1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ PHƢƠNG HOA TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ
KIẾN THỨC CHƢƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM”
SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÍ 10 NÂNG CAO
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
( bộ môn Vật lí )
Mã số : 601410
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Đỗ Hƣơng Trà HÀ NỘI - 2012 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
10.
NXB
Nhà xuất bản
11.
SGK
Sách giáo khoa
12.
TN
Thực nghiệm
13.
TS
Tiến sĩ
14.
THPT
Trung học phổ thông
15.
THCS
Trung học cơ sở
1.1. Quan điểm hiện đại về dạy học
8
1.1. Bản chất của hoạt động dạy
8
1.1.2. Bản chất của hoạt động học
9
1.1.3.Mối quan hệ giữa dạy và học
10
1.1.4. Các biểu hiện của tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh
trong học tập
12
1.1.4.1. Tính tích cực học tập
12
1.1.4.2. Năng lực sáng tạo:
12
1.2. Dạy học dự án
14
1.2.1. Khái niệm dạy học dự án
15
1.2.2 .Đặc điểm của dạy học dự án
16
1.2.3. Phân loại dự án
17
1.2.4. Yêu cầu của dạy học dự án
18
1.2.5. Tiến trình dạy học dự án
23
39
2.1.4. Tìm hiểu tình hình dạy học và tổ chức hoạt động ngoại khoá chương
“Động lực học chất điểm”………………………………………………….
41
2.1.4.1. Phương pháp điều tra
41
2.1.4.2. Kết quả thu được
42
2.1.4.3. Nguyên nhân và đề xuất giải pháp
42
2.2. Thiết kế dự án khi vận dụng kiến thức học chương “Động lực học
chất điểm”………………………………………………………………….
46
2.2.1. Dự án 1: “Chế tạo lực kế ’’…………………………………………
48
2.2.2.Dự án 2:“Tuyên truyền về nguyên nhân, hậu quả và cách phòng
tránh một số tai nạn giao thông”
50
2.2.3.Kế hoạch triển khai dạy học dự án qua hoạt động ngoại khóa…………
53
2.2.4. Các tài liệu hỗ trợ thực hiện dự án ………………………….………
55
2.2.5.Tiêu chí đánh giá dự án………………………………………………
58
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
67
92
1. Kết luận
92
2. Khuyến nghị
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
95
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Viễn cảnh sôi động, tươi đẹp nhưng cũng nhiều thách thức, đòi hỏi ngành Giáo
dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ về mọi mặt.
Trong đó, đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học và phương tiện
dạy học. Theo nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành
nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên
tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời
gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”.
Định hướng trên đây đã được pháp chế trong luật giáo dục điều 24.2 “Phương
pháp giáo d ục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng t ạo
của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, tác đ ộng đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh”. [1] (Luật giáo d ục năm 2005).
học. Mặt khác, dạy học dự án thông qua các hoạt động ngoại khoá vật lý được tổ
chức tốt còn làm tăng niềm yêu thích, hứng thú học tập môn vật lý, phát triển
toàn diện nhân cách học sinh. Bên cạnh đó, hoạt động ngoại khoá, các sinh hoạt
đội nhóm bộ môn cũng là những hoạt động giáo dục cần thiết trong trường phổ
thông và rất cần được nghiên cứu tìm hiểu thêm về lý luận để có thể vận dụng tốt
nhất vào thực tế.
3
Vì những lý do trên mà tôi chọn nghiên cứu đề tài :Tổ chức dạy học dự án
trong dạy học một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” SGK Vật lí
10 nâng cao.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học dự án (hay dạy học theo dự án, dạy học tiếp cận dự án) xuất hiện từ
khá sớm. Từ thế kỷ XIX, trên thế giới, dạy học dự án đã được vận dụng dưới
nhiều hình thức khác nhau.
Tại Việt Nam, từ những đòi hỏi mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạy học,
dạy học dự án đã được nghiên cứu, phổ biến để đưa vào vận dụng trong thực tế
dạy và học. Năm 2004, dạy học dự án đã được bồi dưỡng cho giáo viên và tiến
hành thí điểm bằng việc đưa công nghệ thông tin vào dạy học thông qua chương
trình “Dạy học hướng tới tương lai”. Chương trình này được sự hỗ trợ của Intel
nhằm giúp các giáo viên khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm hiệu quả
thông qua việc hướng dẫn họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như
thúc đẩy kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và kỹ năng hợp tác đối với
học sinh. Chương trình này đã tạo ra những sự thay đổi tích cực trong thực tiễn
dạy học và cả trong quản lý dạy học ở các trường phổ thông tại Việt Nam.
Bên cạnh chương trình của Intel, dạy học dự án cũng xuất hiện trong
chương trình “Partner in learning” của Microsoft. Chương trình này không chỉ
đào tạo, bồi dưỡng phương pháp dạy học dự án kết hợp sử dụng công nghệ thông
tin mà còn tổ chức cuộc thi “Giáo viên sáng tạo” thu hút sự tham gia của khá
nhiều giáo viên trên cả nước với nhiều bài học vận dụng dạy học dự án rất hiệu
các giờ học chính khoá còn hạn chế. Nói cách khác, các công trình nghiên cứu
tìm hiểu để tổ chức dạy học dự án qua việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá
dành cho những học sinh yêu thích học tập, tìm hiểu vật lý còn chưa nhiều. Đây
có thể là một hướng đi thích hợp để vận dụng linh hoạt cơ sở lí luận của dạy học
dự án vào thực tế trường phổ thông ở Việt Nam, đồng thời thực hiện được chủ
trương của đổi mới giáo dục hiện nay: đa dạng các hình thức dạy học, tăng
cường công tác giáo dục học sinh qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khóa cho học sinh khi dạy học
nội dung các kiến thức chương “ Động lực học chất điểm ” Vật lí lớp 10 nâng
cao, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh khi giải
quyết các vấn đề trong bài học và trong thực tiễn cuộc sống.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức chương “Động lực học chất điểm” lớp 10 nâng cao.
- Các hoạt động học và hoạt động tổ chức, hướng dẫn hoạt động ngoại khoá
của giáo viên trường THPT Ngô Thì Nhậm - Ninh Bình.
5. Mẫu khảo sát
- Học sinh khối 10 (10A, 10B, 10C, 10D, 10E) trường THPT Ngô Thì
Nhậm - Ninh Bình .
6.Vấn đề nghiên cứu
Tổ chức dạy học dự án kiến thức chương “Động lực học chất điểm ”như
thế nào để có thể phát huy tính tích cực , chủ động và sáng tạo của học sinh trong
học tập.
6
7. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng cơ sở lí luận của dạy học dự án để tổ chức hoạt động ngoại
khoá cho học sinh khi dạy học nội dung kiến thức chương “ Động lực học chất
điểm ” Vật lí lớp 10 nâng cao thì sẽ giúp học sinh vận dụng được các kiến thức
Vật lí vào đời sống thực tiễn, phát huy tính tích cực chủ động và phát triển năng
- Các bài kiểm tra của học sinh .
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận.
Chương 2: Tổ chức dạy học dự án trong dạy học một số kiến thức chương
“Động lực học chất điểm” SGK vật lí lớp 10 nâng cao.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
8
Chƣơng I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN
1.1. Quan điểm hiện đại về dạy học
1.1.1. Bản chất của hoạt động dạy
“Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức và điều khiển hoạt
động của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hoá – xã hội, tạo ra sự phát triển
tâm lý, hình thành nhân cách của chúng” [6].
Trong phương pháp dạy học tích cực, người thầy là chủ thể của hoạt động
dạy, giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình dạy học. Người thầy không còn đóng vai
trò là người truyền đạt kiến thức mà là người thiết kế, tổ chức, điều khiển hoạt
động học để học trò có thể tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các
mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình, đồng thời
phát triển tâm lí và hình thành nhân cách.
Như vậy bản chất của hoạt động dạy là tổ chức hoạt động nhận thức cho
học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí. Muốn tạo ra được tính tích cực trong
hoạt động của học sinh thì người thầy phải có khả năng tổ chức và điều khiển
hoạt động học. Phải làm sao cho các em vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội,
vững, có thể quan sát được, bao gồm các hành động thể lực và trí tuệ của họ. [8]
Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại. Tri thức đã được các nhà
khoa học tìm hiểu trước và để tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là
phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, ). Do đó, hoạt động học
làm thay đổi chính người học. Đây là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh và
10
giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học
trong lứa tuổi này.
Như vậy, học sinh là chủ thể của hoạt động học, giữ vai trò tích cực, tự
chủ, sáng tạo, sự tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình. Học
tập không chỉ diễn ra trong nhà trường mà còn diễn ra mọi nơi nên học sinh có
thể học bằng nhiều cách khác nhau. Để trở thành một người học tốt, người học
cần rèn luyện những đặc điểm sau:
- Người học phải luôn có nhu cầu và động lực sáng tạo, luôn ý thức vấn đề
đó là của chính bản thân mình. Điều này sẽ kích thích niềm hứng thú, đam mê
của học sinh, phải tự mình giải quyết được các vấn đề bằng cách tự tìm hiểu, hỏi
thầy cô giáo, hoặc người có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, biết sử dụng tri thức
có sẵn để tạo bước nhảy giúp họ nhìn mọi việc theo cách mới.
- Người học luôn để ý quan sát, tìm hiểu, học hỏi ở mọi lúc, mọi nơi.
- Người học cần có tinh thần độc lập. Đây là bản lĩnh khi giải quyết một
vấn đề, nhìn nhận sự việc trong các mối quan hệ vốn có của nó.
1.1.3. Mối quan hệ giữa dạy và học
Quan điểm của Vưgotxky L.X (1896-1934) và nhiều nhà giáo dục đương
thời, dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động của
HS. Dạy và học là hai hoạt động có cấu trúc khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ,
thống nhất biện chứng với nhau, thực hiện đồng thời với cùng một nội dung và
hướng tới cùng một mục đích. Sự thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động
học có thể hiện ở nội dung, chương trình, kế hoạch, phương tiện dạy học.
Trong quá trình tương tác đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy, HS là chủ
Sơ đồ 1.1. Hệ tương tác của hoạt động dạy và hoạt động học [3]
Giáo
viên
Học
sinh
Tư liệu hoạt động dạy học
12
Giáo viên đóng vai trò định hướng hoạt động của HS thông qua việc tổ
chức các tư liệu hoạt động dạy học để cung cấp tư liệu, tạo tình huống cho HS
đồng thời cung cấp cả những thông tin liên hệ ngược từ phía HS cho GV. Hoạt
động học của HS với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của HS với tình
huống học tập đồng thòi xây dựng tri thức cho bản thân. Và chính sự thích ứng
này tạo ra mối quan hệ ngược trở lại GV để GV có thể điều chỉnh, bổ sung tư
liệu hoạt động dạy học.
Tương tác trực tiếp của HS với nhau và giữa HS với GV là sự trao đổi,
tranh luận giữa các cá nhân và nhờ đó từng cá nhân HS tranh thủ sự hỗ trợ từ phía
GV và tập thể HS trong quá trình chiếm lĩnh, xây dựng tri thức của bản thân. Mối
quan hệ giữa dạy và học thể hiện rất rõ qua các hình thức mà GV tổ chức cho HS.
1.1.4. Các biểu hiện của tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong
học tập
1.1.4.1. Tính tích cực học tập
“Theo quan điểm triết học tính tích cực nhận thức thể hiện thái độ cải tạo của
chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức. Theo tâm lý học tính tích cực
nhận thức được hiểu là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự
huy động ở mức độ cao của các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề
học tập nhận thức” [16].
Như vậy, tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố
triển năng lực cho các HS có các phong cách học tập khác nhau. Đó là:
+ Giai đoạn nhập dữ liệu qua nghe, nhìn, đọc.
+ Giai đoạn xử lí dữ liệu thông qua bộ não.
+ Giai đoạn xuất dữ liệu qua nói, viết, thực hiện các hoạt động ngôn ngữ.
14
Như vậy tính tích cực nhận thức của học sinh là yếu tố không thể thiếu
trong hoạt động dạy của người thầy, học sinh có tích cực nhận thức thì mới có
thể tự mình chiếm lĩnh các tri thức và phát triển toàn diện được. Do đó, phát huy
tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh là một trong các biện pháp
không thể thiếu của người thầy trong quá trình dạy học.
1.1.4.2. Năng lực sáng tạo
“Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh
thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” ( Sáng tạo. Bách
khoa toàn thư Liên Xô. Tập 42, trang 54 ).
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh
thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những
hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới [11].
Như vậy, sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng
cách suy luận logic hay bắt chước làm theo.
Biểu hiện của năng lực sáng tạo trong dạy học:
+Từ những kinh nghiệm thực tế, từ những kiến thức đã có học sinh đưa ra
được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm, đưa ra nhiều cách chế
tạo khác nhau hay đề xuất được những sáng kiến kĩ thuật để dụng cụ bền, đẹp hơn.
+Vận dụng được kiến thức lí thuyết vào thực tế một cách linh hoạt như
giảỉ thích một số hiện tượng vật lí, giải thích nguyên tắc hoạt động và một số ứng
dụng kĩ thuật liên quan đến các dụng cụ.
Để phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
thì tổ chức dạy học dự án có rất nhiều ưu điểm.
1.2. Dạy học dự án
16
trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động
nhất định.
1.2.2. Đặc điểm của dạy học dự án
* Định hướng vào học sinh
Chú ý đến hứng thú của người học, tính tự lực cao: Học sinh là trung tâm
của quá trình dạy học, được trực tiếp tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù
hợp khả năng và hứng thú của cá nhân, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính
trách nhiệm sự sáng tạo của người học. Giáo viên đóng vai trò là người tư vấn,
hướng dẫn và giúp đỡ.
Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các dự án
được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công giữa các thành viên trong
nhóm, rèn kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia vào dự án.
* Định hướng vào thực tiễn
Gắn liền với hoàn cảnh: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống của thực
tiễn nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học.
Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án gắn việc học tập trong nhà trường
với thực tiễn đời sống xã hội, địa phương, gắn với môi trường, mang lại tác động
xã hội tích cực.
Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành: Thông qua đó, người học kiểm tra,
củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động,
kinh nghiệm thực tiễn.
Dự án mang nội dung tích hợp: Kết hợp tri thức của nhiều môn học hay
lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
* Định hướng vào sản phẩm
Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trong những thu hoạch lý
thuyết, mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành.
Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.
Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi sử dụng loại dự án theo nhóm và là
dự án trung bình dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Để dạy học dự án đạt hiệu quả
thì giáo viên phải chú ý đến những yêu cầu riêng của phương pháp dạy học này.
1.2.4. Yêu cầu của dạy học dự án
Trong dạy học dự án, nếu hoạt động dạy học được giáo viên thiết kế cẩn
thận sẽ lôi cuốn học sinh vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao. Các
nhiệm vụ của dự án kích thích khả năng ra quyết định, niềm cảm hứng, say mê
của học sinh trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng. Học sinh
lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoàn
thành các nhiệm vụ của dự án. Giáo viên giữ vai trò người hỗ trợ hay hướng dẫn.
Học sinh hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá
nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau.
* Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các
chuẩn kiến thức, kĩ năng và tập trung vào những hiểu biết của học sinh sau quá
trình học. Từ việc định hướng vào mục tiêu, giáo viên sẽ lựa chọn hình thức dạy
học phù hợp, lập kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học. Kết
quả của dự án được thể hiện kết tinh trong sản phẩm của học sinh và quá trình
thực hiện nhiệm vụ, ví dụ phần thuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông
tin thể hiện sự lĩnh hội các chuẩn nội dung và mục tiêu dạy học.
* Trong dạy học dự án cần phải xác định được bộ câu hỏi định hướng. Câu
hỏi định hướng sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng
tâm, chú trọng đến các chủ đề quan trọng, đồng thời hướng học sinh đến những
kĩ năng tư duy ở mức độ cao hơn và đảm bảo các dự án của học sinh có tính hấp
dẫn, thuyết phục. Học sinh được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi
19
mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn. Học sinh sẽ buộc phải tư
duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu.
Có ba dạng câu hỏi định hướng: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu
hỏi nội dung.
duy, cho ý kiến đánh giá về nội dung và hỗ trợ tạo ra sản phẩm cuối. Với sự trợ
giúp của công nghệ, học sinh có thể vươn ra khỏi 4 bức tường lớp học bằng cách
cộng tác với các lớp học từ xa qua email và các trang web tự tạo, hoặc trình bày
việc học của mình qua các bài trình bày đa phương tiện.
* Kỹ năng tư duy là không thể thiếu trong học tập theo dự án: Học tập
theo dự án sẽ hỗ trợ phát triển cả kỹ năng tư duy siêu nhận thức lẫn tư duy nhận
thức như hợp tác, tự giám sát, phân tích dữ liệu, và đánh giá thông tin. Trong
suốt quá trình thực hiện dự án, các câu hỏi định hướng sẽ kích thích học sinh tư
duy và liên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn cao.
Muốn làm được điều đó, học sinh sẽ lập bản đồ tư duy dựa trên phương
pháp Mind Map. Đây là phương pháp được Tony Buzan ( người Anh ) triển khai
vào thập niên 1960 là một phương pháp hiệu quả sử dụng việc ghi chép và tạo ra
các ý tưởng bằng các liên kết. [24]
Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con
số. Cách ghi chép này mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái, mà chưa
hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về
nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác, chúng ta vẫn
thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông
tin. Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan
đã đưa ra Bản đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này.