” nội dung cụ thể vào thì mới thành tác phẩm. Ngƣời
đọc trở thành kẻ sáng tạo ý nghĩa tác phẩm, tác giả hầu nhƣ chẳng có vai trò
gì. Quan niệm này có phần cực đoan, bởi vì hoạt động đọc không thể thoát li,
bất chấp văn bản, mà văn bản là sự thể hiện của tác giả. [44,tr.21-24]
1.1.1.2. Những kết luận chung về các khuynh hướng
Nhƣ vậy, tuỳ theo những quan niệm khác nhau về phƣơng thức tồn tại của
tác phẩm văn học trong các thời kỳ lịch sử để tạo ra sự đa dạng, khác biệt
11
trong cách thức tiếp cận tác phẩm văn chƣơng ở các khuynh hƣớng khác
nhau. Ở Việt Nam, đã có những cách tiếp cận tìm hiểu văn chƣơng đi theo
cận đồng bộ” song đã nhấn mạnh đến bốn quan điểm : xã hội, văn hoá, văn
bản và chủ đề. Thực chất đó cũng là sự phân chia rạch ròi các phƣơng diện
của quan điểm tiếp cận đồng bộ một tác phẩm mà giáo trình phƣơng pháp
giảng dạy văn học ở Mĩ đang rất quan tâm.
Ở Việt Nam, giáo sƣ Phan Trọng Luận trong các công trình nghiên cứu về
phƣơng pháp giảng dạy văn học của mình đã rất tâm huyết với vấn đề tiếp cận
đồng bộ tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng hiện nay.
Theo giáo sƣ, tiếp cận đồng bộ là sự vận dụng hài hoà các phƣơng pháp
lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm
văn chƣơng. Nhƣ vậy, đối với bất kỳ tác phẩm văn chƣơng cụ thể nào, muốn
tìm hiểu phân tích, giải mã đƣợc thấu đáo, khoa học khách quan cũng không
thể thiếu đi một trong những hƣớng tiếp cận văn bản sau:
1.1.2.1. Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh
Văn học cũng nhƣ mỗi tác phẩm văn chƣơng luôn luôn ra đời trong nhƣng
bối cảnh lịch sử xã hội văn hoá cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc
thông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm. Vì vậy, muốn nghiên
cứu một tác phẩm văn chƣơng cụ thể chúng ta không thể không tìm đến bối
cảnh và nhà văn. Đành rằng những tác phẩm văn chƣơng kiệt xuất bao giờ
cũng có ý nghĩa phổ quát toàn nhân loại, nhƣng không phải vì vậy mà mỗi tác
phẩm văn chƣơng ấy lại mất đi giá trị lịch sử cụ thể của nó.
Tiếp cận lịch sử phát sinh là đi từ những yếu tố ngoài văn bản để cắt nghĩa,
giải mã ý nghĩa nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm. Yếu tố ngoài văn bản trƣớc
tiên là bối cảnh, hoàn cảnh xã hội, là khoảng thời gian, không gian nơi mà tác
phẩm văn học đƣợc sản sinh. Nửa cuối thế kỉ XIII đến nửa đầu thế kỉ XIX là
thời kì chế độ phong kiến suy tàn, mục ruỗng đến cùng kiệt. Mâu thuẫn ngày
13
càng gay gắt trong nội bộ giai cấp thống trị và giữa giai cấp thống trị với các
tầng lớp nhân dân. Vì vậy văn học giai đoạn này chứa đựng một tinh thần
chống phong kiến khá cao, vai trò của quần chúng đƣợc phản ánh trong văn
Nhƣ vậy, mỗi tác phẩm văn chƣơng bao giờ cũng là một lời nhắn gửi trực
tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với cuộc
sống. Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh sẽ đem đến một cách hiểu và cảm
thụ tác phẩm đúng đắn, khoa học, chính xác theo ý đồ sáng tác của tác
giả.[20,tr.47-48]
Ƣu thế của cách tiếp cận này đã đƣợc khẳng định từ nhiều thập kỉ nay, tuy
nhiên không phải là không có những mặt hạn chế. Một thời đã có quan niệm
cho rằng tác giả là ngƣời duy nhất đem lại nội dung tƣ tƣởng cho tác phẩm.
Một khi đã đƣợc sáng tác ra thì tác phẩm văn học đã có sẵn nội dung, tƣ
tƣởng rõ ràng, có đề tài, chủ đề xác định chỉ chờ ngƣời đọc đến tiếp nhận thụ
động nữa mà thôi. Đối với từng tác phẩm văn học cụ thể, ngƣời ta cho rằng
chỉ có một cách hiểu duy nhất đúng, tức là cách hiểu phù hợp với ý định ban
đầu của tác giả. Quan niệm đồng nhất ý định tác giả với tác phẩm tạo nên lối
nghiên cứu đi từ tác giả để hiểu tác phẩm. Hoặc cũng có khi ngƣời ta quá chú
trọng vào nghiên cứu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội khiến tác phẩm trở
thành một bức tranh xã hội hai màu về xã hội và con ngƣời khô khan và xơ
cứng. Vì thế cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc về việc ứng dụng
phƣơng pháp tiếp cận lịch sử phát sinh với cách thức, liều lƣợng nhƣ thế nào
để khai thác đƣợc ƣu thế và đạt hiệu quả cao nhất trong việc cắt nghĩa, phân
tích và giảng dạy tác phẩm văn chƣơng.
1.1.2.2. Quan điểm tiếp cận văn bản
Hiểu biết ngoài văn bản là quan trọng nhƣng cũng không thể thay đƣợc
việc khám phá bản thân văn bản. Quan điểm tiếp cận văn bản giúp ngƣời đọc,
15
ngƣời nghiên cứu giảng dạy không thoát ly văn bản vốn là đề án tiếp nhận mà
nhà văn muốn gửi đến bạn đọc.
Đặc trƣng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mĩ. Nhà văn gửi
đến cuộc đời niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất về
cuộc sống và con ngƣời. Đây là điểm mấu chốt phân biệt phƣơng pháp tiếp
nghĩa, có khả năng tạo nghĩa trong mối quan tâm của ngƣời đọc. Từ văn bản
ngƣời đọc dựng nên hình tƣợng nghệ thuật có dụng ý, là sự tồn tại của ý nghĩa
văn học. Hình tƣợng đƣợc mở ra nhiều chiều, ý nghĩa đƣợc khám phá từ
nhiều góc độ trong nhiều ngữ cảnh.
Trên thế giới, nhiều nhà văn lớn nhƣ Tsêkhôp, Mác Sác, A.Tônxtôi…cung
rất coi trọng vai trò của bạn đọc, coi đó là yếu tố quyết định sinh mệnh của
mỗi tác phẩm. Có nhiều ý kiến cho rằng nếu không có bạn đọc thì tất cả chỉ là
những đống giấy vô hồn, những kí hiệu câm lặng kể cả Iliat Ôđyxê hay Chiến
tranh và hòa bình…Các tác giả có uy tín ở Mĩ về Phƣơng pháp dạy học văn
ở THPT cũng rất chú trọng và nhấn mạnh ý tƣởng đổi mới việc dạy học văn
trong nhà trƣờng theo hƣớng tiếp cận đáp ứng (responses-centred). Ở Việt
Nam, giáo sƣ Phan Trọng Luận cũng hết sức quan tâm đến quan điểm tiếp cận
này qua các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lí luận tiếp nhận văn học và
chuyên ngành giảng dạy văn học.
Công cuộc đổi mới phƣơng pháp giảng văn ở trung học đã diễn ra mƣời
năm nay theo hƣớng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo là sự vận dụng sáng tạo
kịp thời những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận, tƣ tƣởng dạy học hiện đại.
Tuy nhiên khi nhấn mạnh đến quan điểm ngƣời đọc, đến phản ứng và đáp ứng
của học sinh trong giờ văn, chúng ta vẫn không tuyệt đối hóa hay cƣờng điệu
hóa sở thích của học sinh. Trong nhà trƣờng luôn có sự kết hợp hài hòa giữa
cảm thụ cá nhân học sinh với định hƣớng sƣ phạm của ngƣời thầy.
17
Một quan điểm tiếp cận đồng bộ văn hóa, văn bản và đáp ứng của ngƣời
học là sự kết hợp chuẩn mực hài hòa đồng bộ, bảo đảm hiệu quả vững chắc
cho việc nghiên cứu và dạy học tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng.
1.1.3. Sự lựa chọn một hướng quan trọng trong quan điểm tiếp cận đồng bộ :
tiếp cận lịch sử phát sinh và việc vận dụng một cách thích hợp những hiểu
biết ngoài văn bản ( xã hội, văn hóa, nhà văn … ) để cắt nghĩa tác phẩm
Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi quan tâm đến việc vận dụng hiểu
đƣợc truyền miệng trong những đêm kể khan của già làng trƣởng bản, không
thể nảy sinh trong thời đại đã có máy in và các nhà xuất bản. Chiếc nỏ thần
trong truyền thuyết Cổ Loa không thể xuất hiện khi ngƣời Việt Nam đã biết
chống giặc bằng súng thần công.
Triết học Mác-xit cũng khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thƣợng tầng, mối quan hệ giữa xã hội với văn học. Trong “
Nguyên lý giảng dạy văn học” Gơ-lut-côp nhà khoa học giáo dục Nga có viết:
“Nếu chúng ta không hiểu chế độ chính trị và các chế độ xã hội của thế kỉ
XVIII, nếu chúng ta không hiểu cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại thống
trị của Pi-e đệ nhất, của nữ hoàng Ê-li-za, của E.Ca-tơ-ri-na và của Pôn đệ
nhất thì làm sao mà hiểu được văn học Nga thế kỉ XVIII ? Nếu không hiểu rõ
quan điểm lịch sử của Lê-nin, nếu không hiểu rõ học thuyết của Người về ba
giai đoạn của phong trào giải phóng Nga, không hiểu nguyên nhân những
biến cố xã hội lớn lao có tính chất tiêu biểu ở thế kỉ XIX và đầu XX thì làm
thế nào mà hiểu được văn học thời kì đó.”
Điều kiện kinh tế xét đến cùng bao giờ cũng là nhân tố quyết định sự thay
đổi của thƣợng tầng kiến trúc, của nghệ thuật nói chung và của văn học nói
riêng. Nhƣ vậy, sự hình thành và phát triển của một nền văn học trong một
giai đoạn nhất định nào đó có sự chi phối quan trọng của điều kiện kinh tế xã
hội. Vào thế kỉ XVI-XVII, ở Việt Nam nền sản xuất hàng hóa giản đơn đƣợc
mở rộng, thị trƣờng trao đổi phát triển, buôn bán mở mang hơn, nhu cầu giao
19
dịch trong xã hội về mọi mặt kinh tế, thƣơng mại, sinh hoạt là những nhân tố
thúc đẩy sự hình thành và phát triển một nền văn học chữ nôm. Tình hình văn
học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1930 có sự phát triển của nhiều xu hƣớng
văn học và một nền quốc văn mới phải kể đến ảnh hƣởng quyết định của sự
đổi mới trong cơ cấu kinh tế xã hội ta dƣới chính sách khai thác của thực dân
Pháp từ sau đại chiến lần thứ nhất. Chính sách khai thác này đã tạo ra mối
quan hệ sản xuất mới và sự ra đời nhanh chóng của các giai cấp tƣ sản, tiểu tƣ
* Tác giả ( Hoàn cảnh hẹp)
Mỗi tác phẩm văn chƣơng luôn là lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín
đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với cuộc sống. Tác phẩm nghệ
thuật phản ánh quy luật, bản chất của đời sống xã hội, chịu sự chi phối của
hoàn cảnh khách quan đồng thời nó cũng là con đẻ, là sản phẩm sáng tạo của
nghệ sĩ. Nhà văn phát hiện chân lí đời sống bằng sự mẫn cảm của trái tim, trí
tuệ và qua tƣởng tƣợng, hƣ cấu cùng tài năng sử dụng sáng tạo chất liệu ngôn
từ của ngƣời nghệ sĩ thì mỏ quặng chất liệu hiện thực xù xì kia đã thực sự kết
tinh thành những áng văn chƣơng kì diệu. Nhƣ vậy, tác phẩm văn chƣơng là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Dấu ấn chủ quan của nhà văn
xuyên thấm từ cách tiếp cận hiện thực, cách phát hiện vấn đề và phƣơng thức
chuyển tải tƣ tƣởng tình cảm qua hình tƣợng văn học.
Nói đến hiểu biết ngoài văn bản trong bối cảnh hẹp nghĩa là nhắc đến
những hiểu biết về cuộc đời, con ngƣời, sự nghiệp của các nhà văn. Muốn
hiểu đƣợc sâu sắc, toàn diện một tác phẩm văn chƣơng cụ thể không thể
không trang bị một lƣợng kiến thức đầy đủ, có hệ thống về tiểu sử nhà văn.
Bản thân con ngƣời vốn là một kì công của cuộc sống. Nó tồn tại với biết bao
mối quan hệ vô cùng tinh tế, phức tạp. Con ngƣời không phải một thực thể
đơn thuần, thiên tài lại càng có nhiều quan hệ phức tạp phong phú, sâu sắc
hơn. Vì vậy, tìm hiểu về một nhà văn là phải hiểu đƣợc cuộc đời tƣ, ảnh
hƣởng của điều kiện xã hội trong việc nhào nặn, đào tạo ra thiên tài; tìm hiểu
21
đƣợc thế giới quan, nhân sinh quan, nội dung tƣ tƣởng trong những tác phẩm
họ sáng tạo.
Mối quan hệ gia đình có ảnh hƣởng không nhỏ đến sự xây dựng tâm hồn,
nhận thức của nhà văn từ tuổi thơ ấu. Xã hội đầu tiên mà nhà văn tiếp xúc gần
gũi nhất từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi bƣớc chân vào ngƣỡng cửa cuộc đời
xã hội chính là gia đình riêng : ông bà, cha mẹ, anh chị em, bà con thân
thuộc…Những tập quán, những ấn tƣợng, những hệ thống tình cảm, tƣ tƣởng