BAI VIET SO 3 LOP 11
ĐỀ 1:So sánh tài sắc của Thuý Vân và Thuý Kiều trong đoạn
trích sau:
Đầu lòng 2 ả tố nga , Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
ĐỀ 2: Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống
nhau nhưng giọng thơ có điểm khác nhau như thế nào? Hãy làm
rõ ý kiến của mình
ĐÊ 3: Vẻ đẹp cuat hình tượng người nông dân trong "Văn tê
nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn ĐìnhChiểu
ĐỀ 4: Những cảm nhận sâu sắc của anh chị qua tìm hiểu cuộc đời
và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu
• Điểm khác nhau cơ bản có lẽ là ở chỗ: giọng điệu.
Cùng là văn trào phúng mà cái cách gây cười thì lại mang hai sắc
thái: một đằng là tiếng cười suồng sã, chua chát, còn một đằng là
tiếng cười thâm trầm đầy ngụ ý.
- Nguyễn Khuyến là người thành đạt về khoa cử (đỗ đầu 3 kỳ thi,
được gọi là Tam nguyên Yên Đổ), do đó giọng thơ điềm đạm, trầm
tĩnh hơn.
- Trần Tế Xương (Tú Xương) lều chõng đi thi mãi chỉ đỗ mỗi cái bằng
Tú tài (xưa), nên giọng thơ có phần trào lộng (phần lớn là tự trào),
cay cú, chua chát, thể hiện sự bất đắc chí của mình.
Giống nhau: đều dùng tiếng cười làm vũ khí phơi bày mặt trái của xã
hội và đều dùng tiếng cười để tự chế giễu đời mình
Khác nhau:sắc thái tiếng cười
tiếng cười của NK la tiếng cười nhẹ nhàng kín đáo tế nhị vô cùng sâu
sắc và thâm túy nhiều khi là tiếng cười ra nước mắt
TTX tiếng cười từ sự uất ức tắc nghẹn phá ra 1 cách quyết liệt dữ dội
quyết liệt
cai ne ban phai xet ve cuoc doi va su nghiep cua 2 nha tho
Nguyen Khuyen: côn duong cong danh du van mang noi diem thoi cuoc
nhung lai co vi the trong xa hoi
Trong sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã có
rất nhiều những sự gặp gỡ lý thú, đặc biệt là ta đều bắt gặp trong thơ
ca của hai ông đối tượng trào phúng mang tính khách thể và đối
tượng trào phúng mang tính chủ thể. Ở đối tượng trào phúng mang
tính chủ thể này tự trào là những tiếng cười chế giễu bản thân, từ hình
dáng bên ngoài đến phẩm cách bên trong, từ bản thân đến cuộc sống
gia đình… Mỗi một nhà thơ đều có những nỗi niềm, những tâm sự
riêng và những điều bất mãn về bản thân để từ đó tạo ra những vần
thơ tự trào theo từng tâm trạng khác nhau, phủ định hay khẳng định.
Nhưng quy chung lại thơ tự trào cũng để thổ lộ, giãi bày tâm sự những
điều bí bách trong lòng. Tất cả những nỗi niềm đó đều được Nguyễn
Khuyến và Tú Xương thổ lộ qua những vần thơ tự trào, tự chế giễu.
II. Điểm khác nhau
1. Giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến
Xuyên suốt những bài thơ tự trào của Nguyễn Khuyến là một giọng
điệu thâm trầm mà kín đáo, nhưng cũng hết sức thâm thuý. Đó là một
dòng thơ trào phúng của nhà nho, rất đậm nét và sinh động.
Có khi nhà thơ tự trào một cách trực tiếp : Tự trào, Tự giễu mình, Tự
thuật, Than nghèo, Than nợ…
Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng(Tự trào)
Và cũng có khi tự trào một cách kín đáo ý nhị. Vịnh tiến sĩ giấy 1 và 2,
Ông phỗng đá,…
Ông đứng làm chi đó hỡi ông
Trơ trơ như đá vững như đồng
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó
từng ngồi trên địa vị đó:
-Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
-Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi
(vịnh tiến sĩ II)
Nhiều khi Nguyễn Khuyến cũng buông những lời lẽ bông lơi, những
giọng cười tưởng như sảng khoái để diễn đạt những cơn sóng lòng
hết sức dữ dội:
- Lúc hứng đánh thêm dăm chén rượu
Khi buồn ngâm láo một câu thơ
(Đại lão)
- Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh thế mới hời
(Vịnh tiến sĩ giấy II)
Nhiều lúc ông cũng muốn buông xuôi vì đã nặng lòng lắm rồi: “Túi vũ
trụ mặc đàn sau gánh vác”. Chính vì thế những nụ cười xem ra nhỏ
nhẹ ấy nhưng chứa chan suy tư: Đại sự thì đã hỏng cả rồi mà mình thì
gàn dở vô tích sự. Nói như nhà nghiên cứu Đoàn Hồng Nguyên thì đó
là một kiểu tự trào “ngôn chí” có sự khẳng định bản ngã, nhưng đó vẫn
là sự khẳng định của một nhà nho theo những chuẩn mực đạo đức
nhà nho. Vì vậy tựu trung lại giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến
vẫn còn mang tính chất giáo hoá, có khi chưa thoát ra khỏi quy phạm
văn chương nhà nho.
2. Giọng điệu thơ tự trào của Tú Xương
Không thâm trầm kín đáo như Nguyễn Khuyến, Tú Xương luôn tự trào
một cách trực tiếp, khi thì phủ định khi thì khẳng định. Nói như nhận
xét của Đoàn Hồng Nguyên: Nếu thơ tự trào của Nguyễn Khuyến là
kiểu thơ tự trào mang phong cách của một nhà nho thì kiểu tự trào của
Tú Xương là kiểu tự trào thị dân, kiểu hình nhà nho thị dân.
Nếu như khi cười về hình dáng bản thân mình Nguyễn Khuyến nhẹ
(Ta chẳng ra chi)
Ông tự trào bằng những nụ cười chế giễu cái xấu của bản thân, tự
phủ định bản thân. Nhưng cách tự trào của ông không phải kiểu như
tự hạ mình xuống để tự cao giống như các nhà nho xưa hay làm mà
ông đã tự tạo cho mình một tiếng cười chế giễu rất riêng. Đoàn Hồng
Nguyên nói đấy là kiểu tự trào “phi ngôn chí”. Ông không phải tự hạ
thấp mình, cười để tự cao hay là một kiểu cười bông đùa mua vui mà
đó là tiếng cười “để giải thoát”, giải thoát khỏi tâm trạng bí bách dồn
nén trong lòng. Có người nói: Cách tự trào của ông là cách chế giễu
cái dốt nát nhếch nhác thảm hại của nhà nho phong kiến, chế giễu tính
chất ăn bám của đức ông chồng trong chế độ gia trưởng phong kiến,
chế giễu sự hèn kém… Nói chung ông đã chế giễu, đã phê phán tính
chất hủ lậu của kẻ sĩ phong kiến và những khuôn phép lỗi thời của xã
hội phong kiến. Theo chúng tôi ý kiến này có phải là áp đặt quá không
khi mà thơ tự trào là một thể loại bộc lộ tâm trạng của tác giả hơn là
có giá trị phê phán xã hội .
Nếu như thơ tự trào của các danh nho xưa giấu mình là để đề cao, thì
Tú Xương giễu mình, bôi xấu mình là để giải thoát bản thân. Thơ tự
trào của ông giống như một liều thuốc giảm những nỗi niềm đè nặng
trong lòng ông. Đây chính là điểm khác nhau rất rõ rệt giữa giọng điệu
tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến và trong thơ Tú Xương. Vì giọng
điệu tự trào trong thơ của Yên Đổ, xét cho cùng cũng là giọng điệu
chế giễu bản thân để tự khẳng định mình để đề cao mình, nó vẫn
mang phong vị kiểu tự trào của các danh nho xưa.
Với Tú Xương, bên cạnh những kiểu thơ tự trào, tự chế giễu mình, bôi
xấu mình, phủ định mình thì ông cũng có những bài thơ tự trào biểu lộ
thái độ tự khẳng định mình. Đó là một Tú Xương không xấu xí, dị hợm
mà là một ông Tú “phong lưu”, “thế thiệp” ở chốn thị thành:
Kìa thơ tri kỷ đâu xinh nhất
Nọ khách phong lưu bậc thứ nhì
kiến, vẫn là kiểu tự trào tự giễu để đề cao, để khẳng định mình.
Khác với Nguyễn Khuyến, thơ tự trào của Tú Xương mang một
phong cách rất riêng, ông không phụ thuộc hoàn toàn vào lối sáng tác
khuôn phép của nhà nho xưa. Thơ tự trào của ông có một sự bứt phá
ông không phụ thuộc vào kiểu sáng tác xưa cũ mà đó là những cảm
nhận của một nhà nho thị dân. Ông đã tạo cho mình một giọng điệu
trào phúng rất riêng, đầy ý thức cá nhân mà chúng ta tạm gọi là kiểu
trào phúng thành thị.
Chúng tôi có thể lý giải sự giống và khác nhau trong thơ tự trào
của hai nhà thơ này. Chúng ta có thể thấy, tuy là hai nhà nho sống
cùng thời, một già một trẻ nhưng hai cuộc đời của hai nhà nho ấy lại
hoàn toàn khác nhau. Nguyễn Khuyến với con đường công danh rất
thành đạt, ông từng làm quan mười năm sau đó là cuộc đời sống ở
nông thôn thanh bình. Còn ngược lại, Tú Xương từ lúc sinh ra, lớn lên
và cho đến mất ông đều sống ở nơi đô thị. Con đường công danh của
Tú Xương mịt mù lận đận trong khoa cử để rồi liên tiếp những lần
hỏng thi vỡ mộng, thất vọng, chán chường. Nguyến Khuyến là một
bậc chân nho, là đại diện khá tiêu biểu cho lớp người được xã hội
phong kiến đào tạo. Ông được vua Tự Đức ban cờ bỉên và hai chữ
Tam nguyên tài năng lừng lẫy một thời. Đường công danh mở ra biết
bao những vinh quang. Cuộc đời của ông sẽ chẳng có gì để ông có
thể tự giễu mình với một giọng điệu chua chát đượm cảm giác ân hận
nếu như tài năng ấy của ông thực sự cống hiến được cho dân, cho
nước, cho đời. Ấy vậy mà bỗng nhiên Nguyễn Khuyến nhận ra thực
chất cái xã hội đã đào tạo và tôn vinh mình. Và đến khi đạt đến đỉnh
cao của vinh quang cũng là lúc ông đã thừa nhận sự bất lực của tầng
lớp nho sỹ trước lịch sử. Nguyễn Khuyến là một trong rất ít những tri
thức thời kỳ ấy sớm nhận ra sự bất lực của giai cấp mình. Để rồi ông
đã quyết định rời bỏ quan trường về quê để tránh xa sự nhố nhăng
của xã hội, sự cám dỗ của đồng tiền. Ông đã bày tỏ tâm sự ấy rất
ông đả kích, châm biếm bản thân mình ông không nói một cách trực
tiếp mà kín đáo ý nhị thông qua hình ảnh “ông tiến sĩ giấy”. Hay khi
Nguyễn Khuyến giễu mình, cười cợt mình trở thành một kẻ vô tích sự,
không còn có ích gì nữa ông cũng chỉ nhẹ nhàng:
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ
Có rượu thời ông chống gậy ra
(Lên lão)
Ai cũng biết “bậc ăn dưng” là chỉ những người đã hết tuổi làm việc khi
trong làng có hội hè gì thì chỉ việc đi ăn không còn phải đóng góp. Mới
ngoài 50 tuổi đầu mà Nguyễn Khuyến đã ví mình như vậy, giọng điệu
có vẻ nhẹ nhàng nhưng dụng ý thì thật là không đơn giản. Trong thực
tế ở cái tuổi ấy và còn cao hơn nữa Nguyễn Khuyến đã lao động cật
lực bằng cả tâm hồn mình, ông để lại cho đời một gia tài văn học cho
đến bây giờ đã hơn 100 năm trôi qua mà tên tuổi của ông vẫn không
bị mờ phai.
Góp phần để tạo nên một giọng điệu thâm trầm nhẹ nhàng kín
đáo của Nguyễn Khuyến phải chăng do môi trường sống của nhà thơ
là ở vùng nông thôn, ít nhiều cũng không xô bồ như nơi đô thị. Sự
thanh bình của cảnh sắc nơi thôn dã cũng làm cho tâm hồn con người
được dịu bớt những lo toan căng thẳng. Chính vì thế mà giọng điệu tự
trào của Nguyễn Khuyến phải chăng có phần nhẹ nhàng và thâm trầm
cũng là nhờ lẽ đó.
Khác với cụ Tam Nguyên đã đỗ đạt, thành danh nay về quê ở ẩn,
Tú Xương vẫn còn là một thanh niên tuổi còn trẻ, sống ở nơi đô thị xô
bồ và cả đời lận đận trong khoa cử.
Trọn cuộc đời, từ khi sinh ra lớn lên và đến khi mất Tú Xương chỉ
quanh quẩn ở đất Thành Nam, khu đô thị đang bị thực dân hoá. Một
đô thị sầm uất, tu chí làm ăn khi xưa không còn nữa mà thay vào đó là
một đô thị xô bồ, cuộc sống đảo lộn, đạo đức xuống cấp…Gia đình
cũng vì thế mà xáo trộn
Hoàn cảnh như thế đã tạo nên ở Tú Xương một kiểu tự trào trực
diện, tự bôi xấu. Không phải ông bôi xấu mình là để đề cao mình như
trong thơ tự trào của Nguyễn Khuyến, ông bôi xấu mình như là để giải
thoát bản thân. Phải xấu xa như vậy, dốt nát như vậy ông mới giống
kẻ suốt tám lần thi không đỗ, mới giống kẻ vô tích sự ăn bám vợ…mới
giống kẻ sống giữa xã hội xô bồ nơi đô thị.
Nói như vậy để thấy rằng trong hoàn cảnh của Tú Xương, khó mà viết
được những vần thơ êm ả. Điều này đã tạo nên một giọng điệu mới
mẻ trong thơ của ông Tú, vượt xa kiểu tự trào của các nhà nho xưa để
hình thành một kiểu tự trào mới – kiểu tự trào thị dân. Nếu như kiểu tự
trào của Nguyễn Khuyến vẫn mang tính giáo hoá, phi ngã chưa thoát
khỏi quy phạm văn chương của nhà nho thì thơ tự trào của Tú Xương
đã làm được điều đó. Trong cảm thức thị dân, bằng lối tự trào, tự vịnh,
Tú Xương đã tạo nên một kiểu hình nhà thơ thị dân, một kiểu trữ tình
phúng thể thị dân. Trước Tú Xương, trong thơ trào phúng nhà nho
điều đó chưa hề có. Ông quả thực đã tạo được cho mình một kiểu tự
trào hết sức độc đáo, làm nên phong cách rất riêng
Tóm lại: So sánh giọng điệu tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú
Xương, không phải để xác định ai hơn ai mà để từ đó ta thấy được tài
năng cũng như phong cách của từng nhà thơ. Cho dù đã trải qua hơn
một trăm năm nhưng Nguyễn Khuyến và Tú Xương luôn để lại trong
lòng người đọc sự yêu mến kính trọng, Một cụ Tam Nguyên Yên Đổ
nhẹ nhàng mà sâu sắc, một ông Tú Vị Hoàng sắc sảo và dữ dội. Cùng
là tự cười mình song mỗi tác giả đều có những cách cười thật khác
nhau. Chính vì vậy so sánh giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến và
Tú Xương trong thơ để từ đó ta có thể thấu hiểu thêm về hai tác giả
qua sự tương đồng cũng như khác biệt trong sáng tác thơ của hai nhà
thơ, từ đó góp phần làm sáng tỏ phong cách của Nguyễn Khuyến,
Trần Tế Xương
Hồn thơ Nguyễn Khuyến
quê hương dĩ nhiên là ngỗng nước mình, chứ sao lại là ngỗng
nước nào:" Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái / Một tiếng trên
không ngỗng nước nào" ?( Thu vịnh). Khi "Không còn nước" nữa
thì con ngỗng kia cũng thành vong quốc, vong thân, thành
"ngỗng nước nào"thôi. Phải chăng ngỗng ấy cũng là ngỗng từ
năm ngoái, ngỗng của mình xưa mà không dám nhận, mà phải
đau đớn than là "ngỗng nước nào"? Rằng người không còn giữ
được nước thì bay về làm gì ngỗng ơi? Nhà thơ tủi hổ với cả
ngỗng trên trời và hoa dưới đất, muốn làm con cá lặn khuất dưới
ao bèo, ngại cả nỗi cắn câu. Đất đã mất thì trời phỏng còn ư,
mùa thu phỏng còn ư ? Hoa ấy, ngỗng ấy cũng là Nguyễn
Khuyến; như "mây côi" và "hạc độc" kia còn bị vong thân, vong
quốc huống nữa là trời đất, con người! Chúng tôi cho rằng, dù
viết về phong cảnh mùa thu nông thôn , dù nới rộng đề tài ra từ
bản thân mình đến xã hội, từ chim hoa, xóm mạc đến nước non
hồn thơ Nguyễn Khuyến bao giờ cũng toát lên một tinh thần yêu
nước sâu xa, yêu nước trong đau đớn, tủi buồn, yêu một cách
trầm lắng mà sôi sục, quặn thắt mà quan hoài, trào lộng mà trữ
tình, kín đáo mà động vang, cô đơn mà hòa nhập, lạnh lùng mà
bỏng cháy, dữ dội mà dịu êm. Bút pháp nghệ thuật bậc thầy
dùng thuỷ nói hỏa, dùng tĩnh tả động, dùng dương tả âm, dùng
vật tả tâm, dùng cảnh ngụ tình và ngược lại của Nguyễn Khuyến
đã khiến không ít người khi tiếp cận thi ca ông, mới đụng vỏ
ngoài đã tưởng thấu vào gan ruột. Ví như trường hợp ba bài thơ
thu của thi hào là bài "Thu vịnh", "Thu điếu", "Thu ẩm" được coi
là dấu hiệu thiên tài của nhà thơ nông thôn đệ nhất Việt Nam mà
có người, ngay cả khi viết sách giáo khoa cũng chưa thẩm hết
hồn thu Nguyễn Khuyến. Họ nhìn bằng mắt thường nên ngỡ mặt
ao thu bình lặng kia là đáy nước, nên bảo nhà thơ viết về mùa
thu với tâm trạng thư thái, an nhàn(!) Rằng nhà thơ uống rượu
hè :" Năm canh máu chảy đêm hè vắng / Sáu khắc hồn tan bóng
nguyệt mờ / Có phải tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước
vẫn nằm mơ " ( Cuốc kêu cảm hứng ). Thương thay cho "Ngỗng
nước nào" vẫn không chịu bay đi, còn kêu xé trời cao trong thảng
thốt nỗi niềm dù mùa thu đã chết. Con ngỗng vong thân, gãy
cánh, đáp xuống trang thơ mà hóa thành con cuốc Việt Nam
chiêu hồn nước tới bây giờ. Bài thơ "Cuốc kêu cảm hứng" thật
hay, thật đoạn trường, đọc xong muốn khóc. Chúng ta thương và
kính trọng Nguyễn Khuyến vô cùng. Ông đã nén cả một nhân
cánh lớn, một hồn thơ lớn, một tri thức lớn, một nỗi đau lớn vào
tiếng cuốc nhớ nước thảm thiết làm chảy máu cả tâm can người
đọc hôm nay.Tinh thần hoài cổ, tinh thần "Hay là nhớ nước vẫn
nằm mơ " len lỏi vào mọi tâm sự, mọi vui buồn, thương giận, nhớ
nhung của nhà thơ. Ngay cả khi vịnh ông phỗng đá với ngụ ý diễu
mình, nhà thơ vẫn xót xa hỏi :" Non nước đầy vơi có biết
không ?"Chính vì nỗi "non nước" khôn nguôi này làm ông tủi hổ,
làm như lỗi tại mình mà nước mất nhà tan, nên mượn thơ mà cả
thẹn :" Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già / Xuân về ngày loạn càng
lơ láo ". Một người tài cao, học rộng, thương xót, nương nhẹ từng
cọng cỏ nhành hoa, một nhân cách lớn, khiêm cung tự tại, lại
phải đưa mình ra mà diễu, mà tự cười cợt, bông phèng mình thì
hẳn là phải đau đớn lắm, khổ tâm lắm :"Mở miệng nói ra gàn bát
sách / Mềm môi chén mãi tít cung thang / Nghĩ mình lại gớm cho
mình nhỉ " hoặc :" Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu / Khi
buồn ngâm láo một câu thơ ". Một người thính nhạy như Nguyễn
Khuyến từng biết nghe bằng hồn, bằng vía, chán nỗi đời đục mà
giữ mình trong, đành ngụ mình, nương mình làm "Anh giả điếc
":" Trong thiên hạ có anh giả điếc / Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ
là ngây" " Sáng một chốc lâu lâu rồi lại điếc". Phải giả mù, giả
câm, giả điếc để sống, mà vẫn sống được trong xã hội nhố nhăng
thể, ở hồn chữ dân gian, gợi cảm, mới lạ, hiếm thấy ví như :"
Quyên đã gọi hè quang quác quác / Gà từng gáy sáng tẻ tè
te Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe ", " Bán buôn gió chị với
trăng dì" Nguyễn Khuyến quả là thánh chữ khi dùng động từ
"thập thò " trong câu thơ thần tình sau :"Một khóm thuỷ tiên dăm
bảy cụm / Xanh xanh như sắp thập thò hoa". Câu thơ "sắp thập
thò hoa" này mang đặc trưng nhất của phong cách Nguyễn
Khuyến. Từ đây, ta có thể thấy thi pháp " thập thò hoa" là thi
pháp độc đáo kỳ khu của thơ ông : thập thò giữa tình và cảnh,
giữa vật và tâm, âm và điệu, cảm và thức, thập thò giữa thực và
hư kiểu "hoa năm ngoái" và "ngỗng nước nào" Nguyễn
Khuyến mượn cảnh đẹp nông thôn mà yêu nước Việt, một tình
yêu buồn thương u uất được thể hiện bằng nghệ thuật trữ tình
trào phúng của thơ bậc thầy. Ông chính là ngọn Đọi sơn của thi
ca Việt Nam, nơi nhà thơ từng viết: " Chùa xưa ở lẫn cùng cây
đá / Sư cụ nằm chung với khói mây". Không, chính là hồn thơ
Nguyễn Khuyến vẫn "nằm chung với khói mây" trên đỉnh trời thi
ca dân tộc. Thắp nén hương ngày tết tưởng nhớ lần giỗ thứ 90
của Nguyễn Khuyến, cũng là dịp cho ta đọc lại câu thơ hay nhất
của thi hào mà giật mình trước tấm lòng trắc ẩn và tư tưởng sâu
sắc của tiền nhân, đã có nhã ý mượn tóc gió mà dối lại cho đời
sau câu hỏi nhức nhói khôn cùng của triết học nhân sinh :"Ngọn
gió không nhường tóc bạc a ?". Vâng, ngọn gió thời gian, ngọn
gió của quy luật muôn đời không nhường tóc bạc thời đại Nguyễn
Khuyến đã đành, mà kể cả thời đại chúng ta, nó cũng không biết
nhường ai cả, dù là tóc bạc của thi ca, của thiên tài đi chăng
nữa.,.
Hồn thơ Tú Xương
Thơ Tú Xương là một đặc sản của thời cuộc. Thời cuộc buổi Tây
sang, đánh cướp được nước ta rồi, họ hạ trại tính chuyện ăn ở lâu
còn đau trong trái tim. Đau khi đêm vắng trong tâm trí nghe
vọng tiếng gọi đò trên con sông đã lấp.
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
Sông Lấp ấy là của Nam Định, nhưng tiếng gọi đò thì đã thành
tiếng gọi hồn sông núi của con dân cả nước. Cái giật mình Tú
Xương là cái giật mình thân phận của cả một dân tộc.
Tú Xương là nhà thơ đặc sắc của toàn dân, của mọi địa phương.
Các thế hệ học trò đều học và nhớ thơ ông.
Trong các nhà thơ viết bằng thứ chữ vuông tượng hình, ông là
người đầu tiên và cũng là cuối cùng, đã đưa được không khí thị
dân tiền tư bản vào thơ. Ông đã mang được chất liệu, lẫn cảm
xúc hiện đại của thế kỷ XX vào các câu thơ được gọi là cổ điển.
Nguyễn Khuyến, nhà thơ lớn cùng thời với ông, sinh trước ông 35
năm và mất sau ông hai năm, tài thơ cũng cao, nhưng không
giàu chất sống hiện thực bằng ông, không đủ gay gắt việc đời
như ông. Nguyễn Khuyến là ông đại khoa không có được cái cay
đắng Trần Tế Xương, hay chữ mà lều chõng đến tám khoa, từ
1885 đến 1906, chỉ được cái tú tài.
Nỗi từng trải ấy đẻ ra cái nhìn hiện thực trào lộng vỗ mặt vào thứ khoa
cử cuối mùa, đào tạo tôi tớ cho thực dân xâm lược:
Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
Trên ghế bà đầm ngoi *** vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
Đầu đối với *** là nhục thì lấy động từ ngỏng mà trả thù. Hiện thực ấy
là hiện thực của thành Nam, nó nhỡn tiền đối với Tú Xương, nơi có
trường thi lôi thôi sĩ tử.
Một tỷ lệ lớn thơ Tú Xương là thơ nói việc đi thi, hỏng thi, gắn nhiều
tên đất, tên người của Nam Định. Tú Xương khi trữ tình thì còn tiêu tao
Định cái thời Trời đất xoay ra phố cả làng.
Đối diện với căn nhà ở của ông Tú, bên kia đường, còn gian nhà ông
ngồi dạy học. Gian nhà giột nát, người ta đã phải trùm tấm tôn lên
một nửa mái ngói, nhưng vẫn còn tường vách rui mè cũ và phía trước,
cuối cái sân con, còn một bức phù điêu vôi vữa hình cuộn thư, có chữ
triện. Mưa nắng phôi pha nhưng vẫn đủ gợi bâng khuâng thương nhớ
người xưa.
Phục chế lại nhà cửa, phục hiện và sưu tầm lại nghiên bút, lều chõng,
thi cử thuở xưa, biến đây thành bảo tàng Tú Xương, bảo tàng thơ và
bảo tàng việc học. Đấy không chỉ là tấm lòng chúng ta ghi ơn nhà thơ
mà còn dấy nên niềm tự hào của con dân Nam Định về truyền thống
hiếu học tự bao đời.
Tiếng gọi đò trong bài thơ Sông Lấp của Tú Xương làm xao xuyến mọi
lòng dân Việt bởi cái âm hưởng như gọi hồn đất nước. Theo tôi đấy là
bài thơ hay nhất của Tú Xương, và cũng là bài thơ của một giai đoạn
lịch sử, của hồn vía Việt Nam sâu nặng.
Hai câu thơ trích từ bài này đã được các nhà quản lý văn hóa khắc trên
bia mộ Tú Xương, nơi vườn hoa Vị Xuyên. Ngôi mộ được di dời từ
những năm đất nước còn gian khổ. Ngày ấy có người kêu, trách ngành
văn hóa: ép cụ Tú rời xa đồng ruộng, vào nằm nơi bụi bậm thị thành,
vườn hoa bóng liễu, trai gái trăng hoa. Bây giờ nhìn cả quần thể kiến
trúc nơi đây, một vùng trang trọng nhất của thành phố, nơi mọi du
khách đều đến thăm viếng, mới thấy việc chuyển mộ Tú Xương năm
ấy là có lý. Chỉ tiếc trong hai câu thơ trích, khắc quốc ngữ trên bia, có
một chữ sai, nên sửa.
Trở lại bài thơ Sông Lấp, bài thơ mang hồn ông Tú. Nam Định ta nên
cố định dáng vẻ tâm hồn gọi đò đêm này bằng một bức tượng Tú
Xương, y phục dân tộc, chới với gọi đò. Bức tượng nhìn ra sóng nước
sông Đào, bên chỗ Cầu Đò Quan thoáng đãng. Tú Xương gọi hồn nước.
Chúng ta gọi hồn ông. Chúng ta tự hào truy lĩnh tài sản tâm hồn ông
lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông vẫn nêu cao khí tiết,
không chịu khuất phục.
Người Việt Nam đánh giá ông không những là một nhà thơ lớn mà
còn là một nhà yêu nước, một nhà văn hóa Việt Nam của thế kỉ
19.
Quan điểm văn chương
Nguyễn Đình Chiểu tuy không nghị luận về văn chương nhưng
ông có quan điểm văn chương riêng. Quan điểm "văn dĩ tải đạo"
của ông khác với quan niệm của nhà Nho, càng khác với quan
niệm chính thống lúc bấy giờ. Nhà Nho quan niệm Đạo là đạo của
trời, còn Đồ Chiểu trên nguyên tắc đạo trời được đề cao nhưng
trong thực tế đạo làm người đáng quý hơn nhiều. Đó là quan
niệm bao trùm văn chương Đồ Chiểu.
Quan điểm văn chương Đồ Chiểu tuy không được tuyên ngôn
nhưng đây là quan điểm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân
tộc: Văn chương chiến đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến công
và tinh thần nhân ái.
Tác phẩm chính
Lục Vân Tiên sáng tác trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, có tính
chất tự truyện.
Dương Từ Hà Mậu (chưa xác định thời điểm sáng tác)