Những hình thức Vật chất hóa hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ HỢP NHỮNG HÌNH THỨC “VẬT CHẤT HOÁ” HOẠT ĐỘNG BÊN TRONG
CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: GS. NGND. PHAN TRỌNG LUẬN
1.1.1. Những hiểu biết chung về hoạt động
5
1.1.2. Trong dạy học, hoạt động được hiện thực hoá qua các phương
pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy học nhằm tạo ra sự tương tác giữa người
dạy và người học để đạt mục tiêu giáo dục 9
1.1.3. “Vật chất hoá” là cụ thể hoá những cái vốn trừu tượng, vô hình
bằng các hình thức cụ thể thông qua sản phẩm ta có thể nhìn, nghe

16
1.1.4. Hoạt động bên trong trong giờ học tác phẩm văn chương là quá
trình tiếp nhận tác phẩm của học sinh với tư cách một bạn đọc sáng tạo

20
1.2. Phần khảo sát
25
1.2.1. Đối tượng khảo sát
25
1.2.2. Một vài số liệu rút ra qua khảo sát
26
1.2.3. Một vài kết luận rút ra từ khảo sát
27
Chƣơng 2: NHỮNG HÌNH THỨC “VẬT CHẤT HOÁ” HOẠT
ĐỘNG BÊN TRONG CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC
TPVC (TÁC PHẨM TỰ SỰ) 33


62
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành dạy học tác phẩm
Chiếc thuyền ngoài xa theo hướng học sinh là chủ thể tiếp nhận, là bạn
đọc sáng tạo của nhà văn 63
3.2. Thiết kế giáo án dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
65
3.3. Giờ dạy thể nghiệm
86
3.3.1. Việc thể nghiệm thiết kế
86
3.3.2. Kết quả thể nghiệm
87
3.3.3. Đánh giá giờ dạy thể nghiệm
87
KẾT LUẬN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
90
PHỤ LỤC
1

giảng dạy tác phẩm văn chương nhưng chưa có đầu tư chiều sâu, vẫn dừng lại
ở khâu trình chiếu. Giáo viên chỉ bận lo bấm chuột, học sinh nhìn những dòng
chữ qua nhanh không đọng lại ấn tượng về tác phẩm, không có sự nếm trải
nghệ thuật, không phát huy khả năng diễn đạt và trình bày những ý tưởng, suy
nghĩ độc đáo hay nói cách khác mối liên hệ giữa nhà văn thông qua tác phẩm
với bạn đọc học sinh vẫn chưa được thiết lập.
1.4. Những biện pháp khơi gợi hoạt động bên trong của học sinh còn nghèo nàn.
GV chủ yếu vẫn sử dụng hình thức vấn đáp nhưng rất ít câu hỏi mang tính trí
tuệ cao. Như vậy kiến thức, tư tưởng, tình cảm của học sinh bị áp đặt, giờ học
mất đi tính dân chủ. Trong khi đó tư tưởng đổi mới dạy học Văn của chúng ta:
trả học sinh về đúng vị trí, vai trò là bạn đọc sáng tạo của TPVC.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu là: Những hình thức “
vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học TPVC ở THPT.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài khẳng định bằng lí luận và thể nghiệm khoa học việc “vật chất
hoá” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương
thay đổi cơ chế dạy học, góp phần hoàn thiện quá trình đổi mới dạy học
TPVC theo hướng tích cực: học sinh là bạn đọc sáng tạo.
3. Nhiệm vụ của đề tài
3.1. Khảo sát giáo án, các hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh
trong giờ học tác phẩm văn chương ở THPT làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
3.2. Nghiên cứu tâm lý học hoạt động và các bước tiếp nhận tác phẩm văn
chương của học sinh làm cơ sở lý luận cho đề tài.
3.3. Đề xuất được một số hình thức “vật chất hoá” hoạt động bên trong của
học sinh nhằm phát huy tính chủ thể của học sinh trong giờ học TPVC, giúp
học sinh tự phát triển về tri thức, tâm hồn và nhân cách, đáp ứng yêu cầu của
dạy học hiện đại và của xã hội. 3

6.3. Phương pháp thể nghiệm
Người viết tiến hành soạn bài và dạy thể nghiệm để kiểm tra tính khả
thi của đề tài.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm văn
chương ở Trung học Phổ thông.
Chương 2: Những hình thức “vật chất hóa” hoạt động bên trong của
học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông.
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm giáo án dạy học tác phẩm Chiếc thuyền
ngoài xa theo hướng “vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong
giờ học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông. 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY
HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Những hiểu biết chung về hoạt động
Hoạt động trong tâm lí học được hiểu là một hệ thống các thao tác hay

khiển của giáo viên đồng thời đóng vai trò chủ thể trong quá trình chiếm lĩnh
tri thức vì không ai có thể học hộ, học thay các em khi các em không muốn
học. Học là công việc cá nhân, học là hoạt động của bản thân người học.
Vư-gôt-xki cũng cho rằng hoạt động luôn luôn sử dụng công cụ vật
chất cũng như tâm lý. Hoạt động lao động có mục đích là cội nguồn và tiền
ảnh của bản thân hoạt động tâm lý bởi mọi hoạt động của con người đều có
mục đích rõ ràng. Mục đích của hoạt động dạy nhằm phát triển học sinh một
cách toàn diện cả về tri thức, kĩ năng và nhân cách. Đối với người học, họ sẽ
hứng thú hơn, học hiệu quả hơn khi xác định được mục đích học để làm gì.
Có mục đích xa- học để nên người, biết sống có ý nghĩa, giá trị hơn trong
cuộc đời, có mục đích gần- học cái này để làm cái sau, muốn trả lời câu hỏi
này phải biết kiến thức này. Chính vì vậy trong quá trình dạy học GV luôn chỉ
cho học sinh học điều này có ích gì.
Mục đích học tập xuất phát từ động cơ học tập. Ô.Kôn định nghĩa
“Động cơ là sự kích thích bên trong đối với hành động, là một nguyện vọng
thoả mãn một nhu cầu nhất định” [30, tr. 157]. Theo sự phân chia các động cơ
của hành vi, động cơ học tập thuộc loại động cơ thứ cấp, là những gì được cá
nhân ý thức có tác dụng kích thích, thúc đẩy cá nhân trong quá trình học tập,
gắn liền với những nhu cầu. Động cơ học tập của học sinh được biểu hiện ra
bên ngoài là lòng khao khát hiểu biết, khao khát chiếm lĩnh tri thức và hoàn
thiện nhân cách của mình. Động cơ học tập là yếu tố vô cùng quan trọng có ý
nghĩa quyết định đối với toàn bộ hoạt động học. Kết quả học tập phụ thuộc
vào động cơ học tập. Động cơ học tập không có sẵn, không áp đặt từ bên

7
ngoài mà nó được hình thành dần dần trong quá trình chiếm lĩnh tác phẩm văn
chương dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của giáo viên. Giáo viên cần
giúp học sinh hình thành động cơ bên trong bởi động cơ học tập bên ngoài
không xuất phát từ nhu cầu nhận thức, khao khát hiểu biết mà từ những yếu tố
thi đua, thưởng phạt, đe doạ gây ức chế hoạt động học. Động cơ bên trong

quan niệm của Vư-gôt-xki. Theo Rubinxtein, “hoạt động phải được hiểu là hệ
thống thao tác hay hành vi ứng xử có sự tham gia của ý thức” [ 5, tr.303]
.Tâm lý, ý thức là một chất lượng chuyên biệt của đời sống con người. Tất cả
các đặc điểm tâm lý bên trong của hoạt động hay thao tác về nguyên tắc có
thể được biểu hiện ra trong sự diễn biến bên ngoài của hành động. Kết quả là
trong quan hệ giữa hoạt động bên ngoài và tâm lý bên trong, hoạt động bên
ngoài là phương tiện để tâm lý thể hiện- là điều kiện cần cho các hiện tượng
tâm lý bên trong. Các hiện tượng tâm lý bên trong là các mặt, các thành tố của
hoạt động, phản ánh những điều kiện trong đó hoạt động được thực hiện. Sự
qui định lẫn nhau của cái bên ngoài và bên trong như vậy biểu hiện sự thống
nhất giữa hoạt động và ý thức.
Trong truyền thống nhận thức luận triết học từ lâu đã phân biệt hoạt
động bên trong và hoạt động bên ngoài. Hoạt động bên trong được hiểu là
hoạt động của tư duy, ý thức. Hoạt động bên ngoài là trực quan, vật chất, là
những cử động Tuy nhiên việc phân biệt chỉ có tính tương đối theo cách tiếp
cận hoạt động. Không phải hoạt động bên trong là hoàn toàn có tính chất tâm
lý còn hoạt động bên ngoài là phi tâm lý. Hoạt động bên trong và bên ngoài
có quan hệ, tác động qua lại với nhau, Lê-on-chiep đã xây dựng nên và giải
quyết trên thực tế vấn đề giữa ý thức và hoạt động trên cơ sở Vư-gôt-xki và
Rubinxtein đặt ra. Đó là nguyên lý chủ đạo của tâm lý học Liên Xô, tâm lý
học macxit.
9
Cấu tạo chung của hoạt động:
Trong từng hoạt động riêng biệt có hai hàng, một bên là động cơ, mục
đích, phương tiện để đạt được nhiệm vụ đề ra, một bên là từng hoạt động
riêng, hành động, thao tác. Đơn vị của hoạt động ở con người mang tính chủ
quan của chủ thể là hoạt động, hành động, thao tác còn động cơ, mục đích,

về trí tuệ và nhân cách.
Trong quá trình dạy học tác phẩm vă chương, GV sử dụng các phương
pháp ,biện pháp đặc trưng cho môn học này như:
PP đọc sáng tạo- PP tiếp nhận thế giới hình tượng nghệ thuật một cách
sáng tạo qua sự cảm thụ trực tiếp. Biện pháp của PP đọc sáng tạo là đọc diễn
cảm. Đọc diễn cảm thể hiện mối quan hệ xúc cảm và sự hiểu biết sâu sắc của
HS đối với TPVC.
PP gợi mở/ PP nghiên cứu bộ phận/ PP phát kiến- PP này dẫn dắt học
sinh từng bước tham gia, phát hiện, phân tích, đánh giá từng bộ phận của tác
phẩm. PP này hỗ trợ cho PP đọc sáng tạo giúp HS mở rộng, đào sâu hoạt
động nhận thức. Học sinh phải thực sự động não để phân tích, đánh giá các
hiện tượng văn học. Biện pháp của PP này là GV sử dụng hệ thống câu hỏi
gợi mở từ những vấn đề then chốt về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
nhằm khơi sâu và nâng cao năng lực cảm thụ của học sinh; biện pháp ra bài
tập chuẩn bị trước để học sinh nắm vững TP trong mối quan hệ so sánh đối
chiếu với các TP khác. Những biện pháp này sẽ phát triển năng lực cảm thụ
chi tiết và khả năng khái quát hóa cho học sinh.
PP tái tạo- PP này nhằm tái hiện tri thức có sẵn trong SGK, bài giảng,
các bài nghiên cứu, chuyên luận cần tham khảo.Tái tạo đối với HS là tiếp thu
tri thức mới ở dạng sẵn có, các em trực tiếp tham gia có ý thức vào quá trình
nhận thức thông qua hoạt động tư duy của bản thân. PP này không thay đổi
nội dung kiến thức mà chỉ thúc đẩy quá trình tiếp thu vận dụng tri thức.
Những biện pháp của PP tái tạo GV sử dụng như: diễn giảng; thuyết trình;

11
giảng thuật, giảng bình; đọc; ghi bảng; đề xuất câu hỏi có vấn đề và ra bài tập.
HS thực hiện các biện pháp như tóm tắt bài giảng; tóm tắt luận điểm, luận cứ,
luận chứng trong SGK, chuẩn bị bài thuyết trình hoặc tham gia tranh luận.
PP nghiên cứu- PP này là một bước chuyển hóa tự nhiên từ PP gợi mở
để đi sâu vào tài liệu và TPVC, bước đầu hình thành kĩ năng phân tích và cắt

động nghệ thuật phức tạp và tế nhị. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng
nói “Bình thơ giống như đánh đàn đệm cho người ta hát, lên dây chùng một tí
hay căng một tí cũng lạc điệu. Bình mà nói chưa đến thì không đạt. Nói quá đi
thì là tán. Nói nhiều cũng không nên, phải biết dừng lại đúng chỗ, đúng lúc để
cho người đọc suy nghĩ mở rộng.Có khi không nên nói gì để cho người đọc
tiếp xúc với những câu thơ không môi giới” [21, tr. 177]. Mục đích của giảng
bình là làm sao truyền được rung cảm, ý kiến của mình về tác phẩm văn
chương đến được người nghe làm cho người nghe cùng rung động, cùng suy
nghĩ như mình mà vẫn phù hợp với ý định nghệ thuật của nhà văn. Biện pháp
của PP giảng bình là kết hợp nhuần nhuyễn giữa giảng và bình. Giảng mà
không bình thì ý gọn mà khô khan, bình mà không giảng thì ý miên man xa
vời không thuyết phục. Nhờ giảng mà lời bình thêm sâu. Có thể giảng trước,
giảng cho rõ nghĩa sau đó mới bình. Có khi bình giảng đi song song, vừa
giảng lại vừa bình…lời bình được tiến hành bằng một lời tâm sự, một câu
chuyện tưởng là chủ quan nhưng lại có tác dụng khêu gợi sâu xa; có khi lời
bình là lời khen trực tiếp nhưng có ý nghĩa khái quát về giá trị của áng văn;
bình theo con đường so sánh đối chiếu để làm nổi bật đối tượng được bình…
1.1.2.2.Kỹ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học là những tình huống hành động tương đối ngắn của
GV và HS nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
Các kĩ thuật dạy học: Lược đồ tư duy; công não; tham vấn; phòng tranh; bể
cá; 635; tạo kích thích; quan sát….

13
Kỹ thuật lược đồ tư duy: Theo Tony Buzan lược đồ tư duy là một kỹ
thuật sáng tạo. Những suy nghĩ được viết ra giấy hay trên máy tính nhằm trình
bày cấu trúc tư duy cá nhân được rõ ràng. Sử dụng kỹ thuật này trong việc
tổng kết hệ thống hóa kiến thức giúp cho HS nhớ bài học một cách hệ thống.
Kỹ thuật công não: Đây là kỹ thuật hội ý bao gồm một nhóm người
nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả các ý kiến

- Viết câu trả lời lên những tờ phiếu được phát (nhiều nhất là 5 từ), viết chữ in
hoa.
- Trên mỗi tờ phiếu chỉ trình bày một ý.
- Nội dung các tờ phiếu sẽ được đọc lên và treo những tờ giấy đó lên bảng
ghim giấy
- Thảo luận để xem có thể rút ra được bài học gì sau khi làm việc.
Kỹ thuật phòng tranh: Kỹ thuật phòng tranh giúp thu thập, phát triển ý
tưởng, chủ kiến về một chủ đề, một nội dung quan tâm của một nhóm người.
Tiến trình:
- Tất cả các thành viên phác họa những ý nghĩ đầu tiên về cách giải quyết vấn
đề trên một bìa rồi dính lên bàn hay lên tường như một cuộc triển lãm tranh.
- Trong một vòng triển lãm, mỗi thành viên trình bày suy nghĩ của mình về
cách giải quyết (giai đoạn tập hợp)
- Trong giai đoạn thứ hai của việc tìm lời giải cá nhân, các phương án giảI
quyết vấn đề tiếp tục được tìm kiếm, đề xuất.
- Trong giai đoạn đánh giá, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại
và lựa chọn để đưa ra phương án tối ưu.
Kỹ thuật bể cá: Học sinh được chia thành hai nhóm: nhóm cá và nhóm
quan sát. Nhóm cá hoạt động ở giữa lớp thực hiện một nhiệm vụ học tập nào
đó của GV. Nhóm quan sát ngồi quan sát nhóm cá hoạt động, ghi chép để trao
đổi lại.

15
Kỹ thuật bể cá giúp học sinh phát triển về kĩ năng giao tiếp; kỹ năng truyền
thông; kỹ năng điều hành cuộc họp…
Kỹ thuật 365: Kỹ thuật này nhằm phát huy tối đa hoạt động tư duy,
sáng tạo của học sinh trong việc đề xuất ý kiến trước một vấn đề đặt ra, giúp
các em có cái nhìn toàn diện khi thực hiện.
Tiến trình:
Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến

của HS, tùy theo đối tượng HS, tùy theo nội dung, tùy theo điều kiện thời gian
nhưng tất cả nhằm mục đích “ GV dạy ít mà học sinh học được nhiều và làm
cho nhà trường bớt nhàm chán và bớt sự nhọc nhằn” Comeski.
1.1.3. “Vật chất hoá” là cụ thể hoá những cái vốn trừu tượng, vô hình bằng
các hình thức cụ thể thông qua sản phẩm ta có thể nhìn, nghe
Như chúng ta đã biết, thế giới bên trong- cảm xúc, suy nghĩ, tâm hồn- của
học sinh nói riêng và của con người nói chung vốn trừu tượng không dễ nhận ra.
Trong quá trình tổ chức, điều khiển, hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh TPVC, GV
không biết “hoạt động bên trong”- hoạt động tư duy, nhận thức của học sinh có
diễn ra không, diễn ra đến đâu, ở mức độ như thế nào, đã đạt mục tiêu chưa nếu
người dạy không biết cách “vật chất hoá” được thế giới ấy bằng các thao tác,
cách thức, biện pháp khác nhau thông qua các sản phẩm học tập. Sản phẩm đó sẽ
cho ta biết được quá trình chiếm lĩnh tác phẩm của học sinh ở mức độ nào từ đó
điều chỉnh hoạt động dạy của mình để hoạt động học thực sự diễn ra theo hướng
tích cực, đổi mới - học sinh là bạn đọc sáng tạo.
Vận dụng lý luận của Rubinxtein vào phạm vi đề tài thì sự chuyển hoá
của khách thể thành chủ thể chính là quá trình người học sinh từ việc là đối
tượng dạy của giáo viên đồng thời đóng vai trò chủ thể của quá trình nhận
thức thể hiện tính tích cực qua sản phẩm hoạt động học tập của mình. Giáo
viên phải “vật chất hoá” hoạt động bên trong của HS bằng nhiều cách khác
nhau để học sinh bộc lộ thông qua các sản phẩm đó. “Vật chất hoá” hoạt

17
động bên trong là việc sử dụng các phương pháp, biện pháp, kỹ thuật để
những suy nghĩ, cảm xúc được biểu hiện ra bên ngoài một cách cụ thể qua
các sản phẩm học tập. Nói một cách khái quát “vật chất hoá” hoạt động bên
trong là việc sử dụng nhiều hình thức dạy học khác nhau để đánh thức tiềm
năng của học sinh. Trong giờ học tác phẩm văn chương, “vật chất hoá” hoạt
động bên trong của học sinh chính là giáo viên sử dụng các biện pháp thao
tác, cách thức, các kĩ thuật dạy học để thúc đẩy quá trình tâm lý nhận thức của

hiểu thật kĩ tác phẩm, đọc nhiều bài nghiên cứu, sách tham khảo để lên lớp
dạy sao cho thật hay, thật sâu, thật hấp dẫn, thiên về trình bày, giải thích nội
dung nhằm truyền tải tri thức sẵn có của mình vào đầu học sinh theo kiểu rót
kiến thức, ban phát kiến thức. Học sinh như một khách thể thụ động chịu sự
tác động hoàn toàn của giáo viên trong quá trình dạy học. Học sinh chỉ có
nhiệm vụ nghe, ghi chép, nhớ những điều giáo viên giảng. Học sinh không
phải suy nghĩ nhiều mà chỉ cần là những thính giả cần cù- càng trật tự lắng
nghe càng tốt, khi làm văn họ là những người “thợ chữ‟‟ chỉ việc nói lại đúng
những gì GV đã dạy. Mối liên hệ giữa giáo viên và học sinh là mối liên hệ
giữa người giảng, người nghe; người truyền thụ với người tiếp thu; người
cung cấp thông tin và người tiếp nhận; người trình bày và người ghi nhớ. Nói
cách khác, giáo viên dạy văn theo lối cũ không khác gì người vừa thổi còi vừa
đá bóng, vừa là nhạc trưởng kiêm luôn nhạc công còn học sinh là những khán
thính giả. Giáo viên sẽ kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập theo khả năng
ghi nhớ và tái hiện của học sinh qua những điều đã nói. Mối quan hệ giữa sgk,
tác phẩm với học sinh bị phá vỡ. Học sinh không có thói quen đọc tác phẩm,
thậm chí không cần đọc tác phẩm, không suy nghĩ, cảm nhận, phát hiện vấn
đề đặt ra trong tác phẩm. Tư cách một bạn đọc sáng tạo của học sinh bị GV
tước đoạt trong cơ chế cũ, mất đi tính dân chủ trong qua trình tiếp nhận tác
phẩm của học sinh.

19
“Vật chất hoá” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác
phẩm văn chương ở THPT đã làm thay đổi hệ hình của giờ học, nghĩa là ta đã
chú ý tới việc phát huy năng lực chủ thể của học sinh - một chủ thể đầy năng
động, sáng tạo, một chủ thể “rất nhạy cảm, thông minh lạ lùng”(Phạm Văn
Đồng). Tất cả mọi hoạt động trong giờ học đều hướng tới sự phát triển toàn
diện của học sinh bởi ở lứa tuổi này thế giới quan hình thành một cách đặc
biệt rõ rệt, quan điểm, niềm tin được xác lập vì thế giáo viên phải tìm cách
giúp học sinh phát huy được vai trò chủ thể của mình - học sinh trở thành

tiếp nhận tác phẩm của học sinh với tư cách một bạn đọc sáng tạo
Tác phẩm văn chương là sản phẩm tinh thần đặc biệt - đưá con tinh
thần - của người nghệ sĩ sau bao trăn trở, thai nghén. Nó là hiện thực cuộc
sống được tái sinh qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. TPVC có đặc
trưng rất riêng không giống các tác phẩm nghệ thuật khác. Đến với nó, chiếm
lĩnh nó không thể chỉ bằng đôi tai, đôi mắt, khối óc mà phải bằng cả trái tim
bởi nó là nghệ thuật ngôn từ mang tính phi vật thể. Để có sự hiểu biết, cảm
nhận và rung động với những điều nhà văn gửi gắm trong tác phẩm qua thế
giới hình tượng, người đọc phải thâm nhập vào thế giới ấy. Ở đây tôi muốn
nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa bạn đọc trong trường học với bạn đọc
ngoài xã hội. Mặc dù cả hai bạn đọc này cùng là chủ thể nhận thức, cùng
tham gia vào quá trình lĩnh hội văn học. Họ cũng phải có một sự hiểu biết
nhất định về văn học, về cuộc sống nhưng bạn đọc ngoài xã hội được đọc
những tác phẩm mà họ thích, không cần phân tích, đánh giá, có thể đọc hết
hoặc không hết tác phẩm vì bất cứ lí do nào đó. Tác động của văn chương đến
nhận thức, tâm hồn, nhân cách của họ nhiều hay ít, có hay không đều không
được kiểm tra đánh giá. Trong khi đó, việc đọc tác phẩm của bạn đọc HS ở
trường phổ thông có mục đích, yêu cầu, có định hướng cụ thể. Đối với họ,
việc đọc và học TPVC có quan hệ biện chứng với nhau. HS phải đọc và học
theo kế hoạch, có sự chuẩn bị, có sự phân tích, đánh giá. Sau mỗi tác phẩm họ

21
phải đạt được trình độ tri thức và kĩ năng nhất định. Đọc TPVC đối với HS
không mang mục đích tự thân mà đọc, học TPVC để làm người, để biết cách
ứng xử trong cuộc sống. Chính vì thế người giáo viên vừa là bạn đọc của nhà
văn vừa là cầu nối dẫn dắt học sinh đến với tác phẩm để học sinh tự chiếm
lĩnh. Không chỉ giúp học sinh có những tri thức về văn học, các kĩ năng, kĩ
xảo cần hình thành, quan trọng hơn cả trong nhiệm vụ môn Văn là đời sống
tâm hồn của học sinh. Sức mạnh của môn Văn là giáo dục và hình thành nhân
cách cho học sinh thông qua những tác phẩm văn học. Cách giáo dục này rất

đọc phải tái hiện bằng hình dung, tưởng tượng. Nói như G.S.Phan Trọng
Luận “Giống như không có nước rửa ảnh thì mọi chân dung, hình ảnh chỉ
nằm im lìm trên cuộn phim. Có tưởng tượng tái hiện thì thế giới tác phẩm mới
hiện hình với bao nhiêu bức tranh nhiều màu, với bao nhiêu con người khác
nhau về diện mạo, tính cách” [19, tr.194]. Bởi mọi chi tiết trong bức tranh
không có khả năng đồng hiện, nó chỉ hiện dần lên qua khâu đọc. Muốn tái
hiện thế giới nghệ thuật– bức tranh nghệ thuật bằng ngôn từ- học sinh phải
biết đặt mình vào chỗ đứng, điểm nhìn của nhà văn. Nhà văn miêu tả bức
tranh cuộc sống bằng ngôn từ, học sinh muốn nhìn được bức tranh ấy phải
bằng hình dung, tưởng tượng và do thể hiện bức tranh bằng ngôn từ nên nó
còn nhiều khoảng trống để bạn đọc bổ sung. Khoảng trống đó có thể là do nhà
văn không nói hết mọi điều ở hình ảnh, chi tiết, nhân vật hoặc có thể do bản
thân các chi tiết hình ảnh được đặt cạnh nhau theo phương pháp dựng. Bạn
đọc bổ sung khoảng trống đó bằng kinh nghiệm, vốn văn hoá của mình hoặc
phải suy luận giải thích và kết nối chúng lại với nhau sao cho hợp lý.
Tri giác ngôn ngữ và tái hiện mới chỉ dựng lên trong tưởng tượng của
người đọc về thế giới nghệ thuật mà tác giả dựng lên nhưng thế giới ấy chưa
đi vào tâm hồn người đọc. Nói cách khác, nó mới ở trên đầu, chưa đi xuống
trái tim người đọc. Để chuyển thế giới nghệ thuật của tác phẩm vào thế giới
tâm linh người đọc cần có liên tưởng. Nhà văn nổi tiếng Pautôpxki đã từng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status