Phát triển năng lực chủ động tích cực học tập của học sinh trong dạy học hóa học thông qua hình thức dạy học dự án - Pdf 25


§¹i häc Quèc gia Hµ Néi
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ MINH THU PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHỦ ĐỘNG TÍCH CỰC HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
THÔNG QUA HÌNH THỨC DẠY HỌC DỰ ÁN LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM HÓA HỌC

Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học (Bộ môn Hoá học)
Mã số: 60.14.10 Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: TS Trần Trung Ninh



VIẾT TẮT
NỘI DUNG ĐỌC LÀ
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
PP
Phương pháp
PPDH
Phương pháp dạy học
ICT
Information Communication Technology
CNTT
Công nghệ thông tin
CT/TW
Chỉ thị/thông tư
PBl
Project based learning
THPT
Trung học phổ thông

7
1.1 Thực trạng dạy học Hóa học hiện nay
7
1.2. Định hướng đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo
8
1.3. Dạy học dự án
9
1.3.1. Khái niệm
9
1.3.2. Đặc điểm của dạy học dự án
10
1.3.3. Vai trò của người dạy người học trong dạy học dự án
12
1.3.4. Các giai đoạn của dạy học dự án
15
1.3.5. Phân loại dự án
19
1.3.6. Đánh giá ưu, nhược điểm
19
1.4. Dạy học với hỗ trợ của ICT
21
1.5. Các kỹ năng được phát triển
22
Chƣơng 2: ÁP DỤNG DẠY HỌC DỰ ÁN VÀO GIẢNG DẠY
MÔN HÓA HỌC Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG

26
2.2. Kết quả một số dự án dạy học Hóa học tiêu biểu
26
2.2.1. Dự án thứ nhất

82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
84
PHỤ LỤC Danh môc c¸c b¶ng STT
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1
Phân loại dự án theo nhiệm vụ và hình thức sản phẩm
13
Bảng 2.1
Phân bố các dự án hóa học ở chương trình phổ thông
26
Bảng 2.2
Phân vai và nhiệm vụ cho từng thành viên của nhóm
(dự án 1)
31
Bảng 2.3
Kế hoạch hoạt động của nhóm (dự án 1)
32
Bảng 2.4
Tiêu chí đánh giá sản phẩm (dự án 1)

Mức độ biểu hiện hứng thú học môn hóa học
76
Bảng 3.5
Các năng lực được phát triển ở học sinh
78 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

STT
Tên sơ đồ, hình ảnh
Trang
Sơ đồ 1.1
Các giai đoạn của dạy học dự án
18
Hình 2.1
Sản phẩm dự án 1- nhóm 1 lớp 11A9
40
Hình 2.2
Sản phẩm dự án 1- nhóm 4 lớp 11A8
41
Hình 2.3
Sản phẩm dự án 1- nhóm 3 lớp 11A11
42
Hình 2.4
Một số sản phẩm của các lớp
55
Hình 2.5
Bìa sản phẩm dự án 2-nhóm 2- lớp 12A4
56

tiên, Tim Berners Lee
1
cũng kinh ngạc. Vài năm gần đây, mỗi năm có tới 30 triệu
websites mới ra đời. Ở Hoa Kỳ, bình quân mỗi năm có 125.000 tựa sách mới, mỗi
người tiếp nhận 3.583 giờ dữ liệu qua máy vi tính, máy thu hình, điện thoại cầm tay
(bình quân 9 giờ/ ngày)
2
. Nhiều nước đang ở thời kỳ hậu công nghiệp và trong quá
trình xây dựng nền kinh tế tri thức. Nhà báo Thomas Friedman của tờ báo New
York Times đã đưa ra khái niệm dùng trọng lượng của sản phẩm để so sánh trình
độ quốc gia. Hãy xem một ví dụ: để thu được 500USD, người ta đã làm gì? Ông đã
trả lời
3
:
1 Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam bán 5 tấn than đá;
2 Nông dân Đồng bằng Sông Cửu long bán 2 tấn gạo;
3 Trung Quốc bán chiếc xe gắn máy trọng lượng 100kg;
4 Hãng Sony bán chiếc tivi trọng lượng 10 kg;
5 Hãng Nokia bán chiếc điện thoại 0,1 kg;
6 Hãng Intel bán con chip máy tính trọng lượng 0,01 kg;
7 Hãng Microsoft bán một phần mềm trọng lương 0 kg.
Một quốc gia dù chưa hoặc đang phát triển, nhưng nhờ hội nhập toàn cầu,
nếu biết tận dụng cơ hội, cũng có thể sử dụng được một phần thành tựu đó cho mục

2
đích phát triển của quốc gia mình. Dĩ nhiên là đi kèm với thách thức và nguy cơ,
như Việt Nam chúng ta.
Sự bùng nổ thông tin khiến vòng đời của sách giáo khoa và giáo trình đã phải
rút ngắn, nếu không sẽ bị coi là lạc hậu và phản tác dụng. Trong tình hình này,
trường học và giáo viên không còn độc quyền và ngày càng mất vị trí độc tôn là

thức, luyện các kỹ năng làm bài kiểm tra và bài thi mà ít để ý đến việc dạy học sinh
cách suy luận khoa học, rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo, ít khuyến khích cách
tìm tòi, khám phá. Nói chung việc dạy học hiện nay chủ yếu là dạy kiến thức mà
không để ý đến dạy cho học sinh cách học, cách suy nghĩ, cách giải quyết các vấn
đề một cách thông minh, độc lập và sáng tạo. Hậu quả là học sinh học thụ động,
học chỉ để ứng thí và đặc biệt sự say mê yêu thích môn học, sự hứng thú đam mê
thực sự đang bị thui chột trong bản thân các em. Một thế hệ mới hờ hững với
những vấn đề thức tiễn đang hình thành trong xã hội hiện nay.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để học sinh thực sự thấy yêu thích môn học,
có nhu cầu tự tìm hiểu và giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến môn hóa
học. Học là một lộ trình chứ không phải là điểm đến. Mỗi quan điểm của học sinh
là một điểm dừng tạm thời trên con đường nhận thức của các em. Điểm dừng phía
trước sẽ là nền tảng để có những điểm dừng tiếp theo. Nhiệm vụ của giáo viên là
làm thế nào để học sinh đi tới điểm dừng mới bằng chính đôi chân của các em. Để
làm được điều này chúng ta phải tạo ra một môi trường học tập mà trong đó học
sinh có cơ hội được trải nghiệm. Dạy học theo dự án là một trong những phương án
khả dĩ làm thay đổi phương pháp dạy học hiện nay. Dạy học theo dự án đưa bài học
thành những nhiệm vụ hoạt động cụ thể, học sinh chủ động tìm kiếm thông tin,
kiến thức liên quan để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Dạy học theo dự án sẽ:
 Thứ nhất: đáp ứng được yêu cầu của thời đại
 Thứ hai: giúp học sinh năng động, tự chủ tích cực trong việc chiếm
lĩnh tri thức
 Thứ ba: đưa kiến thức vào thực tế cuộc sống, nâng cao niềm đam mê
cho học sinh về môn hóa học
 Thứ tư: nâng cao khả năng sử dụng công nghệ thông tin của GV lẫn
HS
 Thứ năm: Các em học sinh được làm quen dần với những hình thức
hoạt động nhóm, thảo luận và phát triển kỹ năng hoạt động hợp tác


cứu chương V- Halogen và chương VI- oxi- lưu huỳnh, khối 11 tập trung nghiên

5
cứu chương II- nhóm Nito, chương III- nhóm Cacbon. Khối 12 tập trung nghiên
cứu chương IV- Polime, chương V- Đại cương về kim loại. Tôi sẽ xây dựng các dự
án hóa học tập trung ở các chương này và sẽ giao công việc cho học sinh trong thời
gian 1-2 tuần đề học sinh có thể hoàn thành dự án. Việc kiểm tra đánh giá công
việc của học sinh được kiểm tra thường xuyên và cuối khóa sẽ có một buổi các
nhóm trình bày sản phẩm.
4. Mẫu khảo sát
Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu ở cả 3 khối tại trường THPT Ngô Sĩ Liên-
Thành phố Bắc Giang, thực nghiệm trên phạm vi 5 lớp, sau đó sẽ đánh giá kết quả,
so sánh giữa 5 lớp trên với 4 lớp không được áp dụng hình thức dạy học dự án.
5. Vấn đề nghiên cứu
Hình thức dạy học dự án sẽ phát triển những năng lực gì ở học sinh?
Những dự án hóa học như thế nào thì sẽ giúp học sinh phát triển tính chủ
động tích cực trong học tập?
Triển khai dạy học theo dự án môn Hóa học ở phổ thông có những ưu,
nhược điểm nào?
Những tiêu chí để đánh giá sự phát triển năng lực của học sinh?
6. Giả thuyết khoa học
Nếu học sinh được trực tiếp nghiên cứu các dự án dạy học hóa học và tạo ra
các sản phẩm đạt chất lượng cao thì mỗi em học sinh phải chủ động tích cực hơn,
sáng tạo hơn và biết cách hợp tác để có hiệu quả dạy học cao hơn.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nghiên cứu phần cơ sở lí luận của dạy
học dự án.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: nghiên cứu thực trạng dạy học ở trường
phổ thông, điều tra chất lượng dạy học môn Hóa học ở trường phổ thông. Điều tra
các kỹ năng mà học sinh đạt được theo phương pháp dạy học trước đây.

thức thực tế.
Thứ ba: Phát triển khả năng nhìn nhận các vấn đề trên nhiều phương diện, tư
duy bậc cao và phát huy tính độc lập sáng tạo đồng thời tạo thói quen làm việc theo
nhóm. Rèn luyện các kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.

7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
1.1 Thực trạng dạy học Hóa học hiện nay
Giáo dục Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Mặc
dù đã có nhiều thay đổi trong chương trình và sách giáo khoa, song về cơ bản vẫn
là một nền giáo dục định hướng nội dung đã lỗi thời, chưa bắt kịp xu thế phát triển
của thời đại. Hậu quả là chất lượng giáo dục thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của
xã hội. Bên cạnh đó sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự hội nhập ngày càng sâu
rộng của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu cũng tạo ra những cơ hội phát triển
cho giáo dục nước nhà.
Phương pháp dạy học truyền thống theo lối truyền thụ một chiều đã ăn sâu
vào tiềm thức của đội ngũ giáo viên chúng ta, như một quán tính, một thói quen
khó sửa.
Bên cạnh đó, nền giáo dục của Việt Nam chỉ chú ý đến việc cung cấp cho
người học về khối lượng kiến thức nên dễ dẫn đến cách dạy và học nhồi nhét thụ
động, ít quan tâm đến cảm nhận, suy nghĩ, không bồi dưỡng được những năng lực
độc lập, chủ động sáng tạo, biết tìm tòi những tri thức mới của người học. Đó là
những năng lực rất cần thiết trong một nền kinh tế trí thức và xã hội tri thức.
Ngoài ra, cách thức kiểm tra, đánh giá như hiện nay thật sự là một rào cản cho
việc đổi mới phương pháp dạy và học. Thi thế nào thì dạy và học như thế ấy. Việc
đánh giá học sinh chỉ nhằm kiểm tra sự ghi nhớ, thuộc bài mà không chú trọng đến
tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia
nghiên cứu, thực nghiệm ứng dụng như hiện nay thì dĩ nhiên vẫn còn cách dạy học
“thầy đọc trò chép”.
Kinh tế của chúng ta đang được cải thiện, đời sống của người dân được nâng

mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá có nêu: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và
đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa
phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng
máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối internet với tất cả các cơ sở giáo
dục và đào tạo”. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đặt ra mục tiêu là: ứng dụng công

9
nghệ thông tin vào dạy học, coi công nghệ thông tin là hỗ trợ đắc lực nhất cho việc
đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học. “ Đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục” được Bộ Giáo
dục và Đào tạo chọn là chủ đề của năm học 2008-2009.
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho ngành
giáo dục hiện nay. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần X của Đảng đã chỉ rõ: “Đổi mới
phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người
học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi
nhét, học vẹt, học chay”
Trong đổi mới PPDH, việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS được đặc biệt
chú trọng. Điều 4- Luật giáo dục nước ta nêu rõ “ phương pháp giáo dục phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng
lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Tuy nhiên làm thế nào để biến
những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước thành thực tiễn cuộc sông?
1.3. Dạy học dự án
1.3.1. Khái niệm
Thuật ngữ Project: tiếng latinh = “projicere“ = phác thảo. Khái niệm Project
trong thực tiễn sản xuất được dùng với nghĩa là một dự án, đặc trưng của nó về cơ
bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án. Thuật ngữ dự án
(project) được hiểu là một đề án, dự thảo hay kế hoạch cần thực hiện để đạt mục
đích đặt ra. Khái niệm dự án được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu
khoa học cũng như trong quản lý xã hội và được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục –

tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú của cá nhân,
khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.
Giảng viên đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ.
- Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các dự án
được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công công việc giữa các thành
viên trong nhóm, rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các

11
thành viên tham gia, giữa giảng viên và học sinh cũng như các lực lượng xã hội
tham gia vào dự án.
1.3.2.2. Định hướng vào thực tiễn
- Gắn liền với hoàn cảnh: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống của thực tiễn
nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học.
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án gắn việc học tập trong nhà trường với
thực tiễn đời sống xã hội, địa phương, gắn với môi trường, mang lại tác động xã hội
tích cực.
- Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành: Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở
rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực
tiễn của người học.
- Dự án mang nội dung tích hợp: Kết hợp tri thức của nhiều môn học hay lĩnh
vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
1.3.2.3. Thời gian thực hiện dự án kéo dài
Không chỉ là 45 phút trên lớp mà có thể kéo dài hàng tuần, hàng tháng, thậm
chỉ cả năm.
1.3.2.4. Tích hợp công nghệ thông tin
Để hoàn thành dự án đòi hỏi người học có những kỹ năng về công nghệ thông
tin và truyền thông nhằm thu thập, lưu giữ, xử lý số liệu cũng như tạo các bài trình
diễn, trang web, báo tường, vv
1.3.2.5. Định hướng vào sản phẩm
Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà

Để thực hiện tốt phương pháp dạy học dự án thì bản thân mỗi giáo viên phải
chuẩn bị một kế hoạch dạy học thật cụ thể và chi tiết. Bản kế hoạc dạy học đó phải
chỉ rõ cho học sinh những điều sau:
+ Chủ đề của dự án?

13
+ Mục đích của dự án?
+ Nội dung chính của dự án?
+ Kế hoạch thực hiện dự án
+ Tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án
+ Hỗ trợ và cung cấp nguồn tài liệu cho học sinh
• Các chuyên gia trong cộng đồng
• Kịch bản dự án
• Một phiếu tự đánh giá chung của HS
• Chiến lược phân nhóm hợp tác
Từng bước một, chúng ta sẽ thấy được lợi ích của dạy học theo dự án và việc
chuyển sang phương pháp dự án sẽ được phát triển theo thời gian, mở ra nhiều ý
tưởng lớn hơn, những thiết kế tốt hơn.
Bảng 1.1: Phân loại dự án theo nhiệm vụ và hình thức sản phẩm
Loại dự án
Nhiệm vụ cần thực hiện
Sản phẩm tạo ra
Học thông qua
việc phục vụ
cộng đồng

Những dự án này thường gắn với cộng
đồng địa phương và cho phép học sinh
áp dụng bài học trong lớp học vào tình
huống thực tế.

thực tế hay có thể được tạo nên bởi
chuỗi sự kiện đáng tin cậy. Các dự án
này đòi hỏi học sinh phải xây dựng
được mô hình thực sự hay lập kế
hoạch đề xuất giải pháp cho các vấn
đề thực tế
Một bản thiết kế
Mô hình
Một triển lãm
Một bảng quảng cáo
Một bức tranh
Một bản nhạc
Một bài thơ
Giải quyết vấn
đề

Có một số dự án yêu cầu học sinh đề
xuất giải pháp cho các vấn đề thực tế.
Các dự án này có thể gồm các chuỗi
sự kiện đáng tin cậy hay những vấn đề
đang tranh cãi trên thực tế. Có thể là
những vấn đề của lớp học hay trong
nhà trường như thiết kế sân chơi, vấn
đề của cộng đồng như bảo tồn đầm
lầy, hay vấn đề lớn hơn như sự nóng
lên của trái đất.
Một bản báo cáo
Một bản kiến nghị
thuyết phục
Một bài báo

“Học theo dự án” tạo ra nhiều cơ hội học tập liên ngành. Học sinh áp dụng
và kết hợp nội dung các lĩnh vực, chủ đề khác nhau vào những thời điểm xác thực
trong quá trình học tập thay vì trong một môi trường tách biệt và nhân tạo. Hầu
hết những vấn đề của thế giới thực đều mang tính cố hữu, liên ngành. Điều đó cho
thấy giá trị của cách dạy giải quyết vấn đề trong bối cảnh liên ngành và cung cấp
cho học sinh những công cụ hỗ trợ liên ngành để giải quyết vấn đề. Trong các lớp
học “học theo dự án”, các dự án thường được thực hiện bởi các nhóm nhỏ học
viên trong lớp, đôi khi cả lớp và đôi khi bởi cá nhân một học viên. Mục tiêu chính
của dự án là để tìm câu trả lời về chủ đề do học sinh, giáo viên hoặc giáo viên
cùng học sinh đặt ra. Khi học sinh nhận được bài tập hoặc những thông tin chi tiết
về dự án của mình, các học sinh sẽ quyết định cách thức giải quyết những vấn đề
được đưa ra.
Để có thể hoàn thành tốt các dự án được giao, học sinh thay vì ngồi học thụ
động với chỉ một quyển sách trước mặt học sinh sẽ phải xây dựng cho mình một
chiến lược hoạt động riêng cho bản thân và cho nhóm. Bản kế hoạch hoạt động của
học sinh sẽ bao gồm:
+ Xác định mục đích chính của dự án
+ Lập kế hoạch cụ thể các công việc cần làm
+ Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên của nhóm
+ Tìm kiếm các thông tin về dự án
+ Cùng nhau trao đổi và đưa ra cách giải quyết hợp lí
1.3.4. Các giai đoạn của dạy học dự án
Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
Giảng viên và sinh viên cùng đề xuất, xác định đề tài và mục đích dự án, chú ý
đến việc liên hệ hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống, chú ý đến hứng thú người
học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài.
Cũng có thể do sinh viên đề xuất. 16

- Bảng tự đánh giá giúp HS hiểu được kết quả mục tiêu, quản lí được quá trình
học tập
• Việc tự đánh giá sẽ giúp phát triển siêu nhận thức cũng như tư duy sâu hơn
trong học tập
• Việc đánh giá chất lượng sản phẩm và hoạt động sẽ do bạn học và giáo viên
tiến hành.
Mục đích của việc đánh giá:
Mục đích đầu tiên của việc đánh giá trong lớp học hiện nay là thúc đẩy việc
học và cải tiến việc dạy. Đánh giá không phải là hoạt động đơn lẻ, trái lại, nó là một
quá trình diễn ra liên tục trong suốt dự án. Đánh giá liên tục và định kỳ là khâu cốt
yếu của huấn luyện theo dự án, có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp HS thể hiện
được những gì đã học bằng nhiều cách khác nhau. Đánh giá trở thành một công cụ
giúp cho việc cải thiện hơn là bài kiểm tra độ thông minh hay là sự tích lũy các sự
kiện. Nhờ đánh giá định kỳ thông qua các hướng dẫn trong bài học, giáo viên biết
nhiều hơn về nhu cầu của học sinh cũng như có thể điều chỉnh việc giảng huấn
nhằm giúp HS đạt kết quả tốt hơn. Để triển khai thành công các chiến lược dạy học
này, việc đánh giá nên tập trung vào mục đích cụ thể như:
• Đánh giá HS hướng đến các mục tiêu học tập như thế nào?
• Đánh giá HS sử dụng những kĩ năng tư duy nào ?
• Đánh giá HS về mức độ nâng cao được khả năng tự quản lý, tư duy sâu để
học tốt hơn
• Đánh giá HS về tích hợp và sử dụng thông tin mới hiệu quả đến mức nào
• Đánh giá HS về động cơ học tập
• Đánh giá hiệu quả của các hoạt động can thiệp đặc biệt
• Đánh giá các chiến lược dạy học - có cần phải thay đổi ?
Trong đánh giá dựa trên việc lấy HS làm trung tâm, được tham gia nhiều hơn
vào các quá trình đánh giá, cần thêm nhiều cơ hội để học tập và thực hành hơn. Khi

18
tham gia vào quá trình đánh giá ở mức độ này, học sinh sẽ được khích lệ, kiểm soát

học sinh
Đề ra tiêu chí đánh giá
(tự đánh giá, đánh giá của
nhóm khác, giáo viên đánh giá)

Sản phẩm dự án
Kết quả là sự phát triển các
năng lực của học sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status